Văn hóa – Di sản

Thái sư Trần Thủ Độ - nhà chính trị kiệt xuất, người kiến lập triều Trần

Tạ Ngọc Liễn 30/10/2023 10:30

Trong lịch sử Việt Nam có những nhân vật mà ngày nay giới sử học cần nhìn nhận, đánh giá lại theo tinh thần khách quan, khoa học. Đó là những nhân vật thường được xem là những trường hợp “phức tạp”; một mặt từng bị sử sách hoặc dư luận chê trách, thậm chí lên án, mặt khác người đời vẫn phải thừa nhận vai trò lịch sử của họ. Dù quanh họ có bao bọc bởi những định kiến nặng nề thì họ vẫn cứ sừng sững trước lịch sử. Đó là những người nếu không có họ thì không có lịch sử. Trần Thủ Độ chính là một người như thế.

Trần Thủ Độ (1194-1264) sinh ra ở làng Phương La, nay là xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Tổ tiên Trần Thủ Độ làm nghề chài lưới ở vùng Đông Triều, Quảng Ninh. Sau chuyển tới Tức Mặc, Nam Định rồi định cư tại vùng đất Bát Xá - Tam Nông bên dòng sông Luộc. Dòng họ Trần ngày càng hưng thịnh và có thế lực lớn về chính trị trong triều Lý. Đặc biệt, Trần Thủ Độ nổi lên như một người xuất chúng trong dòng họ, giúp triều Lý đánh dẹp các thế lực cát cứ, bảo vệ cơ nghiệp nhà Lý.

tran-thu-do-tuong.jpg
Tượng Trần Thủ Độ.

Năm 1224, Trần Thủ Độ được phong làm Điện tiền chỉ huy sứ, chỉ huy lực lượng quân đội bảo vệ kinh thành Thăng Long.

Vào cuối triều Lý, trong triều vua quan ăn chơi sa đọa, ngoài dân mất mùa liên tiếp vì thiên tai, kinh tế suy thoái... Nhân cơ hội đó, các thế lực phong kiến nổi lên chống lại triều đình, đánh giết lẫn nhau. Ngoài biên thùy quân Nguyên - Mông đang chuẩn bị đại binh đánh chiếm Đại Việt. Trong khi đó vua Lý Huệ Tông lại truyền ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng mới có 8 tuổi rồi bỏ lên tu ở chùa Chân Giáo. Trước tình hình đó, Trần Thủ Độ đã quyết định xóa bỏ triều Lý bằng cách đưa Trần Cảnh vào cung lấy Lý Chiêu Hoàng, rồi sắp xếp Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng.

Đó là một cuộc đảo chính cung đình song không gây đổ máu, vẫn giữ được sự ổn định xã hội.

Tuy vậy, Trần Thủ Độ vẫn là nhân vật từng bị các sử gia phong kiến phê phán nhiều về việc ông đã mưu trừ Lý Huệ Tông, coi đó là hành động thất đức: “Đã lấy nước của người ta, lại giết vua người ta, thật bất nhân quá lắm” (Đại Việt sử ký toàn thư – Kỳ nhà Trần).

Theo quan điểm đạo đức của Nho giáo, bầy tôi giết vua là điều không thể dung thứ. Nhưng các bậc Tiên Nho lại nói, nếu giết một hôn quân thì cũng như giết một tên đạo tặc.

Đạo Phật là từ bi nhất, chủ trương một con kiến cũng không giết. Thế nhưng đạo Phật lại cổ vũ tinh thần chiến đấu, táo bạo, nhằm giải thoát mình và giải thoát mọi người. Trong kinh Kim cương ghi lời Phật dạy: “Hỡi các đệ tử, hãy tự thắp đuốc lên mà đi, hãy tự mình tinh tiến để tự giải thoát”. Kinh Niết bàn viết: “Những người cầm đao, cầm kiếm trừ kẻ hung ác, tàn ngược mới chính là người tu Đại thừa”...

Giai đoạn cuối triều Lý, đặc biệt là những năm Lý Huệ Tông trị vì, là thời kỳ đất nước suy thoái, tan rã trầm trọng, nhân dân đói khát, xã hội loạn lạc, triều chính mọt rỗng, bất lực. Vì vậy việc Trần Thủ Độ thực hiện kế hoạch thủ tiêu triều Lý, lập nên triều Trần là một hành động sáng suốt, dũng cảm, phù hợp với đòi hỏi khách quan của lịch sử, của thời đại. Với cuộc chính biến này, Trần Thủ Độ đã cứu đất nước thoát khỏi cơn khủng hoảng hiểm nghèo, vực nước Đại Việt lên thành một quốc gia mạnh mẽ để sau đấy có đủ sức đánh tan những cuộc xâm lăng của đế quốc Nguyên - Mông.

Đánh giá Trần Thủ Độ, trước hết phải đánh giá ở chỗ ông đã làm được những gì có lợi cho thời đại, cho lịch sử, chứ không phải chỉ căn cứ vào một hai hành vi, có thể là độc tài, song cần thiết.

Các sử gia phong kiến chê trách việc Trần Thủ Độ giết Lý Huệ Tông, sau đó lại lấy Hoàng hậu nhà Lý là Trần Thị Dung và phong bà làm Linh từ Quốc mẫu (1226); nhưng cũng chính ngòi bút của các nhà viết sử xưa đã khẳng định công lao to lớn của Trần Thủ Độ đối với nhà Trần cũng như nhân cách, phẩm chất cao vời của ông. Ngô Sĩ Liên viết: “Trần Thủ Độ tuy không có học vấn song tài trí hơn người, làm quan dưới triều Lý được mọi người suy tôn”..., hay: “Trần Thủ Độ tuy làm Tể tướng mà phàm công việc không điều gì là không để ý tới. Vì thế đã giúp nên nghiệp vương, giữ được tiếng tốt cho đến chết” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Trần Thủ Độ không chỉ đưa Trần Thái Tông lên ngôi vua mà còn có công rèn cặp một cậu bé khi bước lên ngai vàng mới 8 - 9 tuổi trở thành một ông vua anh hùng, một nhà Thiền học lỗi lạc. Năm 1237, vì giữa Trần Cảnh và Trần Liễu có chuyện khúc mắc riêng, Trần Cảnh bỏ kinh thành lên núi Yên Tử định đi tu thì Trần Thủ Độ đem tả hữu đi mời về và ông có nói với Thái Tông rằng: “Bệ hạ vì mục đích tu lấy cho riêng mình mà làm thế thì được, nhưng còn quốc gia, xã tắc thì sao? Ví để lời nói suông mà bảo đời sau thì sao bằng lấy chính bản thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ” (Thiền Tông chỉ nam tự). Trần Thái Tông từ ý “muốn trút bỏ ngai vàng như trút bỏ đôi dép rách” (Lời sử gia Ngô Thì Sĩ) đã nghe theo lời khuyên của Trần Thủ Độ trở về triều. Hai mươi mốt năm sau (1258), Trần Thái Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt phá tan quân Mông Cổ ở Đông Bộ Đầu, giải phóng Thăng Long.

Trong tư tưởng chính trị của Trần Thủ Độ, trách nhiệm đối với quốc gia, xã tắc là cao nhất, lớn nhất, nhất là khi quốc gia, xã tắc lâm nguy. Giữa lúc cuộc chiến đấu đang căng thẳng với quân Mông Cổ, khi nghe Trần Thái Tông hỏi kế sách, Trần Thủ Độ đã nói: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo?”. Câu nói đó thể hiện sự vững vàng, tin tưởng và quyết tâm chiến đấu đến cùng của Trần Thủ Độ để giữ vững nền độc lập của Tổ quốc.

Vương triều Trần theo định lệ hằng năm bắt các quan từ Tể tướng trở xuống phải hội thề sống trung thành và trong sạch. Khi Linh từ Quốc mẫu, vợ ông, muốn xin ông trừng phạt kẻ này, ban ân cho kẻ kia một cách không chính đáng, ông đã kiên quyết từ chối và trừng trị kẻ tham danh vọng bất chính ấy.

Trần Thủ Độ, người kiến lập triều Trần, sau được cử làm Thái sư (trong Tam công: Thái sư, Thái phó, Thái bảo), quyền lực lớn nhất triều đình, là vị quan rất thanh liêm.

Trần Thủ Độ từng duyệt định sổ hộ khẩu. Một lần, vợ ông là Linh Từ quốc mẫu xin riêng cho một người làm chức câu đương, tức là chức dịch trong làng, phụ trách việc bắt bớ, tống giải.

Trần Thủ Độ gật đầu và ghi lại họ tên, quê quán của người ấy. Khi xét duyệt tới xã ấy, bèn hỏi tên ấy đâu. Người đó mừng rỡ chạy đến. Trần Thủ Độ nói: “Ngươi vì có công chúa (tức Linh Từ quốc mẫu) xin cho được làm câu đương, không so với người câu đương khác được, nên phải chặt một ngón chân để phân biệt với người khác”. Người kia sợ hãi kêu van xin thôi, một lúc sau Trần Thủ Độ mới tha cho. Từ đấy không còn ai dám đến nhà thăm riêng nữa (Đại Việt sử ký toàn thư).

Trong lịch sử Việt Nam, Trần Thủ Độ cũng là người đầu tiên chống chủ nghĩa gia đình trị. Trần Thái Tông muốn cho người anh Trần Thủ Độ là An Quốc làm tướng nhưng ông không nghe và nói rằng: “An Quốc là anh thần, nếu là người hiền, thần xin nghỉ việc, nếu cho thần là hiền (tức giỏi) hơn An Quốc thì không nên cử An Quốc. Nếu anh em cùng là tướng thì việc trong triều sẽ ra sao?”.

Trần Thủ Độ là một nhà chính trị kiệt xuất, có những tư tưởng táo bạo; một nhà tổ chức tài giỏi, một người có ý chí gang thép và sống chí công, liêm chính.

Trong lịch sử triều Trần, Trần Thủ Độ đã để lại một dấu ấn vô cùng sâu đậm. Công lao Trần Thủ Độ cống hiến cho nước Đại Việt hồi thế kỷ XIII rất lớn và ở Hà Nội phải sớm có một đường phố to, đẹp mang tên Trần Thủ Độ./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Công bố xếp hạng đình Liễu Cốc Thượng là Di tích cấp TP Huế
    Bảo tồn nhiều tư liệu, sắc phong cùng các giá trị văn hóa gắn với đời sống tâm linh, phong tục tập quán của người dân đã trải qua hơn 500 năm nên đình Liễu Cốc Thượng được xếp hạng Di tích cấp TP Huế.
  • Phục chế Bảo vật Quốc gia “Ngai vua triều Nguyễn” đúng nguyên bản sau sự cố bị phá hoại
    “Ngai vua triều Nguyễn” bị phá hoại khiến gãy tay ngai phía bên trái vào ngày 24/5/2025 tại điện Thái Hòa (Đại nội Huế) đã được phục chế lại bảo đảm đúng hình dáng, kích thước và màu sắc nguyên bản theo hồ sơ công nhận Bảo vật Quốc gia năm 2015.
  • Rối nước viễn du thời đại số
    Từ bóng nước lung linh dưới mái thủy đình rêu phong, múa rối nước đang bước vào hành trình "viễn du xuyên thế kỷ" đến nhịp sống đương đại. Không còn bó hẹp trong không gian truyền thống, di sản được mở rộng biên độ tiếp cận khán giả qua mô hình sản phẩm công nghiệp văn hóa và tư duy sáng tạo của thế hệ trẻ. Hành trình ấy vừa nâng niu những giá trị cốt lõi, vừa âm thầm định hình diện mạo mới, để tiếng cười của chú Tễu vẫn ngân vang, rộn rã giữa Thủ đô văn hiến.
  • Công nhận Bảo vật quốc gia với văn bia Ma Nhai gần 700 năm tuổi
    Văn bia cổ “Ma Nhai kỷ công bi ký” được khắc trên núi đá ở xã Con Cuông, tỉnh Nghệ An vừa được công nhận là Bảo vật Quốc gia. Đây là tấm bia do Hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn biên soạn và khắc trực tiếp lên núi đá - di sản lịch sử đặc biệt gắn với hành trình bảo vệ biên cương Đại Việt cách đây gần 7 thế kỷ.
  • Độc đáo lễ hội chùa Nành
    Chùa Nành (xã Phù Đổng, thành phố Hà Nội) còn gọi là chùa Cả, có tên chữ là Pháp Vân cổ tự hoặc chùa Đại Thiền. Chùa thờ bà Pháp Vân, người đứng đầu trong hệ thống Tứ Pháp được thờ ở Việt Nam. Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1989.
  • Bảo tồn và phát huy giá trị di sản: Hội Gióng – Đền Phù Đổng
    Trong những năm qua, việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn Thủ đô luôn được các cấp chính quyền quan tâm và cụ thể hóa bằng những hành động thiết thực từ việc nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày đến quản lý các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn…
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Mùa ổi trên cao nguyên
    Tôi còn nhớ, ngày nhỏ, trên cao nguyên toàn đất cằn và đá, mỗi mùa thật riêng. Nhất là những ngày giáp hạt, mỗi thứ quả như một món quà của thiên nhiên, sâu lắng một thứ tình đất đai với những gì ta đã gửi vào lòng đất mẹ.
  • NSNA Vũ Anh Tuấn: Tôi luôn cố gắng giữ sự chân thật, tự nhiên trong từng bức ảnh
    Trung tuần tháng 4 vừa qua, tại không gian triển lãm 45 Tràng Tiền (Hà Nội), nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh Vũ Anh Tuấn giới thiệu tới công chúng bộ ảnh chân dung đen trắng mang tên “Những người ta gặp”. 61 tác phẩm được chọn lọc từ hàng trăm khuôn hình trong suốt hành trình làm báo và sáng tác của ông đã mang đến cho người xem nhiều cảm xúc. Mỗi bức ảnh là một cuộc gặp gỡ, một lát cắt đời sống, ở đó con người hiện lên thật dung dị, chân thật qua góc nhìn tinh tế của người cầm máy. Cùng Tạp chí Người Hà Nội lắng nghe những chia sẻ của tác giả về những “đứa con tinh thần” này để hiểu rõ hơn về hành trình sáng tác của ông.
  • Diễn đàn "Xây dựng hệ sinh thái bền vững phát triển kinh tế tư nhân năm 2026"
    Tăng cường hợp tác nhằm hỗ trợ khu vực tư nhân tiếp cận tài chính, ứng dụng, chuyển giao và đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo. Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể - Bộ Tài chính chủ trì tổ chức Diễn đàn: "Xây dựng hệ sinh thái bền vững hỗ trợ và phát triển kinh tế tư nhân năm 2026" với sự phối hợp của Cục Đổi mới sáng tạo và Ủy ban Tiêu chuẩn đo lường chất lượng Quốc gia, Bộ Khoa học công nghệ, Viện Khoa học và công nghệ sức khoẻ, Đại học Bách Khoa Hà Nội.
  • Góc phố Thành Công - Nơi Hà Nội còn trong từng nếp sống
    Có một Hà Nội không ồn ào trên mặt báo, không náo nhiệt như phố đi bộ cuối tuần, mà là Hà Nội trong những nếp sống lặng lẽ, bền bỉ và tinh tế - thứ đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi suốt những năm tháng trưởng thành.
Đừng bỏ lỡ
Thái sư Trần Thủ Độ - nhà chính trị kiệt xuất, người kiến lập triều Trần
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO