Văn hóa – Di sản

Trần Thái Tông – một hoàng đế anh hùng của Việt Nam, nhà thiền học, nhà thơ

Tạ Ngọc Liễn 30/10/2023 10:44

Trần Thái Tông, tức Trần Cảnh (1218-1277) vị vua mở đầu triều Trần (1226-1400), người anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông xâm lược lần thứ nhất 1258, nhà Thiền học và nhà thơ, có cuộc đời riêng đầy bi kịch.

Theo sắp xếp của Trần Thủ Độ, lúc ấy đang giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ, Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng, vua nhà Lý (do Lý Huệ Tông không có con trai nhường ngôi cho). Sau được Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi, Trần Cảnh lên làm vua (miếu hiệu là Thái Tông), phong Chiêu Hoàng làm Hoàng hậu. Nhưng vì lấy nhau gần chục năm mà Hoàng hậu vẫn không sinh con, nên Trần Thủ Độ lại ép Trần Cảnh bỏ Lý Chiêu Hoàng, để lấy chị bà là Thuận Thiên, vợ Trần Liễu, anh ruột Trần Cảnh khi đang có mang. Trần Liễu căm phẫn nổi binh chống lại, song thế yếu phải xin hàng. Trần Thủ Độ định giết Trần Liễu nhưng Trần Thái Tông đã ra sức bảo vệ, sau đó lấy đất vùng Yên Sinh (thuộc huyện Đông Triều) cho Trần Liễu làm ấp thang mộc và phong là Yên Sinh Vương ở đất ấy.

Đức khoan dung không giết anh của Trần Thái Tông được Trần Dụ Tông (1341-1369), vua thứ bẩy của nhà Trần, làm một bài thơ ca ngợi rất hay:

Đường Việt khai cơ lưỡng Thái Tông,

Bỉ xưng Trinh Quán, ngã Nguyên Phong.

Kiến Thành tru tử, An Sinh tại,

Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng.

(Khai sáng cơ nghiệp nhà Đường và Đại Việt cùng là hai vua Thái Tông, Vua Đường xưng niên hiệu Trinh Quán, vua Việt niên hiệu Nguyên Phong. Kiến Thành bị giết chết, còn An Sinh thì sống, Miếu hiệu tuy giống nhau nhưng đức độ khác nhau).

Trong bài thơ này, Trần Dụ Tông so sánh cái đức của vua Thái Tông nhà Đường ở Trung Quốc với cái đức của vua Thái Tông đời Trần ở Việt Nam qua sự kiện lịch sử Lý Kiến Thành, con cả Đường Cao Tổ được lập làm Hoàng thái tử (tức là sẽ được làm vua), song bị em là Lý Thế Dân (tức Đường Thái Tông) giết chết ở cửa Huyền Vũ (Huyền Vũ môn), còn Trần Thái Tông không giết anh là An Sinh vương Trần Liễu.

khang-chien-chong-nguyen-mong_1.jpg
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ nhất dưới thời vua Trần Thái Tông. Ảnh VOV

Trần Dụ Tông quả là người có cái nhìn so sánh lịch sử sâu sắc và qua sự so sánh đã nêu bật được tấm lòng độ lượng khoan dung của Trần Thái Tông.

Bi kịch vừa kể trên xảy ra khi Trần Thái Tông ở độ tuổi 20 (1237) và vì quá đau lòng nên một đêm Trần Thái Tông bỏ kinh thành lên núi Yên Tử định đi tu. Trần Thủ Độ phải đem quần thần đến Yên Tử cương quyết mời Trần Thái Tông trở về Thăng Long tiếp tục công việc trị vì đất nước.

Hai mươi năm sau, Trần Thái Tông “tự làm tướng, đốc chiến đi trước xông pha giữa tên đạn” (Đại Việt sử ký toàn thư - Kỷ nhà Trần), đánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ nhất, trở thành người anh hùng trong lịch sử dân tộc. Sau khi chiến thắng quân Nguyên năm 1258, Trần Thái Tông nhường ngôi cho con trai là Hoàng tử Hoàng, tức Trần Thánh Tông, lui về làm Thượng hoàng và chuyên chú vào việc nghiên cứu Phật học.

Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, Trần Thái Tông được người đời ví như một ngọn đuốc thiền học. Những tư tưởng sâu rộng về thiền học của Trần Thái Tông được thể hiện qua một số tác phẩm còn lại của ông như Bài tựa Thiền tông chỉ nam, Bài tựa Chú giải Kinh kim cương Tam muội, Lục thì sám hối khoa nghi. Tất cả đều được ghi lại trong sách Khóa hư lục, một tác phẩm Phật học quan trọng do Trần Thái Tông viết vào thời gian ông làm Thái thượng hoàng (1258-1277).

Khóa hư lục có nghĩa là ghi chép quá trình tu luuyện đạo Phật theo tinh thần kiên trì học tập nhưng không cố chấp để bị trói buộc bởi những giáo điều, nhằm đạt tới sự chứng ngộ hoàn toàn tự do: “Phật cũng không mà Tổ cũng không, không cần trí giới, không cần niệm kinh...”. Đó cũng chính là tinh thần thực tiễn, phá chấp, khai phóng, táo bạo của Phật giáo Thiền tông đời Trần.

Nội dung cốt lõi của tư tưởng thiền học Trần Thái Tông được ông nói rõ ở bài Tọa Thiền luận (Bàn về ngồi Thiền): “Người học đạo chỉ cần kiến tính”. “Kiến tính” là thấy tính. Tính là tâm, tâm là Phật. Phật tính có ở mọi vật, mọi người. Điều cốt yếu đối với một thiền gia là phải thấy rõ Phật tính trong mình. Khi thấy tính có nghĩa là thành Phật. Xuất phát từ tư tưởng “kiến tính thành Phật” để đi tìm chân lý nên trong cuộc đời Trần Thái Tông không ngừng tự thức tỉnh, tinh tiến vươn lên; sống và hành động phóng khoáng, dũng cảm. Hình ảnh Trần Thái Tông là hình ảnh một con người khi làm tướng đánh giặc thì “xông pha giữa tên đạn”, khi làm vua thì sẵn sàng “trút bỏ ngai vàng như trút bỏ đôi dép rách”, như lời nhận xét của sử gia Ngô Thì Sĩ.

Khi nghiên cứu tư tưởng Thiền của Trần Thái Tông, chúng ta không thể không liên hệ đến phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử do Trần Nhân Tông đứng đầu và sẽ thấy, tư tưởng Trần Nhân Tông nói riêng và tư tưởng của phái Trúc Lâm nói chung, thực ra là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời khỏi hệ thống tư tưởng Thiền đời Trần, trong đó nổi bật lên vai trò chủ đạo có ảnh hưởng chi phối của tư tưởng Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ. Ở đây chỉ nói riêng về Trần Thái Tông. Khi Luận về niệm Phật, ông nói: “Người trí có ba hạng: người thượng trí, tâm tức Phật, không cần tu thêm. Niềm tức là bụi, không dung một mảy may. Niềm bụi vốn trong sạch, cho nên nói như, không động tức là thân Phật. Thân Phật tức là thân ta, không có hai tướng. Tướng, tướng không hai, lặng lẽ có thường, có mà không biết, ấy là Phật sống...”.

Như vậy, theo Trần Thái Tông, mục đích của người tu Phật là giác ngộ (Sambodhi); mà sự giác ngộ là do chủ quan quyết định. Muốn giải thoát không phải đi tìm nguyên nhân bên ngoài mà phải tìm nguyên nhân bên trong - nơi tâm ta; bởi vì Phật tính ở trong tâm ta. Điều cốt yếu nhất là phải thấy được Phật tính, thông qua con mắt tuệ, để nắm trọn lấy chân lý đó.

Khi đã có được con mắt tuệ, nghĩa là có được ánh sáng trí tuệ cao nhất thì Phật và ta là đồng nhất. Hiểu được như vậy thì tất cả những cái trói buộc quan niệm ta như chuyện sống, chết, chuyện tọa thiền, thuyết pháp... không còn là chuyện đáng bận lòng. Phật là ở ngoài những cái đó. Có thể nói, Trần Thái Tông cũng như Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Nhân Tông đã đi xa trên con đường phủ định cả tâm, cả Phật.

Trần Thái Tông nói: “Chẳng lấy muôn pháp làm bạn, ai bảo một vật hãy còn. Phật cũng không, tâm cũng không” (Phổ thuyết về lối hướng lên - Khóa hư lục).

Nét đặc sắc trong tư tưởng Thiền học Trần Thái Tông là ông đã giải quyết được mối quan hệ giữa tiếng gọi “không tịch” của nhà Phật với tiếng gọi về một trách nhiệm đối với non sông đất nước. Điều đó được thể hiện qua câu chuyện khi Trần Thái Tông bỏ cung đình vào núi Yên Tử tu hành thì Trần Thủ Độ đem tả hữu đi tìm mời về và nói với Trần Thái Tông rằng: “Bệ hạ vì mục đích tu lấy cho riêng mình mà làm thế thì được, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao? Vì để lời nói suông mà bảo đời sau thì sao bằng lấy chính thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ”. (Trần Thái Tông - Thiền tông chỉ nam tự).

Trần Thái Tông đã nghe theo tiếng gọi đó trở về triều. Mười ba năm sau - năm 1258, Trần Thái Tông đã phá tan quân xâm lược Nguyên-Mông ở Đông Bộ Đầu, giải phóng Thăng Long, hoàn thành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ nhất.

Có lẽ ít thấy trong lịch sử Phật giáo nước nào lại nêu vấn đề “quốc gia xã tắc” ra và giải quyết theo hướng đặt “quốc gia xã tắc” lên trên hết, trước hết như thế.

Ở Việt Nam “quốc gia xã tắc” bao giờ cũng là vấn đề trọng đại nhất. Thái độ đối với “quốc gia xã tắc” chính là thước đo giá trị của mỗi người bất kể họ ở cương vị nào.

Về phương diện này, Trần Thái Tông đã để lại một tấm gương sáng ngời trong lịch sử.

Khóa hư lục không chỉ là một tác phẩm chứa đựng những tư tưởng triết học Phật giáo sâu sắc mà còn thể hiện rõ tác giả Trần Thái Tông là một người có tâm hồn thi sĩ dạt dào cảm xúc trữ tình. Những bài kệ dưới hình thức thơ thất ngôn, ngũ ngôn trong Khóa hư lục khá giầu hình tượng thi ca. Thí dụ bốn bài kệ nói về bốn ngọn núi (Tứ sơn kệ) tượng trưng cho bốn giai đoạn của một đời người mà ai cũng phải trải qua, đó là sinh (núi thứ nhất), lão (núi thứ hai), bệnh (núi thứ ba) tử (núi thứ tư).

Cũng như tình yêu, cái chết đã trở thành một đề tài vĩnh cửu của văn học nghệ thuật thế giới xưa nay. Trần Thái Tông là một nhà thơ cổ Việt Nam viết về cái chết thật lạ và mới, khiến người đọc đến bàng hoàng. Trong bài kệ thứ tư, để diễn tả cái chết, đúng hơn là để thức tỉnh nhân thế rằng, đời người chỉ là một ảo ảnh giữa bão giông rồi sẽ biến mất, chỉ còn lại sự tĩnh lặng ngàn đời. Trần Thái Tông đã mượn hình ảnh ông chài say tuý luý trên chiếc thuyền câu mong manh trong cuồng phong và dòng sông với bóng trăng, nhằm nêu lên triết lý về tính bất định, hư ảo của cuộc đời:

Bãi đãng cuồng phong quát địa sinh,

Ngư ông tuý luý điếu chu hoành.

Tứ thì vẫn hợp âm mai sắc,

Nhất phát ba phiên cổ động thanh.

Vũ cước trận thôi phiêu lịch lịch,

Lôi xa luân chuyển nộ oanh oanh.

Tạm thời trần liễm thiên biên tĩnh,

Nguyệt lạc trường giang dạ kỷ canh.

(Tan không gió vận đại địa sinh,

Thuyền chài đương say câu ngang sông.

Bốn phương mây đùn trời tối đen,

Một dòng nổi sóng tiếng ầm ầm.

Mưa rây đòi trận gió trích trích,

Sấm vần chuyển động thét ầm ầm.

Một giây mây tan nửa trời sáng,

Trăng lặn sông dài đêm mấy canh!)

(Bản diễn Nôm của Phúc Điền hòa thượng, thế kỷ XIX)

Về phương diện văn chương, bài kệ này quả là một thi phẩm có hình tượng độc đáo, chứng tỏ Trần Thái Tông là một nhà thơ giàu tài năng. Tâm hồn thi sĩ của Trần Thái Tông được thể hiện rất đẹp qua bài Ký Thanh phong am tăng Đức Sơn (Gửi nhà sư Đức Sơn ở am Thanh Phong):

Phong đã tùng quan nguyệt chiếu đình,

Tâm kỳ phong cảnh cộng thê thanh.

Cá trung tư vị vô nhân thức,

Phó dữ sơn tăng lạc đảo minh.

(Gió đập cành thông cửa chùa, trăng chiếu trên sân,

Tâm hồn với phong cảnh cùng tĩnh lặng.

Cái thú vị riêng trong đó không ai biết,

Cứ cùng với nhà sư vui đến sáng)

Là một nhà thiền học xuất sắc, một ông vua anh hùng, một nhà thơ trữ tình tinh tế, Trần Thái Tông đã để lại trong lịch sử văn hóa dân tộc một dấu ấn đặc sắc không thể phai mờ./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Đền Kim Liên - Trấn Nam: “Đóa sen vàng” của Thăng Long Tứ Trấn
    Sáng 02/5 (ngày 16/3 năm Bính Ngọ), trong không khí trang nghiêm và thành kính, Đảng ủy - HĐND - UBND - UBMTTQ phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám long trọng tổ chức Lễ hội truyền thống di tích Quốc gia đặc biệt đền Kim Liên. Đây không chỉ là một nghi lễ tâm linh, mà còn là minh chứng của lòng tri ân, là gạch nối giữa quá khứ huy hoàng và hiện tại rạng rỡ.
  • Đền Kim Liên - Nơi linh khí hội tụ và hồn cốt Thăng Long tỏa sáng
    Trong cái nắng đầu hạ dịu ngọt của những ngày đầu tháng Năm năm 2026, khi dòng người tấp nập đổ về những di tích cổ kính của Thủ đô, có một khoảng trời bình yên nhưng rộn rã đang mở ra tại phía Nam kinh thành xưa. Đó là đền Kim Liên – một trong “Thăng Long Tứ Trấn” lừng lẫy, nơi đang diễn ra ngày hội văn hóa nghệ thuật đặc sắc vào ngày 01/5 (tức ngày15/3 âm lịch), khởi đầu cho chuỗi hành trình tâm linh tôn vinh Đức Cao Sơn Đại Vương.
  • Triển lãm “Cửu Đỉnh triều Nguyễn: Di sản tư liệu qua hình ảnh và tài liệu lưu trữ – Hướng tiếp cận giáo dục di sản bằng trải nghiệm số”
    Qua ứng dụng công nghệ số, triển lãm “Cửu Đỉnh triều Nguyễn: Di sản tư liệu qua hình ảnh và tài liệu lưu trữ – Hướng tiếp cận giáo dục di sản bằng trải nghiệm số” đã mang đến cho công chúng một cách tiếp cận di sản trực quan, sinh động và gần gũi hơn.
  • Hà Nội đón Bằng công nhận Bảo vật quốc gia chuông chùa An Xá
    Chùa Bắc Biên (Phúc Xá tự), còn gọi là chùa An Xá, là di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu của vùng đất Bồ Đề. Trong hệ thống di vật của chùa, chuông chùa An Xá là hiện vật nổi bật, được đúc vào tháng 11 năm 1690 dưới thời Lê Trung hưng bằng phương pháp thủ công truyền thống, mang tính độc bản.
  • Lễ hội Bình Đà 2026: Trang nghiêm nghi lễ Quốc Tổ, lan tỏa hào khí cội nguồn dân tộc
    Sáng 22/4 (tức ngày mùng 6 tháng 3 năm Bính Ngọ), tại Đền Nội, Bình Đà, xã Bình Minh, thành phố Hà Nội, Lễ rước, tế và dâng hương Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân đã được tổ chức trang nghiêm trong khuôn khổ Lễ hội Bình Đà 2026, thu hút đông đảo nhân dân địa phương, du khách thập phương cùng cộng đồng người Việt hướng về cội nguồn.
  • Bình Đà rộn ràng mùa hội Quốc Tổ
    Những ngày tháng Tư, khi tiết trời Hà Nội bước vào thời khắc đẹp nhất của mùa xuân muộn, vùng đất Bình Đà lại rộn ràng cờ hội, đón người dân và du khách thập phương về dự Lễ hội Bình Đà 2026. Diễn ra từ ngày 19 đến 22/4 tại xã Bình Minh, đây là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của Thủ đô, gắn với tín ngưỡng thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân - vị thủy tổ trong huyền sử dân tộc Việt Nam.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Tái hiện chân dung phi công Vũ Xuân Thiều và chuyến bay bất tử
    Nhân kỉ niệm 51 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026), Nhà xuất bản Kim Đồng ra mắt bạn đọc ấn phẩm mới “Vũ Xuân Thiều và chuyến bay bất tử”. Cuốn sách nằm trong bộ “Người lính phi công kể chuyện” của Đại tá Nguyễn Công Huy, gồm ba cuốn, tái hiện những câu chuyện lịch sử về Không quân Nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
  • Vai trò kiến tạo của Nhà nước trong phát triển văn hóa Việt Nam
    TS. Phan Thành Nhâm – Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học kiến trúc Hà Nội chia sẻ, tại Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, vai trò kiến tạo của Nhà nước được xác định lại như năng lực tạo lập thể chế, kiến tạo tầm nhìn, dẫn dắt đầu tư, điều phối đa chủ thể, mở rộng năng lực văn hóa của con người và tích hợp văn hóa vào toàn bộ tiến trình phát triển quốc gia.
  • Triển lãm ảnh tư liệu “Âm vang ngày mới” tại Hoàng Thành Thăng Long
    Nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội tổ chức triển lãm ảnh tư liệu với chủ đề “Âm vang ngày mới”.
  • Hơn 1 triệu lượt khách du lịch tham quan di sản Huế dịp nghỉ lễ
    Trong kỳ nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và 30/4 - 1/5, lượng khách đến TP Huế tiếp tục tăng mạnh với “Biển người” đổ về tham quan các di tích, trải nghiệm văn hóa và nghỉ dưỡng đã tạo nên không khí sôi động hiếm thấy. Trong đó, khách tham quan di sản Huế tăng cao và lập kỷ lục mới về doanh thu bán vé.
  • Thủ đô Hà Nội đã đón khoảng 1,35 triệu lượt khách trong dịp lễ 30/4, 1/5
    Trong dịp lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và Ngày Giải phóng miền Nam 30/4 - Ngày Quốc tế Lao động 1/5 (từ ngày 25/4/2026 đến hết ngày 03/5/2026), hoạt động du lịch tại Hà Nội đã diễn ra hết sức sôi động, với nhiều sản phẩm và dịch vụ được tổ chức tại các điểm đến cả nội và ngoại thành, thu hút đông đảo người dân và du khách.
Đừng bỏ lỡ
  • Điểm hẹn âm nhạc giữa lòng Hà Nội vào ngày 3/5
    Trong những ngày nghỉ lễ 30/4 – 1/5, khi nhịp sống tạm chậm lại, nhu cầu tìm kiếm những không gian thư giãn, giải trí lành mạnh của người dân và du khách tại Thủ đô tăng lên rõ rệt. Giữa nhiều lựa chọn, “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục là một điểm hẹn lý tưởng, mang đến một không gian văn hóa nhẹ nhàng nhưng không kém phần hấp dẫn.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Hành trình bất ngờ
    Tôi có cuốn sổ được mua từ hồi sinh viên và vẫn đem theo bên mình. Cuốn sổ có bìa màu da đã cũ, tuy không dày lắm nhưng tôi ghi mãi vẫn không hết. Nó cứ thế lăn lóc theo tôi từ lúc đi thực tập, thử việc cho đến khi ra trường đi làm. Tôi chỉ có thói quen ghi chứ chẳng xem lại bao giờ.
  • Vang khúc ca khải hoàn: Nghệ thuật kết nối lịch sử
    Hòa trong không khí thiêng liêng của những ngày lễ lớn của dân tộc, tối 30/4, Nhà hát Cải lương Hà Nội đã giới thiệu đến bà con Nhân dân xã Nam Phù một chương trình ca múa nhạc đặc biệt.
  • Góp phần định hình tư duy phát triển mới đối với văn hóa Việt Nam
    PGS. TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội đánh giá, Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết của Quốc hội, ngày 24/4/2026) là một bước đi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết của Quốc hội góp phần định hình một tư duy phát triển mới đối với văn hóa Việt Nam.
  • Du khách ngược dòng thời gian, trải nghiệm yến tiệc vàng son “Dạ yến Hoàng cung”
    Nhiều du khách vào Đại nội Huế trải nghiệm yến tiệc vàng son “Dạ yến Hoàng cung” tại Nhà hát Duyệt Thị Đường.
  • Đưa tri thức, công nghệ và văn hóa thành “hạt nhân” bứt phá của Thủ đô Hà Nội
    Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tính bước ngoặt về triết lý phát triển Thủ đô Hà Nội trong thế kỷ XXI. Đứng trước thời điểm của lịch sử và thách thức thời đại, Nghị quyết số 02 đã đặt ra một chiến lược bước ngoặt thiết lập một mô hình tăng trưởng hoàn toàn mới.
  • Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ 2 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage flow”
    Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng vừa ký ban hành Kế hoạch số 173/KH-UBND ngày 28/4/2026 về tổ chức “Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II, năm 2026”. Festival nhằm bảo tồn, phát huy và lan tỏa các giá trị văn hóa đặc sắc của Thăng Long - Hà Nội và văn hóa Việt Nam, đồng thời góp phần thực hiện các Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô.
  • Triển lãm “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi”: Bồi đắp, lan tỏa Hà Nội - Thành phố Sáng tạo
    Chiều 29/4, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với Câu lạc bộ Họa sĩ màu nước Hà Nội (HWA), Ban vận động mỹ thuật và ngoại giao văn hóa tổ chức triển lãm mỹ thuật “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi” tại tầng 1 - tòa nhà 47 Hàng Dầu ( Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội).
  • Trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”
    Chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026) và 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2026), Trung tâm Văn hóa và Thư viện Hà Nội giới thiệu không gian trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”.
  • Lên chuyến tàu đoàn viên mừng 51 năm ngày thống nhất đất nước
    Khác với những chuyến tàu thông thường, xuất phát từ ga Hà Nội, chuyến tàu đoàn viên diễn ra từ 27/4 tới hết 3/5, đưa người dân và du khách trở về với những dấu mốc thiêng liêng của toàn thể dân tộc giữa lòng Thủ đô.
Trần Thái Tông – một hoàng đế anh hùng của Việt Nam, nhà thiền học, nhà thơ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO