Văn hóa – Di sản

Trần Tung – nhà thiền học yêu nước

Nguyễn Hữu Sơn 30/10/2023 14:32

Trần Tung (1230 - 1291), đạo hiệu Tuệ Trung, thường gọi Tuệ Trung Thượng sĩ, con trai Trần Liễu (Thế kỷ XIII), anh ruột Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1232-1300). Quê gốc ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay thuộc xã Lộc Vương, ngoại thành Nam Định). Ông trực tiếp tham dự hai cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông vào các năm 1284 - 1285, 1287 - 1288. Đương thời từng được phong chức Tiết độ sứ coi sóc phủ Thái Bình và được phân phong thực ấp ở Tịnh Bang (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh).

Vốn là người không ham công danh, ông chuyên tâm đọc sách tìm hiểu đạo Phật, theo học các thiền sư và sớm trở thành nhà Thiền học danh tiếng, được em rể là vua Trần Thánh Tông (1240 - 1290) kính trọng, được vua Trần Nhân Tông (1258 - 1308) tôn làm thầy học. Chính vua Trần Nhân Tông khi viết Thượng sĩ hành trạng ở cuối sách Trần triều Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục đã xác định: “Thượng sĩ là con trai đầu lòng của Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương [Trần Liễu] và anh cả của Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu. Khi Thái Vương mất, Hoàng đế Trần Thái Tông cảm nghĩa phong cho Thượng sĩ tước Hưng Ninh Vương. Thủa nhỏ, Thượng sĩ bản tính thanh cao, nổi tiếng thuần hậu. Được cử trấn giữ quân dân ở lộ Hồng. Hai lần giặc Bắc xâm lăng, có công với nước, lần hồi được thăng chuyển giữ chức Tiết độ sứ vùng biển trại Thái Bình (...). Ôi! Thượng sĩ là người thần thái nghiêm trang, cử chỉ đĩnh đạc. Khi người đàm luận về cái lẽ cao siêu huyền diệu thì như gió mát trăng thanh. Đương thời các bậc đạo cao đức trọng đâu đâu cũng đều tôn trọng, cho Thượng sĩ là người “tin sâu biết rõ”, ngược xuôi thật khó mà lường được”...

tue-trung-thuong-si.jpg
Tượng Tuệ Trung Thượng sĩ.

Có thể coi Trần Tung Thượng sĩ là người nối tiếp nguồn sáng Phật giáo thời Lý qua sư Tiêu Dao, đồng thời khơi mở, đặt nền móng cho sự phát triển của Phật giáo đời Trần. Sách Tam tổ thực lục xác định ảnh hưởng trực tiếp của Tuệ Trung đến đệ nhất tổ Thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông: “Điều Ngự tính sáng suốt, đa tài, hiếu học, đọc khắp sách vở, thông hiểu cả nội và ngoại điển. Lúc rảnh việc nước, vua mời các khách Thiền đến giảng dạy tâm tông, lại tham vấn tuệ Trung Thượng sĩ, nhờ thế đạt được cốt tủy của Thiền, nên thờ Tuệ Trung theo lễ của bậc thầy” (Bản dịch, 1995). Khi khắc in lại bộ sách Trần triều Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục vào năm Quí Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 24 (1763), Tỳ kheo Tuệ Nguyên viết rõ: “Bộ lục này do Đại đức Tiêu Dao nói cho Thượng sĩ Tuệ Trung. Thượng sĩ nói cho Tổ thứ nhất của phái Thiền Trúc Lâm là Điều Ngự Giác Hoàng. Điều Ngự Giác Hoàng nói cho Tổ thứ nhì của phái trúc Lâm là Đại sư Pháp Loa. Đại sư pháp Loa nói cho Tổ thứ ba của phái Trúc Lâm là Tôn giả Huyền Quang. Tôn giả Huyền Quang nói cho tông phái Trúc Lâm”...

Tác phẩm của Trần Tung hiện còn được tập hợp trong bộ Thượng sĩ ngữ lục (do nhầm lẫn của Bùi Huy Bích, 1744 - 1818, khi soạn Hoàng Việt thi văn tuyển nên một thời gian dài sách này được coi là của Trần Quốc Tảng). Nhà nghiên cứu Nguyễn Lang Thích Nhất Hạnh xác định: “Le Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục est l’oeuvre du maitre dhyãna Tuệ Trung. Le Hoàng Việt văn tuyển, compilé par Bùi Huy Bích sous la dynastie Lê, dit que Tuệ Trung est le nom religieux de Trần Quốc Tảng, fils ainé du héros national Trần Hưng Đạo. Nous avons découvert que Tuệ Trung, au lieu d’être fils de Trần Hưng Đạo, est son frère ainé. Trần Nhân Tông, disciple de Tuệ Trung, a escrit à la fin du Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục que Tuệ Trung est “fils ainé du Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương et frère ainé de la reine Nguyên Thánh Thiên Cảm”. Or, Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương est le titre conféré par l’empereur Thái Tông à An Sinh Vương Trần Liễu, père de Trần Hưng Đạo. La reine Nguyên Thánh Thiên Cám est elle aussi fille de An Sinh Vương Trần Liễu et petite soeur de Trần Hưng Đạo. D’après une note dans le Đại Việt sử ký toàn thư, le fils ainé de An Sinh Vương Trần Liễu s'appelle Trần Quốc Tung, ayant pour titre Hưng Ninh Vương” (Thich Nhat Hanh: Histoire du Bouddhisme Vietnamien - Programme de l'année 1972-1973: Étude des textes dhyana (Zen) vietnamiens de la dynastie des Trần (1225-1400). Annuaire 19731974. École pratique des hautes éstudes. IVe Section sciences historiques et philologiques, Sorbonne, 1974, p.750) (Sách Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục là tác phẩm của thiền sư Tuệ Trung. Sách Hoàng Việt văn tuyển do Bùi Huy Bích soạn dưới triều Lê nói rằng Tuệ Trung là tên hiệu của Trần Quốc Tảng, con trai cả của anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Chúng tôi đã phát hiện ra rằng Tuệ Trung, thay vì là con trai Trần Hưng Đạo, lại là anh trai của ông. Trần Nhân Tông, học trò của Tuệ Trung, viết cuối sách Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục rằng, Tuệ Trung là “anh trai của Khâm Minh Từ Huệ Đại Vương và là anh trai của Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm”. Thế nhưng, Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương lại là hiệu do Hoàng đế Thái Tông ban cho An Sinh Vương Trần Liễu, cha của Trần Hưng Đạo. Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm cũng là con gái An Sinh Vương Trần Liễu và là em gái Trần Hưng Đạo. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, con trai cả của An Sinh Vương Trần Liễu tên là Trần Quốc Tung, tước hiệu Hưng Ninh Vương) (Thích Nhất Hạnh: Lịch sử Phật giáo Việt Nam - Bài giảng niên khóa 1972-1973: Nghiên cứu các văn bản Thiền Việt Nam thời Trần (1225–1400). In trong Tập san thường niên (1973-1974). Trường Cao đẳng thực hành thuộc Phân hệ IV- Khoa học lịch sử và ngữ văn, Đại học Sorbonne xuất bản, Paris, 1974, tr.750) (Cao Việt Dũng dịch)... Bộ sách Thượng sĩ ngữ lục có niên đại sớm nhưng do nhiều người biên soạn, tập hợp văn bản từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm nhiều thể loại, có cả tác phẩm của chính Trần Tung hoặc người khác ghi chép về Trần Tung, thậm chí chép lẫn cả thơ văn người khác. Đến nay, vấn đề văn bản học của bộ sách Thượng sĩ ngữ lục đã được giải quyết bước đầu khá cơ bản.

Tác phẩm Thượng sĩ ngữ lục là một hợp tập gồm 4 phần. Phần Ngữ lục chủ yếu là những lời giảng về Thiền học dưới hình thức thầy trò vấn đáp, trong đó có lời văn xuôi giống như những công án thiền và bằng cả lối thơ hai câu, thơ ngũ ngôn và thất ngôn tứ tuyệt. Phần thứ hai có 49 bài thơ với nhiều đề tài, thể loại, nội dung, mục đích sáng tác khác nhau. Phần thứ ba là những bài văn phúng tế gồm 8 bài tán của các nhà sư trong phái Trúc Lâm Yên Tử viếng sư thầy Trần Tung. Phần thứ tư có bài Thượng sĩ hành trạng do người khác ghi chép, trong đó có tàng trữ 6 bài kệ của chính Trần Tung. Trên thực tế, phần tác phẩm có ý nghĩa văn học nhất chính là 49 bài thơ của Trần Tung với nhiều sắc thái trữ tình khác nhau.

Trần Tung viết rất ít về lý tưởng hành đạo, chuyện nhân gian, thế sự, cuộc đời. Những bài thơ đề vịnh thể hiện khẩu khí ngang tàng kiểu như Trụ trượng tử (Chiếc gậy) chiếm số lượng không nhiều:

Nhật nhật trượng trì tại chưởng trung,

Hốt nhiên như hổ hựu như long.

Niêm lai khước khủng sơn hà toái,

Trác khởi hoàn phương nhật nguyệt lung.

Tam xích song lâm hà xứ hữu?

Lục hoàn Địa Tạng khoái nan phùng.

Túng nhiên thế đạo kỳ khu thậm,

Bất nại tòng tiền bột tốt ông.

Huệ Chi dịch thơ:

Ngày lại ngày qua tay vững gậy,

Thoắt nhanh như cọp dẻo như rồng.

Vung lên, sông núi e tan nát,

Dựng dậy, trời trăng sợ mịt mùng.

Ba thước song lâm tìm mỏi mắt,

Sáu vòng Địa Tạng kiếm hoài công.

Dẫu cho đường tục chông gai mấy,

Lão chẳng như xưa bước ngại ngùng.

Một vài bài thơ của ông có nhắc đến người này người khác thì lại thường là tiếng thơ khuyên con người tìm về với đạo Phật, thăm Đại sư Tăng Điền, viết đùa thiền sư Trí Viễn xem kinh giảng nghĩa, ca ngợi đạo học của thiền sư Tiêu Dao, pháp sư Thuần Nhất và Trần Thánh Tông. Riêng trong bài Họa Hưng Trí Thượng vị hầu (Họa thơ Hưng Trí Thượng vị hầu), ông tỏ ý đồng cảm, sẻ chia tâm sự với Trần Quốc Nghiễn, con trai thứ hai của Trần Quốc Tuấn:

Thiền phong vô hậu diệc vô tiền,

Bản thể như như chỉ tự nhiên.

Thiếu Thất cửu niên vô nhất ngữ,

Hoàng Mai bán dạ giả đơn truyền.

Tâm cơ bất quải ti hào niệm,

Khẩu nghiệp hà lao gián trạch nghiên (ngôn).

Vị báo nguyên quân Trần xử sĩ,

Nhất thanh lãnh nhạn độ sương thiên.

(Phong độ Thiền không trước cũng không sau,

Bản thể tròn đầy mãi mãi là điều tự nhiên.

Chín năm ở Thiếu Thất không nói một lời,

Nửa đêm ở Hoàng Mai lập kế truyền đạo cho một người.

Tâm cơ không vướng mảy may ý nghĩ,

Nghiệp miệng cần gì phải chọn lời cho mệt.

Xin báo cho nguyên quân xử sĩ họ Trần,

Một tiếng nhạn lạnh lùng bay qua trời sương)

Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, khi giặc chịu lui quân, vua Trần hạ lệnh không đánh nữa nhưng Quốc Nghiễn vẫn vây đánh nên không được trọng thưởng. Có thể sau này ông lui về sống cuộc đời ẩn dật bình dị nên Trần Tung mới gọi ông là “Trần xử sĩ”.

Khác biệt với âm hưởng thơ Thiền đời Lý, Trần Tung có mấy bài thơ in đậm phong cách một cư sĩ phóng khoáng, một tiếng nói của thiền Đại thừa, một người hướng về đạo Phật nhưng không quá bị ràng buộc bởi những tín điều hình thức. Nhiều khi ông nói đến ý nguyện thoát đời, lui khỏi trường danh lợi, tìm về với thế giới tự nhiên thanh tĩnh, nhấn mạnh hình ảnh con người gần với đạo tu tiên, thể hiện chí tiêu dao, tự do, tự tại. Một mặt, Trần Tung tỏ ý ly tâm với cõi đời, bộc lộ tâm thế Xuất trần (Ra khỏi bụi trần), Thoát thế (Thoát đời), Thoái cư (Lui về), thấy được cái kết cuộc cuối cùng ở phía trước Vạn sự qui như (Muôn việc đều về cõi chân như), Thế thái hư huyễn (Cõi đời hư ảo); nhưng mặt khác lại không thoát được những ràng buộc của kiếp nhân sinh một khi còn hiện diện trên đời, trước sau vẫn không thể xa lánh được thực tại với con đường Nhập trần (Vào vòng cát bụi), có lúc Đốn tỉnh (Chợt tỉnh) và thấy Phàm thánh bất dị (Phàm thánh chẳng có gì khác nhau), Mê ngộ bất dị (Mê lầm và giác ngộ không có gì khác nhau). Từ đây xuất hiện một lối ứng xử, một kiểu nhân cách tăng sĩ độc đáo mà ngay các nhan đề Chiếu thân (Soi mình), Giang hồ tự thích (Vui thích giang hồ),... cũng biểu lộ rõ thái độ của người viết. Với bài Phóng cuồng ngâm (Bài ngâm cuồng phóng), Trần Tung thể hiện là bậc thiền sư đạt đạo, sống giữa cõi đời mà đứng cao hơn nhân gian, nhập thế mà biết gián cách thoát thế, làm chủ thân tâm và biết an vui, hòa nhập với từng giây lát thực tại:

Cơ tác xan hề hòa la phạn,

Khốn tắc miên hề hà hữu hương.

Hứng thời xuy hề vô khổng địch,

Tĩnh xứ phần hề giải thoát hương.

Huệ Chi - Đỗ Văn Hỷ dịch thơ:

Đói thì ăn chừ, cơm tùy ý,

Mệt thì ngủ chừ, làng không làng!

Hứng lên chừ, thổi sáo không lỗ,

Lắng xuống chừ, giải thoát đốt nhang.

Trong phần kết bài thơ, Trần Tung nhấn mạnh sự thấu hiểu mối quan hệ giữa đời và đạo, sự biến dịch của thời gian và sự sống. Con người đạt đạo ấy không đối lập giữa đời và đạo, chỉ mong kiếm tìm lẽ đạo như một phép xử thế trước cuộc đời, một thế ứng xử nhân văn trước thực tại với những giàu sang, bể hoạn, ấm lạnh thói thường, nông sâu, dụng xả, hành tàng, xuất xử... Trên tất cả, ông nhận thức được giá trị của tự do, phóng chiếu sức mạnh của bản ngã và hạnh phúc bởi sự thỏa nguyền “được nơi ta muốn”:

Đốt đốt phù vân hề phú quý,

Hu hu quá khích hề niên quang.

Hồ vi hề quan đồ hiểm trở,

Phả nại hề thế thái viêm lương.

Thâm tắc lệ hề thiển tắc yết,

Dụng tắc hành hề xả tắc tàng.

Phóng tứ đại hề mạc bả tróc,

Liễu nhất sinh hề hưu bôn mang.

Thích ngã nguyện hề đắc ngã sở,

Sinh tử tương bức hề ư ngã hà phương.

Huệ Chi - Đỗ Văn Hỷ dịch thơ:

Ối ôi! Giàu sang chừ, lưng trời mây nổi,

Chà chà! Năm tháng chừ, bóng ngựa lướt ngang!

Nói sao chừ, chông gai bể hoạn,

Tạm quen chừ, ấm lạnh thói thường!

Sâu thì dấn chừ, nông thì xắn vén,

Dùng thì làm chừ, bỏ thì ẩn tàng.

Buông hình hài chừ, chớ chạy quàng.

Thỏa ước nguyền ta chừ, được nơi ta muốn,

Sống, chết thôi thúc chừ, lòng ta coi thường.

Đặc biệt trong bài Trừu thần ngâm (Bài ngâm bĩu môi), Trần Tung trực diện bày tỏ chính kiến:

Qui dư đạo ẩn hề sơn lâm,

Khôi khước lợi danh hề triều thị.

(Về thôi! Ẩn đạo nơi rừng núi,

Nguội lạnh lợi danh chốn triều đình, đô hội)...

Chiếm phần chủ yếu trong thơ Trần Tung là những suy nghiệm về lẽ chân tâm, chân như, hư không theo tinh thần Phật giáo nhưng vẫn chú trọng sự tu dưỡng cá nhân và nội lực bản ngã, ý thức tự tại, tự soi nhìn lại chính mình. Trần Tung có nhiều bài thơ đề vịnh, đề tặng, thơ thăm, xướng họa, chúc tụng, đùa vui với các sư thầy và đạo hữu. Ông vừa có những bài thơ răn dạy chúng dân đệ tử hãy ngưỡng vọng về Phật giáo (gợi bảo người học đạo, người chân tu, thấy muôn việc đều qui về cõi chân như và ngợi ca tấm gương Trần Thánh Tông học đạo Phật...), vừa tỏ ý ham vui giữa cõi đời, an nhiên giữa cuộc đời (lui về chốn an nhàn, vui với đời theo cách nhìn đời của Phật giáo và hát bài ca “cuồng phóng”...), đồng thời nâng cấp, đòi hỏi sự thông hiểu về Phật giáo ở một trình độ cao (bàn về chữ tâm, sự nuôi dưỡng chân tính, tính chất hư ảo của cõi đời...). Trong rất nhiều bài thơ, Trần Tung thường đề cao các mối liên hệ, các tương quan giữa Phật và tâm, sinh và tử, phàm và thánh, mê lầm và giác ngộ, trì giới và nhẫn nhục... Bước đầu thơ ông đã bộc lộ dấu hiệu tiếng nói con người cá nhân phá cách, tiếng nói trữ tình hướng nội, tự mình chiêm nghiệm và tìm đến niềm an lạc theo cung cách riêng của mình. Ngay đối với các vấn đề căn bản của Phật giáo, ông vẫn bày tỏ theo một cách nhìn, một cách cảm nhận riêng. Trong bài thơ Tự tại, Trần Tung gián cách mình với cuộc sống đời thường, vượt qua những thiên kiến cố chấp, đạt đến chí “vô phân biệt”. Sài môn mao ốc cư tiêu sái – Vô thị vô phi tự tại tâm (Cửa liếp nhà tranh, ăn ở thảnh thơi - Không “thị” không “phi”, lòng ung dung tự tại)...

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Tôn vinh di sản, lan tỏa thương hiệu “Huế - Kinh đô Áo dài”
    Tuần lễ Áo dài Huế 2026 với chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, du lịch đặc sắc trải dài trên nhiều không gian di sản, danh thắng và địa điểm văn hóa tiêu biểu của TP Huế sẽ diễn ra từ ngày 3 - 10/7.
  • Công bố xếp hạng đình Liễu Cốc Thượng là Di tích cấp TP Huế
    Bảo tồn nhiều tư liệu, sắc phong cùng các giá trị văn hóa gắn với đời sống tâm linh, phong tục tập quán của người dân đã trải qua hơn 500 năm nên đình Liễu Cốc Thượng được xếp hạng Di tích cấp TP Huế.
  • Phục chế Bảo vật Quốc gia “Ngai vua triều Nguyễn” đúng nguyên bản sau sự cố bị phá hoại
    “Ngai vua triều Nguyễn” bị phá hoại khiến gãy tay ngai phía bên trái vào ngày 24/5/2025 tại điện Thái Hòa (Đại nội Huế) đã được phục chế lại bảo đảm đúng hình dáng, kích thước và màu sắc nguyên bản theo hồ sơ công nhận Bảo vật Quốc gia năm 2015.
  • Rối nước viễn du thời đại số
    Từ bóng nước lung linh dưới mái thủy đình rêu phong, múa rối nước đang bước vào hành trình "viễn du xuyên thế kỷ" đến nhịp sống đương đại. Không còn bó hẹp trong không gian truyền thống, di sản được mở rộng biên độ tiếp cận khán giả qua mô hình sản phẩm công nghiệp văn hóa và tư duy sáng tạo của thế hệ trẻ. Hành trình ấy vừa nâng niu những giá trị cốt lõi, vừa âm thầm định hình diện mạo mới, để tiếng cười của chú Tễu vẫn ngân vang, rộn rã giữa Thủ đô văn hiến.
  • Công nhận Bảo vật quốc gia với văn bia Ma Nhai gần 700 năm tuổi
    Văn bia cổ “Ma Nhai kỷ công bi ký” được khắc trên núi đá ở xã Con Cuông, tỉnh Nghệ An vừa được công nhận là Bảo vật Quốc gia. Đây là tấm bia do Hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn biên soạn và khắc trực tiếp lên núi đá - di sản lịch sử đặc biệt gắn với hành trình bảo vệ biên cương Đại Việt cách đây gần 7 thế kỷ.
  • Độc đáo lễ hội chùa Nành
    Chùa Nành (xã Phù Đổng, thành phố Hà Nội) còn gọi là chùa Cả, có tên chữ là Pháp Vân cổ tự hoặc chùa Đại Thiền. Chùa thờ bà Pháp Vân, người đứng đầu trong hệ thống Tứ Pháp được thờ ở Việt Nam. Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1989.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
  • Ngày hội “Ngự Liên Thức Thủy” khẳng định Huế là trung tâm văn hóa và du lịch đặc sắc của cả nước
    “Ngự Liên Thức Thủy” là sự kết hợp giữa nghệ thuật trình diễn, âm nhạc, ánh sáng và ẩm thực từ sen để kể câu chuyện về chiều sâu văn hóa, phong vị ẩm thực và nét thanh lịch của người xứ Huế.
  • Khai mạc Tuần lễ Âm nhạc Quốc tế Huế 2026
    Đông đảo khán giả được thưởng thức, trải nghiệm chương trình nghệ thuật đa sắc màu bên dòng sông Hương trong đêm khai mạc Tuần lễ Âm nhạc Quốc tế Huế 2026.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Như là huyền thoại (Kỳ 1)
    Trong nhóm kỹ thuật được lãnh đạo Sở Địa chất quyết định cho đi khảo sát vùng đất địa đầu Tổ quốc có ba người. Nhận nhiệm vụ, xuất hành từ phố cổ Phạm Ngũ Lão, gần nhà Bác Cổ rồi đi qua cầu Long Biên là ngược chiều lên phía Bắc. Đi tới bốn ngày đường, ba chàng địa chất mới tới phố núi Hà Giang...
  • Tổ chức Liên hoan sân khấu Hà Nội mở rộng năm 2026
    Sở Văn hóa, Thể thao Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 484/KH- SVHTT ngày 3/6/2025 về việc tổ chức “Liên hoan sân khấu Hà Nội mở rộng, năm 2026”. Sự kiện này đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục, phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng vẻ vang của dân tộc và của Hà Nội ngàn năm văn hiến, đồng thời khẳng định bản lĩnh, trí tuệ cùng những đóng góp to lớn của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Thủ đô trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.
  • Công an thành phố Hà Nội tổ chức Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc năm 2026
    Nhằm lan tỏa tình yêu quê hương, đất nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, Công an thành phố Hà Nội đã chính thức phát động cuộc thi "Đại sứ Văn hóa đọc năm 2026" với chủ đề đầy cảm hứng mang tên “Sách và Ước mơ vươn xa”.
  • Trưng bày “Tết Đoan ngọ xưa và nay” tại Khu di sản Hoàng thành Thăng Long
    Nhân dịp tết Đoan ngọ năm 2026, với mục tiêu cao đẹp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc nói chung và văn hóa phi vật thể cung đình Thăng Long nói riêng, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội đã trang trọng tổ chức trưng bày chuyên đề với tên gọi “Tết Đoan ngọ xưa và nay”.
  • Khởi động cuộc vận động sáng tác âm nhạc chủ đề "50 năm Thành phố Hồ Chí Minh - Rạng rỡ tên Người"
    Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vừa chính thức thông tin về việc tổ chức Cuộc vận động sáng tác ca khúc và bài bản đờn ca tài tử, vọng cổ với chủ đề “50 năm Thành phố Hồ Chí Minh - Rạng rỡ tên Người”.
  • Tôn vinh di sản, lan tỏa thương hiệu “Huế - Kinh đô Áo dài”
    Tuần lễ Áo dài Huế 2026 với chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, du lịch đặc sắc trải dài trên nhiều không gian di sản, danh thắng và địa điểm văn hóa tiêu biểu của TP Huế sẽ diễn ra từ ngày 3 - 10/7.
  • [Podcast] Tản văn: Những hàng thông lặng im
    Những hàng thông đã lặng im từ lâu lắm. Như từ hóa thạch, như từ lòng đất, như từ đại dương, những đại dương san hô mà loài người đã vô tình quên lãng. Thông như là sự hóa thạch của những trầm tích ấy. Những trầm tích mà hôm nay, ngày mai, bất cứ khi nào có thể lại sẽ reo ca trong lòng bạn. Này hỡi em yêu! Và đó là một sự nhiệm màu!
  • Hà Nội đặt mục tiêu đạt 35% nữ lãnh đạo doanh nghiệp, hợp tác xã vào năm 2035
    Phó Chủ tịch UBND Thành phố Đỗ Anh Tuấn vừa ký ban hành Kế hoạch số 221/KH-UBND ngày 09/6/2026 về thực hiện Quyết định số 2415/QĐ-TTg ngày 31/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035" trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Trần Tung – nhà thiền học yêu nước
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO