Văn hóa – Di sản

Bùi Huy Bích - tác giả Hoàng Việt Thi Văn Tuyển

Nguyễn Vinh Phúc 26/11/2023 17:36

Sử Cương mục, chính biên XIV, trong phần Cương có chép: “Tháng 6 bổ sung Hoàng Đình Bảo giữ chức trấn thủ Nghệ An, Bùi Huy Bích làm Đốc đồng”. Tiếp đó có lời chú: “Bùi Huy Bích người xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu đời Cảnh Hưng”...

hoang-viet-thi-van-tuyen.jpg
Sách Hoàng Việt Thi Văn Tuyển.

Xã Thịnh Liệt, tên nôm là làng Sét đã từng nổi tiếng về một đặc sản cá rô. Từ thế kỉ XV, Nguyễn Trãi đã ghi trong Dư địa chí: “Xã Thịnh Liệt có cá rô”. Ngạn ngữ cũng có câu: “... nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét”. Tốt đất cò đậu. Làng Sét với nguồn lợi đó có sức hấp dẫn lớn. Người các làng xung quanh thường kéo đến ngụ cư. Chính dòng họ Bùi Huy Bích cũng là từ thôn Hạ, xã Định Công dời sang sinh sống ở Thịnh Liệt đúng vào khoảng thời gian mà Nguyễn Trãi soạn Dư địa chí. Gọi là làng Sét, là xã Thịnh Liệt nhưng thực ra là có tới tám làng mang tên tám giáp, từ Giáp Nhất đến Giáp Bát. Ngày nay chỉ còn sáu giáp, mất Giáp Tam và Giáp Ngũ, một câu chuyện cổ cho biết là hai giáp này đã bị hoà lẫn vào Giáp Tứ và Giáp Lục từ đời Minh Mạng.

Thân phụ của Bùi Huy Bích tên là Dụng Tân, hiệu là Trúc Viên, chỉ là một thầy đồ nghèo.

Bích thuở nhỏ thể chất yếu đuối, rất ít nói. Năm lên tám mẹ mất, Bích cùng với chị và em được cha đem theo xuống Hải Dương, ở tại làng An Lâu huyện Thanh Miện, là nơi ông Trúc Viên ngồi dạy học. Đến năm Bích 17 tuổi, cha thấy rằng cần gửi con đến học ở người cao đạo hơn, và thế là cậu được về làng quê để theo học với ông nghè làng Linh Đường cùng huyện Thanh Trì là Nguyễn Bá Trữ. Học được hai năm, Huy Bích được thầy cho đi dự thi Hương. Đó là khoa thi năm Nhâm Ngọ đời Cảnh Hưng thứ 23 (1762) và Huy Bích đã đỗ Hương cống. Năm sau cậu dự thi Hội nhưng không trúng cách. Ông Trữ khuyên cậu đến học thêm ở trường ông Bảng nhãn Lê Quý Đôn mở tại kinh thành. Mộ tiếng ông Bảng rồi mới học, chứ Bùi Huy Bích không thiết tha với khoa cử, vì bấy giờ chúa Trịnh bắt nạt vua Lê quá sức. Điều này làm thương tổn đến tư tưởng chính thống tôn quân của nho sĩ. Song, cụ Trúc Viên đã từ Hải Dương lên nghe con bày tỏ ý kiến. Cụ khuyên:

- Ta đã già rồi, đi dạy ở xa quá mệt mỏi. Chỉ mong con đi thi, may ra đỗ thì ta sẽ về quê nghỉ ngơi, còn việc đời sau này sẽ liệu.

Huy Bích chiều lòng cha. Khoa ấy ông đỗ Đình nguyên Hoàng giáp. Đó là mùa thu năm Kỷ Sửu 1769, ông tròn 25 tuổi.

Từ đây trở đi người ta sẽ gọi ông bằng nhiều tên: Hy Chương, Tồn Ông, Tồn Am... vì đó là những tên tự và tên hiệu của ông.

Sau khi đỗ, ông được trao chức Hàn lâm viện hiệu lý. Đời Lê, Hàn lâm viện là cơ quan soạn thảo các chiếu chỉ, chế, cáo, thơ, phú cho vua. Có khá nhiều cấp bậc: kiểm thảo, tu soạn là những người soạn đầu tiên; hiệu lý, đãi chế là những người sửa chữa gọt rũa, rồi nào là Thị thư, Thị giảng, Thị độc... Cao nhất là chức Thừa chỉ. Dầu sao đó cũng là những chức quan nhàn rảnh. Năm sau được thăng lên Đãi chế, rồi tiếp đó được chuyển lên làm thiêm sai Hộ phiên. Đây là một trong sáu phiên họp thành phủ chúa, quán xuyến công việc bên sáu bộ bên triều đình. Hộ phiên giữ việc ruộng đất, kho tàng, lương tiền, thu phát, thuế má... Và chức thiêm sai thì phụ trách việc tra xét lại các vụ kiện của phiên sở thuộc. Huy Bích do liêm chính, ngay thẳng nên làm được việc, và do đó bảy năm sau, vào năm 1777, ông được cử vào trấn giữ chức Đốc đồng trấn Nghệ An. Thời Lê mạt, Đốc đồng chuyên trách việc án từ kiện tụng. Năm sau ông 38 tuổi, được Trịnh Sâm triệu về trao cho chức Bồi tụng, chức đứng hàng thứ hai trong phủ chúa sau Tham tụng, thế mà ông đã đệ khải văn xin từ chức, lấy cớ là ốm yếu, nhưng thực chất ông đã tiên đoán được sự suy sụp của họ Trịnh, cho nên về làm Bồi tụng tức là gánh bao trách nhiệm mà rồi kết quả e chẳng hơn gì dã tràng se cát.

Song ý kiến của ông không được chúa chấp nhận và thế là ông phải trở về Thăng Long dự phần trong chính phủ.

Bấy giờ Trịnh Sâm đang mê một cô phi thứ tư là Đặng Thị Huệ. Huệ sinh được một trai là Trịnh Cán. Năm mà Bùi Huy Bích về kinh đô làm Bồi tụng (1782), Cán mới lên năm tuổi và thường quặt quẹo ốm yếu, thế mà Sâm định cho Cán nối ngôi, vì vậy con trai lớn của Sâm (mẹ chính là Dương Ngọc Hoan người Nghệ An) tên là Tông (hoặc Khải) tuy đã 19 tuổi không được lập làm thế tử. Để tranh ngôi thế tử cho Cán, Đặng Thị Huệ hết sức gây dựng bè cánh. Bùi Huy Bích thấy cơ sự đó biết ngay là cái mầm của loạn lạc đã giâm ươm. Ông muốn can ngăn Sâm nhưng chưa có dịp. Chợt tháng 4, cả kinh thành và vùng tây nam có động đất. Sâm xuống lệnh chỉ cầu lời nói thẳng để biết cách sửa lỗi cho nguôi cơn giận của trời (ngày trước do không giải thích được các nguyên nhân của thiên tai nên quy chung là do trời không hài lòng về các vua chúa đang cầm quyền). Bùi Huy Bích liền dâng một khải văn, trong đó có đoạn nói: “Tôi cúi mong vương thượng đem lòng sáng suốt tự xét mình, tìm rộng đến lời dạy bảo của thời xưa, ví như sách Luận ngữ đã từng có dạy “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”... Sâm đọc đi đọc lại hai ba lần rồi tủm tỉm cười nói: “Cái câu quân thần phụ tử là có ý khuyên ta đây”... Sâm có hẹn Bùi Huy Bích tới Tả Xuyên đường để cho Sâm hỏi chuyện. Nhưng không làm gì có ngày ấy được, vì sau đó Sâm ốm và năm tháng sau Sâm chết (tháng 9 năm Nhâm Dần 1782). Cán được nối ngôi chúa nhưng thực quyền thì nằm trong tay Đặng Thị Huệ và Hoàng Đình Bảo, người nắm binh quyền. Hơn một tháng sau, quân tam phủ nổi loạn hạ Trịnh Cán, lập Trịnh Tông. Sang tháng chạp, Tông cách chức Tham tụng của Phan Lê Phiên vì là cánh của Đặng Thị Huệ và ra giêng năm sau Bùi Huy Bích được cử quyền chức này, gọi là Hành tham tụng. Trịnh Tông hy vọng Bùi Huy Bích sẽ ổn định lại trật tự, nhất là hạn chế được sự lăng loàn của quân tam phủ. Nhưng thời cuộc nát như tương ấy thì sao mà cứu vãn được. Cho nên đến tháng 7, Trịnh Khải cử Nguyễn Khản (anh cả của Nguyễn Du) làm Tham tụng, nhưng không xoay chuyển được tình thế. Năm sau vào tháng Giêng, chính quân tam phủ lại nổi loạn làm Trịnh Tông cuống cuồng. Chúng tìm giết Nguyễn Khản, may mà ông chạy trốn lên Sơn Tây mới thoát.

Tháng 4, Tông lại vời Bùi Huy Bích ra làm Tham tụng nhưng ông một mực từ chối, xin về an dưỡng tại nhà riêng ở phường Bích Câu.

Năm sau (1786), Tây Sơn ra Bắc lần thứ nhất: Tháng 6, Tây Sơn đánh tới Thăng Long, Trịnh Tông cắt Bùi Huy Bích vào chân đốc chiến tức là đôn đốc quân sĩ chiến đấu. Bùi Huy Bích định đến bến đò Thuý Ái để phối hợp với Hoàng Phùng Cơ chỉ huy thuỷ quân, nhưng chưa đi đến nơi thì đoàn quân này đã tan vỡ, và trong chốc lát, quân Tây Sơn đã vào Thăng Long. Trịnh Tông chạy trốn, về sau bị bắt rồi tự tử. Sau khi lập Lê Chiêu Thống lên ngôi vua thay Cảnh Hưng (cũng vừa chết già), Tây Sơn về Nam. Chiêu Thống vời Bùi Huy Bích ra, phong cho làm Bình chương sự kiêm Tham tụng, nhưng Bùi Huy Bích xin từ. Tiếp đó Trịnh Bồng, Trịnh Lệ rồi lại cả Nguyễn Hữu Chỉnh thay nhau cầm quyền khống chế Chiêu Thống. Tây Sơn phải ra Bắc lần thứ hai để dẹp bọn này, đó là vào tháng chạp năm Mậu Thân (1788). Chiêu Thống chạy sang cầu cứu Mãn Thanh. Nguyễn Huệ, lúc này đã là vua Quang Trung, phải từ Phú Xuân đem quân ra Bắc chống bọn xâm lăng. Sau khi quét sạch bọn giặc ngoại xâm, Quang Trung cho vời các quan lại cũ của nhà Lê ra làm việc. Nhiều người có cái nhìn tiến bộ như Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn... đã theo gương Ngô Thì Nhậm ra phục vụ triều đại mới. Chỉ có những người cố chấp mới quay lưng lại. Trong số đó có Bùi Huy Bích. Ông trốn lên trú tại Thạch Thất (Sơn Tây) có tới sáu năm, rồi về Thanh Miện (Hải Dương) sống 5 năm nữa. Đầu năm 1800, ông mới về quê Thịnh Liệt, năm sau Tây Sơn bị bại, Nguyễn Ánh ra Bắc, nhưng Bùi Huy Bích cũng không nhận làm quan với nhà Nguyễn, chịu sống trong túng thiếu cho tới năm 1818 thì từ giã cuộc đời, thọ 75 tuổi.

Bùi Huy Bích viết nhiều. Thơ có ba bộ: Bích Câu thi tập, Nghệ An thi tập, Thoái Hiên thi tập. Bích Câu chia ra tiền tập (gồm những sáng tác khi mới ra làm quan trú tại phường Bích Câu) và hạ tập gồm những bài thơ làm trong thời gian trở về kinh đô giữ các chức Bồi tụng, Tham tụng... Nghệ An cũng gồm hai tập là những bài sáng tác khi làm Đốc đồng trấn đó. Thoái Hiên gồm ba tập là những bài làm trong thời gian giải chức về quê hoặc đi lánh tại Sơn Tây, Hải Dương. Cả thảy tất cả là 681 bài thơ, gọi gộp là Tồn Am thi cảo. Về văn, Bùi Huy Bích có Lữ trung tạp thuyết, chia ra thượng hạ hai tập, là một bộ tuỳ bút viết trong những năm tháng trú ngụ ở Sơn Tây, gồm nhiều bài bàn về văn nghệ, triết học, lịch sử, đạo đức... Cạnh đó các tấu khải trung văn thư trát, và văn biền ngẫu cũng được gom lại thành Tồn Am văn cảo gồm ba phần: Tản ngữ, Thư trát, Lệ ngữ. Những tác phẩm này phần nào nói lên được tâm hồn và tư tưởng của ông. Điều dễ thấy là ở ông có một tình yêu thiên nhiên mà cụ thể hơn là thiên nhiên của làng quê Thăng Long, của nông thôn Việt Nam. Những cảnh vật bình thường mà đôi khi ta không chú ý tới đã đi vào thơ Tồn Am. Con trâu già, lò nấu mật, luống rau cải, hàng cau, cành tre, mảnh hồ Tú Uyên, dải Đại La thành... tất cả trở thành trìu mến đáng yêu dưới ngòi bút của tác giả.

Bài Dạ toạ thính đỗ quyên (Đêm ngồi nghe cuốc kêu) rõ là một đêm của Hà Nội, một đêm trăng sáng ngời, phẳng lặng nhưng không phải không làm xao động tấm lòng:

Bán khải thư quynh vũ hậu thiên,

Nhất khuê chủng cúc, nhất bồn liên.

Tú Uyên cao định hồ trung nguyệt,

La diệp trù sơ thu điều yên...

Bản dịch thơ:

Sau mưa hé cánh song nhìn,

Một vồng cúc, một bồn sen bên ngoài.

Giữa hồ Tủ bóng trăng cài,

Trên thành La khói phủ dày cây thưa...

Một hôm, đi dạo chơi quanh luỹ đất ngoài thành La, tác giả đã bắt được những hình dáng, những màu sắc, những cảnh vật tuy đã quá quen thuộc nhưng không kém phần xinh xắn. Bài Văn hành quách ngoại ký kiến (Chiều đi dạo bên ngoài luỹ ghi sự nhìn thấy) chỉ có bốn câu thôi song chẳng khác nào bức tranh thủy mặc.

Nhân ảnh thiên trường tới tịch huy,

Viễn thôn vân thụ lượng y vi.

Huề cùng xuyên quá điền gian kính,

Vạn mẫu thanh thanh nhất lộ phi.

Bản dịch thơ:

Bóng người dài theo bóng tà,

Khói cây mờ lẫn thôn xa.

Chống gậy đi ngang đồng ruộng,

Ngàn xanh nổi cánh cò hoa..

Tình cảm đối với thiên nhiên, rõ ràng là một thực tế trong thơ Bùi Huy Bích. Nhưng không phải chỉ có thế, tình cảm đối với con người đôi khi lại còn đằm thắm hơn, nhất là đối với những người dân lành.

Bài Túc thạch xá cho thấy sự thông cảm của tác giả đối với nhân dân trong vùng này, từng bị quan quân phá phách:

Kiến thuyết quan binh công lược bạo,

Dân gia phiến tịch đãng vô di.

(Nghe nói quan quân công phá dữ,

Sạch không manh chiếu của dân này)

Nhưng có lẽ bài Ngẫu hứng (Bỗng nhiên có hứng) mới là một bài bày tỏ được tình cảm kia một cách đầy đủ nhất.

I

Hạ hạn thu lâm đông hữu hoàng,

Thủ niên sắc sự tẫn kham thương.

Bi nho mạc tác điều nguyên thoại,

Nhục thực hương nhân tại miếu đường.

II

Thiên giáng cơ hoành bệnh thử dân,

Cô cùng chuyển tỉ cực thoan tân.

Dạ lai phong vũ hàn như hử,

Quá lộ ưng đa thất sở nhân.

Dịch thơ:

Hè hạn, thu mưa, đông có sâu,

Năm nay mùa lúa biết bao sầu.

Bi nho chớ nói câu điều tiết,

Toà đẹp cơm ngon có đáng đâu.

II

Giời gieo tai ách khổ dân chưa,

Cùng kiết muôn nhà đã xác xơ.

Mưa gió đêm qua trời lạnh lắm,

Ngoài đường chi thiếu kẻ bơ vơ.

Một viên quan tể tướng mà suy nghĩ được như vậy, thật cũng là có nhân cách, cho nên đến bài Thu dạ (Đêm thu) thì khác nào một lời thơ tự thú là bất lực:

Tâm mục lưỡng đô mạnh,

Chi li độ thử sinh.

Dân gian phương khổ lạo,

Quốc nội vị hưu binh.

Dịch thơ:

Gượng sống đời lay lứt,

Mắt loà lòng cũng loà.

Dân đương sầu lụt lội,

Nước chửa hết binh qua...

Cùng với thơ, văn xuôi cũng là nơi Tồn Am ký ngụ những tư tưởng đặc sắc. Qua tập Lữ trung ta thấy Tồn Am rất chú ý đến việc sửa mình. Ông đòi hỏi phải chú ý đến việc vun trồng đạo đức, phải luôn luôn trau dồi kiến thức và tâm hồn:

“Có lỗi thì sửa. Hễ chịu sửa thì lỗi ít dần, rồi đến không còn. Nhưng không biết lỗi thì làm sao đổi được.

Nay ta nghĩ thế này, cho là phải, nhưng nghĩa lý vô cùng. Biết đâu người khác lại chẳng hơn ta, và biết đâu ngày khác chính ta nghĩ lại chẳng hơn bây giờ sao. Hễ không tự lấy làm đủ thì đức càng tiến, đức càng tiến thì không tự lấy làm đủ.

Mình có một điều hay nhỏ thì phô phang ầm lên. Thấy người có tài danh thì đi bới móc những cái kém cỏi. Thấy người giàu sang thì đi kể lể những cái không tốt”...

Tồn Am còn vạch ra sự vô trách nhiệm cùng tệ tham nhũng của quan lại đương thời: “Công việc của các quan đại thể chỉ làm chiếu lệ cho xong việc, ít khi thực sự quan tâm giải quyết những tình trạng khẩn cấp và đau thương của dân, không làm cho kẻ ác biết sợ phép nước... Việc phòng lụt là rất quan hệ đến đời sống của dân, dân đã khó nhọc vất vả để đắp đê mà các người chức việc thừa hành lại còn sách nhiễu họ. Thu thuế thì hà lạm của dân. Truyền đạt giấy tờ cũng hoạnh hoẹ đòi tiền. Đến việc mua bán ruộng của dân thì càng nhũng nhiễu hơn”...

Về thờ cúng, ông cũng phê phán tệ nạn phổ biến thời đó: “Mê hoặc theo thuyết báo ứng, người ở đâu thì Phật ở đấy. (Vậy mà) có hàng có tới ba bốn ngôi chùa, chi phí vào đấy không biết bao nhiêu mà kể. Đối với các thần của làng xã, họ thường cầu cạnh bộ Lễ công nhận và phong cho duệ hiệu. Tàn kiệu và các đồ rước xa phí vô chừng. Còn các vị thần tổ nghề nông, nghề dệt... những danh thần liệt sĩ thì chẳng ai nghĩ đến”.

Sự tố cáo phê phán của Bùi Huy Bích đến nay vẫn còn có thể là bài học cho chúng ta.

Với văn học nước nhà, ông có công rất lớn là sưu tầm gom góp thơ văn từ cổ đến đương thời thành hai bộ: Hoàng Việt thi tuyểnHoàng Việt văn tuyển. Bộ trên gồm ba tập chép thơ từ Lý - Trần đến cuối Cảnh Hưng (1740-1787) cả thảy là 562 bài của 167 tác giả. Bộ dưới gồm hai tập chép văn cũng trong thời gian trên, chia ra: phú 15 bài, ký 15 bài, minh 9 bài, chiếu tế 25 bài, khải 22 bài, tản văn 11 bài, biểu tấu công văn 6 bài, cộng là 112 bài. Đó là những công trình sưu tầm tuyển lựa rất công phu và quý giá. Nhờ chúng mà nay ta còn có thể tiếp xúc với những tác phẩm cổ từ thế kỷ XVIII trở về trước mà nguyên bản thì thất lạc từ đời nào rồi. Chỉ với hai công trình Thi tuyểnVăn tuyển đó, Bùi Huy Bích cũng đã xứng đáng được lưu danh trong sử văn học nước nhà./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Lê Văn Hưu – nhà sử học khơi nguồn Quốc sử
    Lê Văn Hưu (1230 - 1322), người làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn, nay là thôn Phủ Lý Trung, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1964, trên Nghiên cứu Lịch sử, hai tác giả Nguyễn Kha và Trần Huy Bá cho công bố bài: Phát hiện những tài liệu liên quan đến sử gia Lê Văn Hưu (số 62, tháng 5-1964). Qua đó, cho chúng ta biết đã phát hiện được gia phả và mộ của Lê Văn Hưu.
(0) Bình luận
  • Lễ hội điện Huệ Nam: Giá trị văn hóa, tín ngưỡng hội tụ bên dòng sông Hương
    Lễ hội điện Huệ Nam tháng 7 Âm lịch năm 2026 chính thức khai hội tại điện Huệ Nam (điện Hòn Chén), đình làng Hải Cát và Điện thờ Thánh Mẫu (TP Huế).
  • Thêm 13 di tích tại Hà Nội chính thức nhận xếp hạng cấp thành phố
    Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội vừa ký ban hành quyết định chính thức công nhận và xếp hạng di tích cấp Thành phố đối với 13 di tích lịch sử - văn hóa, nghệ thuật thuộc địa bàn hai địa phương là phường Tùng Thiện và xã Vân Đình.
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Điểm hẹn di sản giữa lòng phố
    Nhiều không gian văn hóa đang đưa nghệ thuật truyền thống đến gần hơn với đời sống đương đại ở Hà Nội. Chính sự hiện diện thường xuyên và duy trì mối gắn kết với cộng đồng đang tạo thêm sức sống cho di sản, đồng thời bồi đắp bản sắc của đô thị sáng tạo.
  • Nắng mơ trong biệt thự hoang
    Tôi bị nàng hút đi từ lần thấy hình đại diện Facebook trôi đến. Khoảnh khắc lúc nắng rây xuống những ngón tay thon cầm lọn tóc che nửa phần môi đỏ khiến cho bức selfie ấy đẹp huyền hoặc.
  • Festival Thăng Long - Hà Nội 2026: Thúc đẩy sáng tạo nghệ thuật trên nền tảng văn hoá truyền thống
    Tiếp nối thành công của Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ I năm 2025, Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage Flow” sẽ diễn ra từ ngày 11/9 đến ngày 20/9/2026 tại nhiều không gian văn hóa, di sản tiêu biểu của Thủ đô như: Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Bảo tàng Hà Nội, xã Bát Tràng và khu vực Tượng đài Cảm tử và Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục.
  • Đưa tinh thần Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV vào đời sống
    Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đã ban hành nhiều nghị quyết, quy định, kết luận quan trọng, đề cập những vấn đề có ý nghĩa đối với xây dựng Đảng, phát triển đất nước, hoàn thiện hệ thống chính trị, bảo vệ môi trường và tổ chức đời sống xã hội. Để các chủ trương nhanh chóng đi vào cuộc sống, Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy vừa ban hành Công văn số 1166-CV/BTGDVTU ngày 21/8/2026 về tăng cường tuyên truyền thực hiện các nghị quyết, quy định, kết luận của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, hướng tới tạo sự thống nhất trong nhận thức, đồng thuận trong xã hội và quyết tâm trong hành động.
  • Chủ động chăm sóc sức khỏe cộng đồng, xây dựng môi trường sống an toàn
    Đẩy nhanh tiến độ khám sức khỏe toàn dân gắn với chủ động phòng, chống dịch bệnh từ cơ sở là nội dung trọng tâm được UBND thành phố Hà Nội yêu cầu triển khai trong thời gian tới. Thông báo số 763/TB-VP ngày 19/8/2026 của Văn phòng UBND Thành phố đã xác định cụ thể trách nhiệm của các sở, ngành, địa phương, hướng tới nâng cao hiệu quả chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và xây dựng môi trường sống an toàn.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội chuẩn bị chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật chào mừng những ngày lễ lớn
    Thường trực Thành ủy Hà Nội thống nhất chủ trương tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, tuyên truyền, chăm lo các đối tượng chính sách nhân dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời tổ chức 02 chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô, hướng tới tạo không khí phấn khởi, vui tươi và khơi dậy niềm tự hào, khát vọng phát triển Thủ đô.
  • [Infographic] Chuỗi hoạt động đặc sắc tại Hanoi Jazztival
    Với chủ đề “Jazz Hà Nội - Giai điệu không biên giới”, Liên hoan Nhạc Jazz quốc tế Hà Nội 2026 được kỳ vọng trở thành lễ hội nhạc Jazz thường niên của Thủ đô, góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, quảng bá hình ảnh Hà Nội sáng tạo, hội nhập và giàu bản sắc.
  • Hà Nội nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo
    Để đáp ứng tình hình thực tiễn phát triển của Thủ đô trong thời kỳ mới, thực hiện Luật Thủ đô 2026, HĐND thành phố Hà Nội khóa XVII đã ban hành Nghị quyết số 13/2026/NQ-HĐND quy định mức tiền phạt đối với một số hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo trên địa bàn.
  • Những Ngày phim Việt Nam chào mừng Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9
    Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Viện phim Việt Nam chính thức khởi động chương trình chiếu phim đặc biệt “Những Ngày phim Việt Nam”. Sự kiện hứa hẹn đưa khán giả trở về những năm tháng gian lao nhưng hào hùng của dân tộc qua góc nhìn điện ảnh đầy xúc cảm.
  • Hà Nội di chuyển tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” về Bộ Tư lệnh Thủ đô
    Tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” tại khuôn viên Di tích quốc gia đền Bà Kiệu dự kiến được di chuyển về Trung đoàn 692, Sư đoàn Bộ binh 301, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội và hoàn thành lắp dựng trước ngày 30/9/2026.
  • Khát vọng mùa hè
    Mùa hè, cũng đến từ một nơi xa, nhưng chẳng bao giờ chung đường với mùa xuân, mùa thu hay đông giá rét. Mùa hè đến từ những k ức thanh xuân nồng nàn, hồ hởi của mỗi con người chúng ta. Lạ thế chứ, sao ta đón bao mùa hè mà dường như vẫn chưa hề quen…
  • Lễ hội điện Huệ Nam: Giá trị văn hóa, tín ngưỡng hội tụ bên dòng sông Hương
    Lễ hội điện Huệ Nam tháng 7 Âm lịch năm 2026 chính thức khai hội tại điện Huệ Nam (điện Hòn Chén), đình làng Hải Cát và Điện thờ Thánh Mẫu (TP Huế).
  • [Podcast] Quà sáng của người Hà Nội
    Khi những tia nắng đầu tiên lấp lánh trên mặt hồ, cũng là lúc phố phường thức giấc bằng những âm thanh rất đỗi thân quen. Tiếng chổi tre của người công nhân vệ sinh, tiếng xe đạp chở hàng len qua từng con phố nhỏ, tiếng gọi nhau í ới của những người bán hàng rong... Và xen giữa những thanh âm ấy là mùi thơm quyến rũ của những món quà sáng đang lan tỏa từ các gánh hàng, quán nhỏ ven đường.
  • “Từ mùa thu độc lập” - Giai điệu của lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc
    Trong không khí phấn khởi, tự hào của những ngày tháng Tám lịch sử, hướng tới kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tối 19/8, tại Công viên Cầu Giấy, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội phối hợp với Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Cầu Giấy tổ chức chương trình nghệ thuật "Từ mùa thu độc lập".
  • Quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội điện Huệ Nam trong đời sống đương đại
    Các chuyên gia thảo luận, trao đổi “Quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Lễ hội điện Huệ Nam trong đời sống đương đại” và hướng tới mục tiêu ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại theo Công ước UNESCO năm 2003.
Bùi Huy Bích - tác giả Hoàng Việt Thi Văn Tuyển
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO