Văn hóa – Di sản

Từ Đạo Hạnh – thiền sư, thi nhân

Anh Chi 29/10/2023 16:37

Từ Đạo Hạnh là pháp danh, còn tên thật là Từ Lộ. Ông là thiền sư và là nhà thơ nổi tiếng thời Lý. Chưa thấy tài liệu nào ghi về ngày sinh của Từ Lộ, chỉ biết ông sống vào thời Lý Nhân Tông (1072 - 1128), và qua đời năm 1117. Ông người hương Yên Lãng, tục gọi làng Láng, một làng rất cổ ở ven thành Thăng Long xưa.

Thời Lê Sơ, Yên Lãng thuộc huyện Vĩnh Thuận, phủ Phụng Thiên, kinh thành Thắng Long (nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội). Sách Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên (đời Trần) cho biết, đời Lý Thánh Tông (1054 - 1072) ở hương Yên Lãng có người con gái là Tằng Thị Loan lấy đạo sĩ Từ Vinh, sinh ra Từ Đạo Hạnh. Ngôi chùa Láng của hương Yên Lãng đẹp và cổ kính giữa vườn rừng thâm nghiêm, có cây thông già gần ngàn năm tuổi, từ xưa đã nổi tiếng là đệ nhất tùng lâm ở cổ đô Thăng Long. Chùa được lập từ đời Lý Thần Tông (1128 - 1138), trên nền cũ nhà ông, là Từ Vinh, Tằng Thị Loan. Đặc biệt, trong chùa có pho tượng Từ Đạo Hạnh, không tạc bằng gỗ hay đá, mà đan bằng mây, bên ngoài bó sơn ta, thật đẹp và hiếm thấy trong các chùa khác ở xứ bắc...

thien-su-tu-dao-hanh-2-1745.png
Tượng Thiền sư Từ Đạo Hạnh tại chùa Thầy. Ảnh: Internet

Truyền thuyết xuất thân và sự thực của gia thế họ Từ ở Yên Lãng nhiều khi được truyền tụng trong đời sống rất lạ lùng. Nhất là những chuyện truyền tụng về Tăng quan đô án Từ Vinh bị pháp sư Đại Điên giết chết, và con trai ông là thiền sư Từ Đạo Hạnh tu luyện đạo pháp trả thù cho cha. Điều đó không lấy làm lạ, vì thời nhà Lý người ta rất chuộng đạo Phật. Các vua Lý đều chăm việc làm chùa, đúc chuông, tô tượng; nhiều tăng sư được cử làm chức Quốc sư, được ra vào chốn triều đường, tham dự các việc triều chính. Vương triều Lý còn mở khoa thi Bạch liên hoa để kén chọn những vị sư hay các tín đồ có đạo học cao, để bổ dụng. Từ Vinh là người đỗ khoa thi ấy, và được bổ chức Tăng quan đô án ở kinh thành. Sau, ông lấy bà Tằng Thị Loan ở làng Láng, về sống ở đó và sinh được Từ Lộ. Từ Lộ thông minh, khi còn bé đã có chí khác thường, ban ngày thì cùng bạn lứa chơi các trò đá cầu, múa kiếm, tối đến đóng chặt cửa phòng, dong đèn nghiên cứu sách vở suốt đêm. Từ Lộ có bản tính hào hiệp, nghĩ sâu các lẽ, những hành động, lời nói thì không ai đoán trước được. Loại trừ lớp áo truyền thuyết về việc Từ Vinh hay dùng tà thuật làm việc không hay, bị pháp sư Đại Điên dùng pháp thuật giết chết, rồi Từ Lộ tu luyện thành đạo về báo thù…, ta thấy có một Từ Lộ với pháp danh là Từ Đạo Hạnh tu ở chùa Thiên Phúc, trên núi Phật Tích (ở Quốc Oai, Hà Nội ngày nay). Loại trừ những truyền tụng về phép tu của Từ Đạo Hạnh gần với phái Mật Tông, tinh thông đạo pháp để rửa thù báo oán, rồi hóa Thánh..., có thể biết ông là thiền sư thuộc thế hệ thứ mười hai của dòng thiền Nam phương. Học giả Phan Huy Chú có viết trong sách Lịch triều hiến chương loại chí: “Chùa Phật Tích ở xã Thụy Khuê, huyện Yên Sơn, có tên nữa là Sài Sơn, lại gọi là Cổ Sài, cảnh núi rất đẹp. Chân núi có hồ, trên núi có hang sâu, là chỗ Từ Đạo Hạnh trút xác ở đây. Tại vách đá còn có dấu vết đầu và gọt chân. Trong núi có viện Bồ Đà, am Hương Hải đều là Từ Đạo Hạnh làm ra. Nay là chùa Phật Tích”. Để lại những dấu ấn như vậy ở một ngôi chùa nơi vùng núi Sài Sơn, chứng tỏ Từ Đạo Hạnh phải chuyên sâu việc thiền đạo đến ngần nào. Và Từ Lộ cũng là một văn nhân danh tiếng của thời đại ông, còn để lại cho đời bốn bài thơ, “đều là những tác phẩm giãi bày triết lý đạo Thiền”(Từ điển văn học, 1984). Đó là các bài Vấn Kiều Trí Huyền (Hỏi Kiều Trí Huyền), Thất châu (Mất hạt châu), Hữu không (Có và không) và Thị tịch cáo đại chúng (Sắp mất bảo mọi người).

Chúng tôi muốn lưu ý với bạn đọc rằng, trên tiến trình văn học nước ta, giai đoạn văn học thời Lý là giai đoạn rất đặc biệt, bởi đó là thời xuất hiện rất nhiều các văn nhân là những nhà sư và nhà chính trị. Vậy nên, những tác phẩm văn chương thời Lý còn lại với hậu thế cũng phản ánh khá rõ tâm hồn và ý thức xã hội đương thời. Xin đơn cử một đặc điểm mà chúng tôi mạnh dạn cho là duy nhất có ở thời Lý: về thơ, chủ yếu là thơ thiền (như thơ của Lã Định Hương, Thiền Lão, Mãn Giác...); còn về văn, chủ yếu ghi lại những việc lớn trong đời sống xã hội của đất nước hay của một vùng quê (như văn của Lý Thái Tổ, Lý Thường Kiệt, Lý Nhân Tông...). Thơ của Từ Lộ cũng là thơ thiền của thời Lý. Bài Hỏi Kiều Trí Huyền, có lẽ ông viết khi chưa đắc đạo, nên lời thơ bộc lộ nỗi băn khoăn đau khổ cùng lòng mong mỏi của một người đi kiếm tìm chân lý:

Cửu hỗn phàm trần vị thức câm (kim),

Bất tri hà xứ thị chân tâm.

Nguyện thùy chỉ đích khai phương tiện,

Liễu kiến như như đoạn khổ tầm.

(Lăn lóc giữa cõi trần mà chưa nhận rõ vàng (thau),

Chẳng biết chốn nào là chân tâm.

Mong người rủ lòng chỉ cho biết cách,

Thấy rõ chân tâm đỡ khổ công tìm)

Qua bài thơ, biết Từ Lộ đã phải trăn trở, day dứt nhiều ngày “giữa cõi trần”, để tìm tới chân lý ở cõi người. Và đến bài Mất hạt châu, thì ông đã nhận biết được chân lý. Nhưng, ông lại thấy buồn cho người đời không mấy ai đạt tới cái chân lý ở ngay giữa đời (bài Mất hạt châu):

Nhật nguyệt xuất nham đầu,

Nhân nhân tận mất châu.

Phú nhân hữu câu tử, Bộ hành bất ky câu.

(Mặt trời mặt trăng kế nhau mọc nơi đầu núi,

Cõi đời này người người đều đánh mất ngọc của mình,

Như anh nhà giàu có con ngựa quý,

Lại không cưỡi, mà chỉ đi chân không)

Có một nhà nghiên cứu đã đưa ra những con số thống kê rằng, từ các học giả xưa như Lê Quý Đôn (1726 - 1784), tiếp nữa là rất nhiều nhà sưu tầm nghiên cứu các đời sau, cho đến nay mới tìm thấy được 126 bài thơ hoặc văn đời Lý. Nếu tính cả triều Lý dài 216 năm, đem lượng bài văn, thơ tìm được chia đều cho thời gian, thì khoảng 2 năm có được 1 bài! Như vậy mới hiểu, Từ Lộ để lại 4 bài thơ đến hôm nay là rất quý hiếm. Hơn thế, trong số đó, bài Có và không là một bài thơ thật hay trong kho tàng thơ ca dân tộc:

Tác hữu trần sa hữu,

Vi không nhất thiết không.

Hữu, không như thuỷ nguyệt,

Vật trước hữu không không.

Bài Có và không của Từ Lộ viết chín trăm năm trước, là thơ thiền, nhưng rất trữ tình, hình tượng lớn lao, xúc cảm sâu xa lạ thường. Đã không ít người dịch Có và không ra quốc văn, ở đây chúng tôi dùng bản dịch ra thể lục bát tương truyền là của Huyền Quang (1254-1334), thiền sư, cũng là nhà thơ danh tiếng đời Trần:

Có thì có tự mảy may,

Không thì cả thế gian này cũng không.

Vầng trăng vằng vặc in sông,

Chắc gì có có, không không mơ màng.

Còn có truyền thuyết, khi trút bỏ xác trần, Từ Lộ đầu thai thành vua Lý Thần Tông. Có lẽ vì thế mà ở chùa Láng thờ cả Từ Đạo Hạnh và Lý Thần Tông, là hai kiếp sống tại thế của Từ Lộ! Lại có chuyện lưu truyền trong dân gian vùng Sài Sơn, thiền sư Từ Đạo Hạnh do có những hiểu biết uyên bác về nho, y, lý, số nên thường làm thuốc trị bệnh cứu người. Ông còn thích múa, hát, và thường dạy dân diễn trò múa rối, nên dân chúng gọi ông là “Thầy”. Rồi ngôi chùa cùng ngọn núi mà Từ Lộ tu trì, tĩnh tọa cũng có tên là chùa Thầy, núi Thầy. Từ Lộ sống giữa cuộc đời, giữa những con người trong dân gian, đó là lẽ đời thực giản dị. Từ lộ đã lăn lóc giữa trần đời, như ông viết trong thơ, đó là lẽ đời thường tình. Và cuối cùng, tới cõi, ông cũng có bài thơ Sắp mất bảo mọi người:

Thu lại bất báo nhạn lai quy,

Lãnh tiểu nhân gian động phát bi.

Vị báo môn nhân hưu luyến trước,

Cổ sư kỷ độ tác kim si (sư).

(Mùa thu về không báo chim nhạn cùng về, Đáng cười người đời cứ nảy sinh buồn thương (trước cái chết). Khuyên các môn đồ chớ vì ta mà quyến luyến, Thầy xưa đã bao lần hóa thân thành thầy nay).

Bài thơ Sắp mất bảo mọi người là một sự thực cuộc đời Từ Lộ, đã được ông viết thành thơ. Thơ của một người sắp từ giã mọi người, ngoái lại nhìn cõi thế, nên thơ ấy điềm nhiên, bình thản và cũng sâu sắc vô cùng. Chính bởi vậy, ngót ngàn năm qua, thơ thiền của Từ Lộ vẫn sống trong đời sống tinh thần người Việt Nam ta!

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa Hà Nội trong kỷ nguyên mới
    Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage Flow” (từ 11 - 20/9) mở rộng cả về nội dung, không gian và phương thức tổ chức, là sự khẳng định tầm nhìn, hành động thiết thực thúc đẩy quá trình phát triển của công nghiệp văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Từ những trang sách đến không gian văn hóa tri thức của Thủ đô
    Thành ủy Hà Nội ban hành Chương trình hành động số 16-CTr/TU ngày 24/8/2026 thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới. Đây không chỉ là định hướng phát triển một lĩnh vực thuộc đời sống tư tưởng, văn hóa, mà còn đặt ra yêu cầu xây dựng hệ sinh thái xuất bản, thư viện và văn hóa đọc hiện đại, qua đó bồi đắp đời sống tinh thần, khơi mở tri thức và góp phần làm sâu sắc thêm bản sắc văn hóa Thăng Long – Hà Nội.
  • Bảo tàng Hà Nội hòa dòng chảy sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa
    Là thiết chế văn hóa quan trọng của Thủ đô, cùng với việc lưu giữ và phát huy giá trị di sản, Bảo tàng Hà Nội đã, đang trở thành điểm đến của các sự kiện văn hóa nghệ thuật góp phần phát triển công nghiệp văn hóa Hà Nội trong thời kỳ mới. Đáng chú ý, Bảo tàng Hà Nội sẽ là nơi gặp gỡ giữa di sản, nghệ thuật, sáng tạo và cộng đồng, đưa những giá trị văn hóa của Thủ đô đến gần hơn với công chúng qua các hoạt động thuộc Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026 vào tháng 9 này.
  • Khi những giai điệu truyền thống hoà quyện cùng tinh hoa jazz thế giới
    Chiều 6/9, tại Nhà Bát giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” với sự tham gia của NSƯT Quyền Văn Minh cùng các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club đã đem đến cho công chúng một cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa những giai điệu quen thuộc của Việt Nam hoà quyện với tinh hoa jazz thế giới. Từ “Hà Nội - Niềm tin và hy vọng”, “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa” đến “Hà Nội 12 mùa hoa”, hình ảnh Thủ đô được tiếp nối bằng ngôn ngữ âm nhạc giàu sức sáng tạo.
  • “Âm nhạc cộng đồng” góp thêm sắc màu truyền thống cho đời sống văn hóa Hà Nội
    Tối 6/9, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội) chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội thực hiện đã đưa khán giả đi qua nhiều miền ký ức và sắc màu văn hóa bằng ngôn ngữ chung của âm nhạc. Từ những giai điệu mang âm hưởng Tây Bắc đến các ca khúc viết về Tổ quốc, về Thủ đô ngàn năm văn hiến đến khát vọng của thế hệ trẻ, đêm diễn mang đến một dòng chảy âm nhạc kết nối quá khứ với hiện tại, truyền thống với hơi thở đương đại.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội: Khi văn hóa trở thành nguồn lực kiến tạo tương lai
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 100-KH/TU ngày 28/8/2026 về chỉ đạo triển khai “Ngày Văn hóa Việt Nam” trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030. Không chỉ là một hoạt động văn hóa thường niên, Kế hoạch đặt “Ngày Văn hóa Việt Nam” trong một tầm nhìn rộng hơn: trở thành điểm hội tụ để tôn vinh, lan tỏa các giá trị văn hóa, khơi dậy sức sáng tạo và từng bước đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển của Thủ đô.
  • Hà Nội lấy ý kiến người dân về điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
    Hà Nội chuẩn bị lấy ý kiến người dân, chuyên gia và các cơ quan liên quan về điều chỉnh tổng thể quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở.
  • Nhà thơ Cao Ngọc Thắng: Cần mẫn cày ải trên cánh đồng chữ…
    Tôi biết Cao Ngọc Thắng khá sớm, quãng những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Lần đầu tôi gặp ông tại 58 Quán Sứ, Hà Nội, trụ sở của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Khi ấy, ông mới vào cuộc đời làm báo, còn tôi cũng vậy. Cao Ngọc Thắng nguyên là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đóng chân ở Xuân Hòa (Vĩnh Phú cũ), còn tôi thì nguyên là kỹ sư canh nông ở mãi vùng biên giới Tây Nam, Bảy Núi, An Giang. Vì những duyên do khác nhau, cả hai đều bỏ nghề chuyên môn, chọn Thủ đô để theo nghề báo chuyên nghiệp.
  • “Những lớp phù sa” kể chuyện văn hóa Bắc Bộ trên sân khấu đương đại
    Từ hình tượng một giọt nước bắt đầu hành trình theo dòng sông Hồng, “Những lớp phù sa” mở ra câu chuyện về đất, người và những lớp ký ức văn hóa Bắc Bộ. Kết hợp múa dân gian đương đại với âm nhạc truyền thống, nghệ thuật thị giác và công nghệ đa phương tiện, chương trình hướng tới một cách kể mới về những giá trị văn hóa đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
  • "Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai" 2026: Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai
    Lễ hội mang chủ đề "Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai", dự kiến chính thức diễn ra từ ngày 01/10 đến ngày 04/10/2026 tại không gian Hoàng thành Thăng Long. Sự kiện quy tụ nhiều hoạt động phong phú như Lễ hội âm nhạc “Hòa nhạc năm châu”, Làng Văn hóa Thế giới, Lễ hội đường phố “Sắc màu năm châu”, Lễ hội “Ẩm thực năm châu”, chương trình chiếu phim, cùng khu vực trải nghiệm sáng tạo từ di sản với Festival Games Quốc tế...
  • [Podcast] Tản văn: Quán cóc
    Gọi là “quán trà/ quán cóc” theo thói quen chứ thực ra hầu hết là các hàng trà chén ngồi ghé đầu hè, đầu ngách, nép bên cột điện, gốc cây..., chứ chẳng có lều có quán gì! Không nhẽ gọi là “quán trà - không quán”!
  • Trao giải cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”
    Vào 19h30, ngày 4/9 tại Thái Học, Văn Miếu – Quốc Tử Giám sẽ diễn ra Đêm Chung kết và Lễ trao giải Cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”.
  • Chương trình nghệ thuật “Giai điệu Tổ quốc” lan tỏa tình yêu quê hương, đất nước
    Tối 31/8, tại xã Bát Tràng, Nhà hát Cải lương Hà Nội tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề "Giai điệu Tổ Quốc", chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2026).
  • Cận cảnh lăng mộ vị vua thứ 6 triều Nguyễn trị vì 130 ngày
    Trị vì được 130 ngày thì mất, vị vua thứ 6 triều Nguyễn có lăng mộ nằm giữa rừng thông khá khiêm tốn nhưng vẫn đảm bảo tính uy nghiêm về khu lăng mộ của một bậc hoàng đế.
  • Người dân thích thú với "bữa tiệc" ánh sáng quanh hồ Hoàn Kiếm
    Trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, hồ Gươm là một trong những điểm đến thu hút đông đảo người dân và du khách với không gian cảnh quan được chỉnh trang, khoác lên diện mạo mới cùng hệ thống chiếu sáng nghệ thuật hiện đại, giàu tính thẩm mỹ.
Từ Đạo Hạnh – thiền sư, thi nhân
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO