Văn hóa – Di sản

Trần Tung – nhà thiền học yêu nước

Nguyễn Hữu Sơn 30/10/2023 14:32

Trần Tung (1230 - 1291), đạo hiệu Tuệ Trung, thường gọi Tuệ Trung Thượng sĩ, con trai Trần Liễu (Thế kỷ XIII), anh ruột Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1232-1300). Quê gốc ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay thuộc xã Lộc Vương, ngoại thành Nam Định). Ông trực tiếp tham dự hai cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông vào các năm 1284 - 1285, 1287 - 1288. Đương thời từng được phong chức Tiết độ sứ coi sóc phủ Thái Bình và được phân phong thực ấp ở Tịnh Bang (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh).

Vốn là người không ham công danh, ông chuyên tâm đọc sách tìm hiểu đạo Phật, theo học các thiền sư và sớm trở thành nhà Thiền học danh tiếng, được em rể là vua Trần Thánh Tông (1240 - 1290) kính trọng, được vua Trần Nhân Tông (1258 - 1308) tôn làm thầy học. Chính vua Trần Nhân Tông khi viết Thượng sĩ hành trạng ở cuối sách Trần triều Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục đã xác định: “Thượng sĩ là con trai đầu lòng của Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương [Trần Liễu] và anh cả của Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu. Khi Thái Vương mất, Hoàng đế Trần Thái Tông cảm nghĩa phong cho Thượng sĩ tước Hưng Ninh Vương. Thủa nhỏ, Thượng sĩ bản tính thanh cao, nổi tiếng thuần hậu. Được cử trấn giữ quân dân ở lộ Hồng. Hai lần giặc Bắc xâm lăng, có công với nước, lần hồi được thăng chuyển giữ chức Tiết độ sứ vùng biển trại Thái Bình (...). Ôi! Thượng sĩ là người thần thái nghiêm trang, cử chỉ đĩnh đạc. Khi người đàm luận về cái lẽ cao siêu huyền diệu thì như gió mát trăng thanh. Đương thời các bậc đạo cao đức trọng đâu đâu cũng đều tôn trọng, cho Thượng sĩ là người “tin sâu biết rõ”, ngược xuôi thật khó mà lường được”...

tue-trung-thuong-si.jpg
Tượng Tuệ Trung Thượng sĩ.

Có thể coi Trần Tung Thượng sĩ là người nối tiếp nguồn sáng Phật giáo thời Lý qua sư Tiêu Dao, đồng thời khơi mở, đặt nền móng cho sự phát triển của Phật giáo đời Trần. Sách Tam tổ thực lục xác định ảnh hưởng trực tiếp của Tuệ Trung đến đệ nhất tổ Thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông: “Điều Ngự tính sáng suốt, đa tài, hiếu học, đọc khắp sách vở, thông hiểu cả nội và ngoại điển. Lúc rảnh việc nước, vua mời các khách Thiền đến giảng dạy tâm tông, lại tham vấn tuệ Trung Thượng sĩ, nhờ thế đạt được cốt tủy của Thiền, nên thờ Tuệ Trung theo lễ của bậc thầy” (Bản dịch, 1995). Khi khắc in lại bộ sách Trần triều Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục vào năm Quí Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 24 (1763), Tỳ kheo Tuệ Nguyên viết rõ: “Bộ lục này do Đại đức Tiêu Dao nói cho Thượng sĩ Tuệ Trung. Thượng sĩ nói cho Tổ thứ nhất của phái Thiền Trúc Lâm là Điều Ngự Giác Hoàng. Điều Ngự Giác Hoàng nói cho Tổ thứ nhì của phái trúc Lâm là Đại sư Pháp Loa. Đại sư pháp Loa nói cho Tổ thứ ba của phái Trúc Lâm là Tôn giả Huyền Quang. Tôn giả Huyền Quang nói cho tông phái Trúc Lâm”...

Tác phẩm của Trần Tung hiện còn được tập hợp trong bộ Thượng sĩ ngữ lục (do nhầm lẫn của Bùi Huy Bích, 1744 - 1818, khi soạn Hoàng Việt thi văn tuyển nên một thời gian dài sách này được coi là của Trần Quốc Tảng). Nhà nghiên cứu Nguyễn Lang Thích Nhất Hạnh xác định: “Le Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục est l’oeuvre du maitre dhyãna Tuệ Trung. Le Hoàng Việt văn tuyển, compilé par Bùi Huy Bích sous la dynastie Lê, dit que Tuệ Trung est le nom religieux de Trần Quốc Tảng, fils ainé du héros national Trần Hưng Đạo. Nous avons découvert que Tuệ Trung, au lieu d’être fils de Trần Hưng Đạo, est son frère ainé. Trần Nhân Tông, disciple de Tuệ Trung, a escrit à la fin du Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục que Tuệ Trung est “fils ainé du Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương et frère ainé de la reine Nguyên Thánh Thiên Cảm”. Or, Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương est le titre conféré par l’empereur Thái Tông à An Sinh Vương Trần Liễu, père de Trần Hưng Đạo. La reine Nguyên Thánh Thiên Cám est elle aussi fille de An Sinh Vương Trần Liễu et petite soeur de Trần Hưng Đạo. D’après une note dans le Đại Việt sử ký toàn thư, le fils ainé de An Sinh Vương Trần Liễu s'appelle Trần Quốc Tung, ayant pour titre Hưng Ninh Vương” (Thich Nhat Hanh: Histoire du Bouddhisme Vietnamien - Programme de l'année 1972-1973: Étude des textes dhyana (Zen) vietnamiens de la dynastie des Trần (1225-1400). Annuaire 19731974. École pratique des hautes éstudes. IVe Section sciences historiques et philologiques, Sorbonne, 1974, p.750) (Sách Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục là tác phẩm của thiền sư Tuệ Trung. Sách Hoàng Việt văn tuyển do Bùi Huy Bích soạn dưới triều Lê nói rằng Tuệ Trung là tên hiệu của Trần Quốc Tảng, con trai cả của anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Chúng tôi đã phát hiện ra rằng Tuệ Trung, thay vì là con trai Trần Hưng Đạo, lại là anh trai của ông. Trần Nhân Tông, học trò của Tuệ Trung, viết cuối sách Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục rằng, Tuệ Trung là “anh trai của Khâm Minh Từ Huệ Đại Vương và là anh trai của Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm”. Thế nhưng, Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương lại là hiệu do Hoàng đế Thái Tông ban cho An Sinh Vương Trần Liễu, cha của Trần Hưng Đạo. Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm cũng là con gái An Sinh Vương Trần Liễu và là em gái Trần Hưng Đạo. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, con trai cả của An Sinh Vương Trần Liễu tên là Trần Quốc Tung, tước hiệu Hưng Ninh Vương) (Thích Nhất Hạnh: Lịch sử Phật giáo Việt Nam - Bài giảng niên khóa 1972-1973: Nghiên cứu các văn bản Thiền Việt Nam thời Trần (1225–1400). In trong Tập san thường niên (1973-1974). Trường Cao đẳng thực hành thuộc Phân hệ IV- Khoa học lịch sử và ngữ văn, Đại học Sorbonne xuất bản, Paris, 1974, tr.750) (Cao Việt Dũng dịch)... Bộ sách Thượng sĩ ngữ lục có niên đại sớm nhưng do nhiều người biên soạn, tập hợp văn bản từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm nhiều thể loại, có cả tác phẩm của chính Trần Tung hoặc người khác ghi chép về Trần Tung, thậm chí chép lẫn cả thơ văn người khác. Đến nay, vấn đề văn bản học của bộ sách Thượng sĩ ngữ lục đã được giải quyết bước đầu khá cơ bản.

Tác phẩm Thượng sĩ ngữ lục là một hợp tập gồm 4 phần. Phần Ngữ lục chủ yếu là những lời giảng về Thiền học dưới hình thức thầy trò vấn đáp, trong đó có lời văn xuôi giống như những công án thiền và bằng cả lối thơ hai câu, thơ ngũ ngôn và thất ngôn tứ tuyệt. Phần thứ hai có 49 bài thơ với nhiều đề tài, thể loại, nội dung, mục đích sáng tác khác nhau. Phần thứ ba là những bài văn phúng tế gồm 8 bài tán của các nhà sư trong phái Trúc Lâm Yên Tử viếng sư thầy Trần Tung. Phần thứ tư có bài Thượng sĩ hành trạng do người khác ghi chép, trong đó có tàng trữ 6 bài kệ của chính Trần Tung. Trên thực tế, phần tác phẩm có ý nghĩa văn học nhất chính là 49 bài thơ của Trần Tung với nhiều sắc thái trữ tình khác nhau.

Trần Tung viết rất ít về lý tưởng hành đạo, chuyện nhân gian, thế sự, cuộc đời. Những bài thơ đề vịnh thể hiện khẩu khí ngang tàng kiểu như Trụ trượng tử (Chiếc gậy) chiếm số lượng không nhiều:

Nhật nhật trượng trì tại chưởng trung,

Hốt nhiên như hổ hựu như long.

Niêm lai khước khủng sơn hà toái,

Trác khởi hoàn phương nhật nguyệt lung.

Tam xích song lâm hà xứ hữu?

Lục hoàn Địa Tạng khoái nan phùng.

Túng nhiên thế đạo kỳ khu thậm,

Bất nại tòng tiền bột tốt ông.

Huệ Chi dịch thơ:

Ngày lại ngày qua tay vững gậy,

Thoắt nhanh như cọp dẻo như rồng.

Vung lên, sông núi e tan nát,

Dựng dậy, trời trăng sợ mịt mùng.

Ba thước song lâm tìm mỏi mắt,

Sáu vòng Địa Tạng kiếm hoài công.

Dẫu cho đường tục chông gai mấy,

Lão chẳng như xưa bước ngại ngùng.

Một vài bài thơ của ông có nhắc đến người này người khác thì lại thường là tiếng thơ khuyên con người tìm về với đạo Phật, thăm Đại sư Tăng Điền, viết đùa thiền sư Trí Viễn xem kinh giảng nghĩa, ca ngợi đạo học của thiền sư Tiêu Dao, pháp sư Thuần Nhất và Trần Thánh Tông. Riêng trong bài Họa Hưng Trí Thượng vị hầu (Họa thơ Hưng Trí Thượng vị hầu), ông tỏ ý đồng cảm, sẻ chia tâm sự với Trần Quốc Nghiễn, con trai thứ hai của Trần Quốc Tuấn:

Thiền phong vô hậu diệc vô tiền,

Bản thể như như chỉ tự nhiên.

Thiếu Thất cửu niên vô nhất ngữ,

Hoàng Mai bán dạ giả đơn truyền.

Tâm cơ bất quải ti hào niệm,

Khẩu nghiệp hà lao gián trạch nghiên (ngôn).

Vị báo nguyên quân Trần xử sĩ,

Nhất thanh lãnh nhạn độ sương thiên.

(Phong độ Thiền không trước cũng không sau,

Bản thể tròn đầy mãi mãi là điều tự nhiên.

Chín năm ở Thiếu Thất không nói một lời,

Nửa đêm ở Hoàng Mai lập kế truyền đạo cho một người.

Tâm cơ không vướng mảy may ý nghĩ,

Nghiệp miệng cần gì phải chọn lời cho mệt.

Xin báo cho nguyên quân xử sĩ họ Trần,

Một tiếng nhạn lạnh lùng bay qua trời sương)

Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, khi giặc chịu lui quân, vua Trần hạ lệnh không đánh nữa nhưng Quốc Nghiễn vẫn vây đánh nên không được trọng thưởng. Có thể sau này ông lui về sống cuộc đời ẩn dật bình dị nên Trần Tung mới gọi ông là “Trần xử sĩ”.

Khác biệt với âm hưởng thơ Thiền đời Lý, Trần Tung có mấy bài thơ in đậm phong cách một cư sĩ phóng khoáng, một tiếng nói của thiền Đại thừa, một người hướng về đạo Phật nhưng không quá bị ràng buộc bởi những tín điều hình thức. Nhiều khi ông nói đến ý nguyện thoát đời, lui khỏi trường danh lợi, tìm về với thế giới tự nhiên thanh tĩnh, nhấn mạnh hình ảnh con người gần với đạo tu tiên, thể hiện chí tiêu dao, tự do, tự tại. Một mặt, Trần Tung tỏ ý ly tâm với cõi đời, bộc lộ tâm thế Xuất trần (Ra khỏi bụi trần), Thoát thế (Thoát đời), Thoái cư (Lui về), thấy được cái kết cuộc cuối cùng ở phía trước Vạn sự qui như (Muôn việc đều về cõi chân như), Thế thái hư huyễn (Cõi đời hư ảo); nhưng mặt khác lại không thoát được những ràng buộc của kiếp nhân sinh một khi còn hiện diện trên đời, trước sau vẫn không thể xa lánh được thực tại với con đường Nhập trần (Vào vòng cát bụi), có lúc Đốn tỉnh (Chợt tỉnh) và thấy Phàm thánh bất dị (Phàm thánh chẳng có gì khác nhau), Mê ngộ bất dị (Mê lầm và giác ngộ không có gì khác nhau). Từ đây xuất hiện một lối ứng xử, một kiểu nhân cách tăng sĩ độc đáo mà ngay các nhan đề Chiếu thân (Soi mình), Giang hồ tự thích (Vui thích giang hồ),... cũng biểu lộ rõ thái độ của người viết. Với bài Phóng cuồng ngâm (Bài ngâm cuồng phóng), Trần Tung thể hiện là bậc thiền sư đạt đạo, sống giữa cõi đời mà đứng cao hơn nhân gian, nhập thế mà biết gián cách thoát thế, làm chủ thân tâm và biết an vui, hòa nhập với từng giây lát thực tại:

Cơ tác xan hề hòa la phạn,

Khốn tắc miên hề hà hữu hương.

Hứng thời xuy hề vô khổng địch,

Tĩnh xứ phần hề giải thoát hương.

Huệ Chi - Đỗ Văn Hỷ dịch thơ:

Đói thì ăn chừ, cơm tùy ý,

Mệt thì ngủ chừ, làng không làng!

Hứng lên chừ, thổi sáo không lỗ,

Lắng xuống chừ, giải thoát đốt nhang.

Trong phần kết bài thơ, Trần Tung nhấn mạnh sự thấu hiểu mối quan hệ giữa đời và đạo, sự biến dịch của thời gian và sự sống. Con người đạt đạo ấy không đối lập giữa đời và đạo, chỉ mong kiếm tìm lẽ đạo như một phép xử thế trước cuộc đời, một thế ứng xử nhân văn trước thực tại với những giàu sang, bể hoạn, ấm lạnh thói thường, nông sâu, dụng xả, hành tàng, xuất xử... Trên tất cả, ông nhận thức được giá trị của tự do, phóng chiếu sức mạnh của bản ngã và hạnh phúc bởi sự thỏa nguyền “được nơi ta muốn”:

Đốt đốt phù vân hề phú quý,

Hu hu quá khích hề niên quang.

Hồ vi hề quan đồ hiểm trở,

Phả nại hề thế thái viêm lương.

Thâm tắc lệ hề thiển tắc yết,

Dụng tắc hành hề xả tắc tàng.

Phóng tứ đại hề mạc bả tróc,

Liễu nhất sinh hề hưu bôn mang.

Thích ngã nguyện hề đắc ngã sở,

Sinh tử tương bức hề ư ngã hà phương.

Huệ Chi - Đỗ Văn Hỷ dịch thơ:

Ối ôi! Giàu sang chừ, lưng trời mây nổi,

Chà chà! Năm tháng chừ, bóng ngựa lướt ngang!

Nói sao chừ, chông gai bể hoạn,

Tạm quen chừ, ấm lạnh thói thường!

Sâu thì dấn chừ, nông thì xắn vén,

Dùng thì làm chừ, bỏ thì ẩn tàng.

Buông hình hài chừ, chớ chạy quàng.

Thỏa ước nguyền ta chừ, được nơi ta muốn,

Sống, chết thôi thúc chừ, lòng ta coi thường.

Đặc biệt trong bài Trừu thần ngâm (Bài ngâm bĩu môi), Trần Tung trực diện bày tỏ chính kiến:

Qui dư đạo ẩn hề sơn lâm,

Khôi khước lợi danh hề triều thị.

(Về thôi! Ẩn đạo nơi rừng núi,

Nguội lạnh lợi danh chốn triều đình, đô hội)...

Chiếm phần chủ yếu trong thơ Trần Tung là những suy nghiệm về lẽ chân tâm, chân như, hư không theo tinh thần Phật giáo nhưng vẫn chú trọng sự tu dưỡng cá nhân và nội lực bản ngã, ý thức tự tại, tự soi nhìn lại chính mình. Trần Tung có nhiều bài thơ đề vịnh, đề tặng, thơ thăm, xướng họa, chúc tụng, đùa vui với các sư thầy và đạo hữu. Ông vừa có những bài thơ răn dạy chúng dân đệ tử hãy ngưỡng vọng về Phật giáo (gợi bảo người học đạo, người chân tu, thấy muôn việc đều qui về cõi chân như và ngợi ca tấm gương Trần Thánh Tông học đạo Phật...), vừa tỏ ý ham vui giữa cõi đời, an nhiên giữa cuộc đời (lui về chốn an nhàn, vui với đời theo cách nhìn đời của Phật giáo và hát bài ca “cuồng phóng”...), đồng thời nâng cấp, đòi hỏi sự thông hiểu về Phật giáo ở một trình độ cao (bàn về chữ tâm, sự nuôi dưỡng chân tính, tính chất hư ảo của cõi đời...). Trong rất nhiều bài thơ, Trần Tung thường đề cao các mối liên hệ, các tương quan giữa Phật và tâm, sinh và tử, phàm và thánh, mê lầm và giác ngộ, trì giới và nhẫn nhục... Bước đầu thơ ông đã bộc lộ dấu hiệu tiếng nói con người cá nhân phá cách, tiếng nói trữ tình hướng nội, tự mình chiêm nghiệm và tìm đến niềm an lạc theo cung cách riêng của mình. Ngay đối với các vấn đề căn bản của Phật giáo, ông vẫn bày tỏ theo một cách nhìn, một cách cảm nhận riêng. Trong bài thơ Tự tại, Trần Tung gián cách mình với cuộc sống đời thường, vượt qua những thiên kiến cố chấp, đạt đến chí “vô phân biệt”. Sài môn mao ốc cư tiêu sái – Vô thị vô phi tự tại tâm (Cửa liếp nhà tranh, ăn ở thảnh thơi - Không “thị” không “phi”, lòng ung dung tự tại)...

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
  • Bánh cuốn Thanh Trì (phường Vĩnh Hưng - TP Hà Nội: Hương vị mộc mạc lưu giữ ký ức Hà thành
    Giữa sự thay đổi không ngừng của văn hoá ẩm thực Hà Nội, bánh cuốn Thanh Trì vẫn giữ được dấu ấn riêng bằng hương vị giản dị và kỹ thuật chế biến thủ công đặc trưng. Từ những gánh hàng rong xưa đến những cơ sở sản xuất ngày nay, món ăn làm từ hạt gạo quê này không chỉ phản ánh nét tinh tế trong văn hóa ẩm thực Thủ đô mà còn lưu giữ câu chuyện về một nghề truyền thống đã được duy trì qua nhiều thế hệ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Video] “Khúc quân hành” năm 2026: Một thập kỷ bền bỉ lan toả nghĩa tình đền ơn đáp nghĩa
    Tiếp nối thành công của 9 lần trước, năm 2026, Chương trình "Khúc quân hành” lần thứ X do Tạp chí Người Hà Nội tổ chức, đã diễn ra từ ngày 18 đến 21/7 tại các xã Đông Khê, Trường Hà - tỉnh Cao Bằng và Thủ đô Hà Nội. Chương trình là hoạt động thiết thực kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); hướng tới 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026). Chương trình Khúc quân hành năm 2026 đánh dấu một thập kỷ vun đắp và lan tỏa truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” tốt đẹp của dân tộc.
  • Giải thưởng Victor Tardieu 2026: Tôn vinh và tiếp sức cho những tài năng mỹ thuật trẻ
    Chiều 25/7, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam tổ chức Lễ trao Giải thưởng Victor Tardieu 2026, vinh danh những sinh viên có tác phẩm tốt nghiệp xuất sắc. Ở mùa giải thứ hai, giải thưởng tiếp tục khẳng định vai trò là bệ phóng cho các tài năng mỹ thuật trẻ.
  • Quy định mới về tiền bản quyền trong các lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật, báo chí và xuất bản
    Trong Nghị định số 287/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 17 tháng 7 năm 2026, các quy định về tiền bản quyền đối với lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản đã được cụ thể hóa minh bạch với nhiều khung định mức chi tiết, đáp ứng tính đặc thù của từng hoạt động sáng tạo và khai thác tác phẩm.
  • Viện Phim Việt Nam tổ chức chương trình chiếu phim tri ân Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7
    Viện Phim Việt Nam vừa chính thức khai mạc chương trình chiếu phim đặc biệt nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026). Sự kiễn ra từ ngày 27/7 đến hết ngày 29/7/2026 tại rạp Ngọc Khánh, số 523 Kim Mã, phường Giảng Võ, Hà Nội, sự kiện là hoạt động vô cùng ý nghĩa nhằm tri ân, tưởng nhớ các Anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và những người có công với cách mạng đã không tiếc máu xương cống hiến vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
  • [Podcast] Nguyên tắc thí điểm cơ chế, chính sách
    Luật Thủ đô năm 2026 xác định rõ phạm vi thí điểm, tập trung vào các lĩnh vực có tính đột phá giúp thành phố có thể xây dựng, triển khai mô hình quản trị mới tiên tiến, hiện đại phù hợp với xu thế phát triển các nước trong khu vực và thế giới. Đồng thời, luật cũng tận dụng huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực để phát triển Thủ đô, cũng như các giải pháp xử lý những vấn đề cấp bách ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của người dân trên địa bàn.
Đừng bỏ lỡ
  • Từ giai điệu "Hà Nội mùa thu" đến sức sống của một không gian văn hóa cộng đồng
    Trong không gian Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội), chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 26/7 không chỉ mang đến những giai điệu Jazz đặc sắc mà còn mở ra một cách cảm nhận mới về Hà Nội. Điểm nhấn của chương trình là ca khúc “Hà Nội mùa thu” của nhạc sĩ Vũ Thanh đã đưa hình ảnh Thủ đô hiện lên bằng vẻ đẹp tinh tế, giàu chiều sâu văn hóa, qua đó khẳng định vai trò của nghệ thuật trong việc kiến tạo không gian văn hóa cộng đồng và lan tỏa những giá trị bền vững của thành phố.
  • Phát động cuộc thi sáng tác thơ, âm nhạc, nhiếp ảnh hướng tới Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương
    Cuộc thi là cơ hội khuyến khích đội ngũ văn nghệ sĩ và các tầng lớp Nhân dân phát huy sáng tạo, tìm kiếm những nhân tố mới nhằm bổ sung nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của tỉnh.
  • Đặc sắc chương trình nghệ thuật Bún Bò Huế “Huyền tích Vân Cù và bản giao hưởng Hương Ngự”
    Các nghệ nhân, đầu bếp và chuyên gia ẩm thực đến từ 3 miền Bắc - Trung – Nam chế biến 300 tô Bún bò Huế cùng một lúc theo quy trình truyền thống đã lập Kỷ lục Việt Nam.
  • Phát động Cuộc thi "Sáng tạo IP văn hóa từ di sản Phở Hà Nội"
    Cuộc thi "Sáng tạo IP văn hóa từ di sản Phở Hà Nội" đánh dấu bước chuyển mình trong cách tiếp cận di sản, giúp lan tỏa các giá trị truyền thống, kích cầu du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa. Đồng thời, đây cũng là khởi đầu quan trọng giúp thành phố chuẩn bị các nguồn lực tư liệu cần thiết, phục vụ thành phố xây dựng hồ sơ khoa học trình UNESCO ghi danh Phở.
  • Để ký ức Hà Nội ngân lên trong những giai điệu cuối tuần
    Có những ca khúc đã vượt qua giới hạn của thời gian để trở thành một phần ký ức của thành phố. Mỗi lần giai điệu ấy cất lên, Hà Nội như hiện diện gần hơn trong cảm nhận của người nghe. Chiều 26/7, chương trình "Âm nhạc cuối tuần" tại Nhà Bát Giác sẽ đưa công chúng bước vào hành trình âm nhạc nơi những bản tình ca về Hà Nội gặp gỡ tinh thần jazz thế giới, góp thêm một sắc màu cho đời sống văn hóa của Thủ đô.
  • “Nét duyên Chèo Hà thành”: Từng bước hình thành những sản phẩm văn hóa đặc trưng của Thủ đô
    Tối 24/7, tại Rạp Đại Nam, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội ra mắt Chương trình nghệ thuật “Nét duyên Chèo Hà thành” do Nhà hát Chèo Hà Nội thực hiện.
  • Công bố Lễ hội Di sản và Âm nhạc Quốc tế Huế - Huế Wonderverse Music Fest 2026
    Lễ hội Di sản và Âm nhạc Quốc tế Huế - Huế Wonderverse Music Fest nhằm hiện thực hóa chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa của Chính phủ và định hướng xây dựng Huế trở thành Thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam.
  • Ca khúc “Hàng bia trắng”: Khi giai điệu hóa thành nén tâm nhang tri ân
    Kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7), nhạc sĩ Nguyễn Thành Trung vừa ra mắt ca khúc “Hàng bia trắng”. Tác phẩm vừa được giới thiệu trong chương trình nghệ thuật chính luận “Một thời hoa lửa” do Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với các đơn vị tổ chức tại Hà Nội tối 22/7. Qua chất giọng giàu nội lực và cảm xúc của Quán quân Sao Mai 2017 Thu Thủy cùng tiếng cello của nghệ sĩ Thiên Nga, tiếng guitar của nghệ sĩ Thanh Tùng, ca khúc đã góp phần lan tỏa thông điệp tri ân sâu sắc.
  • Khai mạc tuần phim kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
    Tối 21/7, tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia (Hà Nội), Bộ VHTTDL tổ chức Lễ khai mạc Tuần phim Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026). Tuần phim sẽ diễn ra từ ngày 21 – 28/7/2026 tại hơn 190 cụm rạp trên toàn quốc.
  • Đưa Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam trở thành biểu tượng hội tụ bản sắc văn hóa dân tộc
    Việc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam được chuyển giao về thành phố Hà Nội quản lý không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với thiết chế văn hóa đặc biệt này mà còn tạo thêm động lực để Thủ đô hiện thực hóa mục tiêu đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển. Đó là định hướng được nhấn mạnh trong Thông báo số 573-TB/TU ngày 16/7/2026 của Văn phòng Thành ủy về kết luận của đồng chí Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy tại buổi làm việc với Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.
Trần Tung – nhà thiền học yêu nước
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO