Văn hóa – Di sản

Lê Văn Hưu – nhà sử học khơi nguồn Quốc sử

Nguyễn Minh Tường - Nguyễn Hữu Sơn 30/10/2023 15:52

Lê Văn Hưu (1230 - 1322), người làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn, nay là thôn Phủ Lý Trung, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1964, trên Nghiên cứu Lịch sử, hai tác giả Nguyễn Kha và Trần Huy Bá cho công bố bài: Phát hiện những tài liệu liên quan đến sử gia Lê Văn Hưu (số 62, tháng 5-1964). Qua đó, cho chúng ta biết đã phát hiện được gia phả và mộ của Lê Văn Hưu.

Cuốn gia phả mang tên Lê thị gia phả (Gia phả họ Lê), do bà Lê Thị Huệ lưu giữ. Lê thị gia phả gồm 3 quyển, không ghi tên người soạn, chép từ đời khởi thủy của dòng họ Lê là Trấn Quốc Bộc xạ Lê Lương, thời Đinh Tiên Hoàng, cho đến các đời gần đây, cả thảy hơn 20 đời. Lê Văn Hưu thuộc đời thứ 7. Lê thị gia phả chép về ông như sau: “Thế tổ đời thứ 7 đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, Đệ nhị danh triều Trần, trải làm quan đến chức Hàn Lâm viện Thị độc, Binh Bộ Thượng thư, kiêm Chưởng sử, tước Nhân Uyên hầu, hiệu Tu Hiền, soạn Đại Việt sử ký”.

le-van-huu.jpg
Tượng Lê Văn Hưu.

Sách Các nhà khoa bảng Việt Nam (1993) cho biết về khoa thi mà Lê Văn Hưu đỗ: “Lê Văn Hưu, người làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn... 18 tuổi đỗ Bảng nhãn khoa thi Thái học sinh năm Đinh Mùi, niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 (1247) đời Trần Thái Tông”.

Sau khi thi đỗ, Lê Văn Hưu được giữ chức Kiểm Pháp quan (chức quan trông coi việc hình luật), rồi Binh Bộ Thượng thư, sung chức Hàn Lâm viện học sĩ, kiêm Quốc sử viện Giám tu. Ông cũng là thầy học của Thượng tướng Trần Quang Khải, một trong những danh tướng của hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288).

Trong thời gian giữ chức Quốc sử viện Giám tu, ông đã hoàn thành việc biên soạn Đại Việt sử ký - bộ quốc sử đầu tiên của nước ta. Đại Việt sử ký toàn thư chép về bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu như sau: “Nhâm Thân - Thiệu Long năm thứ 15 (1272). Mùa xuân, tháng giêng, Hàn Lâm viện Học sĩ kiêm Quốc tử viện Giám tu Lê Văn Hưu. vâng sắc chỉ soạn xong bộ Đại Việt sử ký, từ Triệu Vũ đế đến Lý Chiêu Hoàng, gồm 30 quyển, dâng lên. Vua xuống chiếu khen ngợi”. Như vậy, trong thời gian giữ chức Giám tu phụ trách Quốc sử viện, Lê Văn Hưu đã biên soạn Đại Việt sử ký. Bộ sử gồm 30 quyển, chép từ Triệu Vũ đế (207 - 136 tr. CN) đến Lý Chiêu Hoàng (1224-1225), hoàn thành và dâng lên vua Trần Thánh Tông năm 1272. Trong lịch sử phát triển của nền sử học Việt Nam, Đại Việt sử ký giữ vị trí bộ sử bề thế đầu tiên.

Năm Hồng Đức thứ 10 (1479) đời Lê Thánh Tông, khi biên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư, sử gia Ngô Sĩ Liên đã “lấy hai bộ sách tiên hiền ra, hiệu chính biên soạn lại”. Hai bộ sách của “tiên hiền” là hai bộ sử cùng mang tên Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên. Cho đến lúc đó, bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu vẫn còn. Nhưng rồi sau đó, chưa biết rõ vào thời điểm nào, bộ quốc sử đầu tiên của chúng ta bị mất và thất truyền. Ngày nay, Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu không còn nữa, nhưng nội dung của nó đã được thâu nhập vào Đại Việt sử ký toàn thư qua sự sửa chữa, bổ sung của các sử thần triều Lê, từ Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh đến Phạm Công Trứ, Lê Hy. Trong bản in năm Chính Hòa thứ 18 (1697), nó là cơ sở của phần Ngoại kỷ từ quyển 2 đến quyển 5 và phần Bản kỷ, từ quyển 1 đến quyển 4, bao gồm thời gian lịch sử từ kỷ họ Triệu đến hết kỷ nhà Lý (năm 207 tr. CN đến năm 1225). Đây là cống hiến của sử gia Lễ Văn Hưu đối với quá trình biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư.

Hiện nay chúng ta không thể phân biệt được trong Đại Việt sử ký toàn thư, những bộ phận trong Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu được giữ nguyên vẹn hay đã bị sửa chữa. Chỉ có những đoạn trích dẫn dưới đề mục “Lê Văn Hưu viết” là chắc chắn của Lê Văn Hưu. Trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư, hiện còn lại 30 đoạn trích dẫn như vậy, được phân bố như sau: Ngoại ký: 11 đoạn, Bản ký: 19 đoạn. Có thể coi những đoạn trích dẫn đó là những mảnh vỡ nhưng gần nguyên tác nhất trong Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, còn được giữ lại trong Đại Việt sử ký toàn thư. Trên cơ sở 30 đoạn dưới đề mục “Lê Văn Hưu viết”, đó là nguồn tư liệu đáng tin cậy để chúng ta tìm hiểu quan điểm sử học và phương pháp viết sử của Lê Văn Hưu.

Lê Văn Hưu sống và hoạt động trong một giai đoạn mà những vấn đề mất còn của đất nước đặt ra rất gay gắt, cho nên ông luôn tỏ ra nhạy cảm với những công lao, gian khổ của cha ông trong quá khứ. Bao thế hệ sống trên mảnh đất thiêng liêng này không ngừng phải nổi dậy, phải chống trả lại bọn phong kiến phương Bắc để giành lại non sông gấm vóc. Ông nhiệt liệt ca ngợi hành động oanh liệt của Hai Bà Trưng (? - 43): “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta, đủ dựng được nghiệp bá vương”. Ông cũng ca ngợi Ngô Quyền (899-944), lần đầu tiên khai sáng nền tự chủ cho dân tộc: “Tiền Ngô vương có thể lấy quân mới họp của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Thao, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một lần nổi dậy mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy”... Chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng khiến cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Ngay sau đó Ngô Quyền chính thức bãi bỏ chức Tiết độ sứ và xưng vương, định đô ở Cổ Loa, đặt các chức quan văn võ, qui định nghi lễ trong triều. Trước sự thật lịch sử, Lê Văn Hưu không chỉ đề cao tài cầm quân của Ngô Quyền “một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy”, mà còn đặc biệt khẳng định vai trò người “mở nước xưng vương”, “Tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi hoàng đế và đổi niên hiệu, mà chính thống của nước Việt ta gần như nối lại được”... Đó thật sự là những lập luận chặt chẽ, hiểu đúng tình thế lịch sử và ghi nhận đúng mức những đóng góp của danh nhân. Bởi lẽ, Ngô Quyền dù yêu nước Việt đến đâu thì ông cũng chỉ mới xưvng vương, chưa đủ thực lực xưng đế trong ngày một ngày hai. Chỉ có điều, bề ngoài ông xưng vương nhưng bên trong đã lập triều đình theo nghi thức đế, thực hiện phép ngoại giao “thần phục giả vờ, độc lập thật”. Trong buổi đầu xây nền đắp móng, công lao “nối lại” chính thống nước Việt của Ngô Quyền đã được ghi nhận đúng mức.

Không những coi trọng nền độc lập, tự chủ của dân tộc, Lê Văn Hưu càng đề cao sự thống nhất quốc gia trong những thế kỷ đầu tiên đất nước ta vừa bước ra khỏi hơn ngàn năm đêm trường Bắc thuộc. Vì vậy, công lao dẹp loạn Mười hai sứ quân của Đinh Tiên Hoàng (925-979) thu non sông về một mối, rất được Lê Văn Hưu tán thưởng: “Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà Mười hai sứ quân phục hết..”. Trong các cố gắng “mở nước, đóng đô, xưng hoàng đế, đặt trăm quan, dựng sáu quân, chế độ gần đử” thì việc xưng hoàng đế đánh dấu một bước phát triển mới trong nhận thức về nền độc lập và chủ quyền dân tộc. Từ việc xưng vương đến xưng đế là cả một khoảng cách và sự thay đổi về chất trong nhận thức. Bởi lẽ khi xưng vương là vẫn thừa nhận thần phục hoàng đế phương Bắc, còn khi xưng đế thì đã nâng mình lên vị thế ngang hàng, tự tin và tỏ rõ bản lĩnh “các đế nhất phương” (mỗi đế là chủ một phương). Ghi nhận điều này, Lê Văn Hưu không chỉ đánh giá tài năng sáng suốt, dũng lược hơn đời của Đinh Tiên Hoàng mà đã nâng tầm con người lên bậc thánh triết, tinh hoa nước Việt, tầm vóc vũ trụ, mở thông tới ý trời và để ngỏ sự đồng cảm, niềm ngưỡng vọng cho cả phía người đọc: “Chắc là ý trời vì nước Việt ta lại sinh bậc thánh triết để tiếp nối chính thống của Triệu Vương chăng?”.

Quan tâm tha thiết đến cuộc sống của nhân dân, ông cũng nghiêm khắc phê phán những hành vi bạo ngược, trái đạo lý của vua chúa như sự kiện vào năm Thiên Thuận thứ 3 đời Lý Thần Tông (1130): “Xuống chiếu cho con gái các quan không được lấy chồng trước, đợi sau khi chọn sung vào hậu cung”. Lê Văn Hưu phê phán: “Trời sinh ra dân mà đặt vua để chăn dắt, không phải để cung phụng riêng cho vua. Lòng cha mẹ ai chẳng muốn con cái có gia thất, thánh nhân thể lòng ấy còn sợ kẻ thất phu, thất phụ không được có nơi có chốn... Thần Tông xuống chiếu cho con gái các quan phải đợi xong việc tuyển người vào cung rồi mới được lấy chồng, thế là để cung phụng riêng cho mình, đâu phải là lòng làm cha mẹ của dân?”..... Hơn nữa, vua Lý Thần Tông còn nổi tiếng mê tín dị đoan, ham những chuyện kỳ dị, điềm lành dữ, việc khác thường, rất thích những vật lạ, phàm ai có hươu trắng hươu đen hay chim sẻ trắng, rùa trắng đều phải đem dâng. Lần ấy có tên lính Đỗ Khánh đem dâng con cá hầu và cá công có sắc vàng.

Nhà vua cho đấy là điềm lành, xuống chiếu cho bề tôi chúc mừng. Lại nói chuyện Nguyễn Lộc và Nguyễn Tử Khắc đều là thân vương nhà Lý, làm quan dưới triều Lý Thần Tông. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thân vương Nguyễn Lộc tâu rằng, ở núi Tản Viên có hươu trắng. Vua sai Thái úy Dương Anh Nhĩ đi bắt được, bèn cho Lộc tước Đại liêu ban... Tháng 3, Nguyễn Tử Khắc tâu rằng, ở rừng Giang Để có hươu trắng. Vua sai Thái úy Lưu Khánh Đàm đi bắt được, bèn thăng Tử Khắc làm Khu mật sứ, xếp vào hàng tước Minh tự, được đội mũ bảy cầu”... Trước những sự việc trên, Lê Văn Hưu đã phản bác lại, không coi đó là điềm lành. Ông khẳng định chỉ có “dùng được người hiền” và “được mùa” mới xứng gọi là điềm lành. Bởi lẽ việc “dùng được người hiền” sẽ giúp cho chính sự vững vàng, cơ đồ phát triển dài lâu; việc “được mùa” sẽ giúp dân chúng no đủ, đất nước thái bình. Những điềm lành như thế là điều có thể kiểm chứng, đo đếm và đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, đất nước. Với cách nói loại trừ “ngoài ra không có cái gì đáng gọi là điềm lành cả”, Lê Văn Hưu đã trực diện phủ nhận cả cách nghĩ và việc làm của Lý Thần Tông. Tiếp tục phê phán quan điểm sai trái về “điềm lành” của Lý Thần Tông, tác giả dẫn lời khuyên răn của tiên vương để lại qua sách Kinh thư: “Trân cầm kỳ thú bất dục vu quốc” (Ở trong đất nước mình cai trị, không nuôi những cầm thú quý hiếm, kì lạ) và đi đến khẳng định “người thưởng và người nhận thưởng đều không phải cả”. Ông còn phân tích và chỉ rõ nguồn gốc: “Thần Tông vì được dâng thú lạ mà cho quan tước, thế là thưởng lạm”, nghĩa là phê phán nhà vua chạy theo sở thích riêng, quyền lợi riêng mà quên cả phép tắc quốc gia; “Lộc và Khắc không có công mà nhận thưởng, thế là dối vua”, có nghĩa là phê phán kẻ bầy tôi giả dối, cơ hội, nịnh hót theo cả ý thích sai trái của nhà vua. Lời bình của Lê Văn Hưu thật sự thẳng thắn, quyết liệt, tình ý sâu xa, xứng đáng là bài học cho muôn đời.

Lê Văn Hưu mất ngày 23 tháng 3 năm Nhâm Tuất (1322), táng ở cánh đồng xứ Mả Giòm, thuộc địa phận xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Hiện nay ở đó vẫn còn phần mộ với tấm bia dựng năm Tự Đức thứ 20 (1867), khắc ghi tiểu sử và một bài minh ca tụng tài đức, sự nghiệp của ông./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
  • Bánh cuốn Thanh Trì (phường Vĩnh Hưng - TP Hà Nội: Hương vị mộc mạc lưu giữ ký ức Hà thành
    Giữa sự thay đổi không ngừng của văn hoá ẩm thực Hà Nội, bánh cuốn Thanh Trì vẫn giữ được dấu ấn riêng bằng hương vị giản dị và kỹ thuật chế biến thủ công đặc trưng. Từ những gánh hàng rong xưa đến những cơ sở sản xuất ngày nay, món ăn làm từ hạt gạo quê này không chỉ phản ánh nét tinh tế trong văn hóa ẩm thực Thủ đô mà còn lưu giữ câu chuyện về một nghề truyền thống đã được duy trì qua nhiều thế hệ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Giải thưởng Victor Tardieu 2026: Tôn vinh và tiếp sức cho những tài năng mỹ thuật trẻ
    Chiều 25/7, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam tổ chức Lễ trao Giải thưởng Victor Tardieu 2026, vinh danh những sinh viên có tác phẩm tốt nghiệp xuất sắc. Ở mùa giải thứ hai, giải thưởng tiếp tục khẳng định vai trò là bệ phóng cho các tài năng mỹ thuật trẻ.
  • Quy định mới về tiền bản quyền trong các lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật, báo chí và xuất bản
    Trong Nghị định số 287/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 17 tháng 7 năm 2026, các quy định về tiền bản quyền đối với lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản đã được cụ thể hóa minh bạch với nhiều khung định mức chi tiết, đáp ứng tính đặc thù của từng hoạt động sáng tạo và khai thác tác phẩm.
  • Văn học nghệ thuật góp phần bồi đắp hình ảnh người Hà Nội thanh lịch, văn minh
    Hà Nội tự hào là nơi hội tụ, kết tinh và tỏa sáng của vùng đất địa linh nhân kiệt, hội tụ nhân tài của đất nước, một "Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người" và là "Thành phố anh hùng, Thành phố vì hòa bình". Đây chính là nguồn sức mạnh nội sinh, động lực tinh thần to lớn để phát triển Thủ đô hôm nay và thời gian tới. Từ ngàn xưa, nơi đây luôn luôn khơi dậy tinh thần tự hào, tình yêu, trách nhiệm; xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, hiện đại, tôn trọng pháp luật và lối sống nhân ái, nghĩa tình, trong sáng: "Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An".
  • Du Thiên ra mắt MV "Đảng vì Nhân dân"
    Ca sĩ Du Thiên ra mắt MV “Đảng vì Nhân dân”, mở đầu hành trình âm nhạc về quê hương, người lính và truyền thống cách mạng.
  • Phạm Ngọc Dũng và hành trình tìm giá trị bền lâu sau mạng xã hội
    TikToker Phạm Ngọc Dũng, còn được biết đến với tên gọi Dũng Bánh Mì, chuyển sức ảnh hưởng trên mạng xã hội thành hành trình thiện nguyện bền bỉ.
Đừng bỏ lỡ
  • Từ giai điệu "Hà Nội mùa thu" đến sức sống của một không gian văn hóa cộng đồng
    Trong không gian Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội), chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 26/7 không chỉ mang đến những giai điệu Jazz đặc sắc mà còn mở ra một cách cảm nhận mới về Hà Nội. Điểm nhấn của chương trình là ca khúc “Hà Nội mùa thu” của nhạc sĩ Vũ Thanh đã đưa hình ảnh Thủ đô hiện lên bằng vẻ đẹp tinh tế, giàu chiều sâu văn hóa, qua đó khẳng định vai trò của nghệ thuật trong việc kiến tạo không gian văn hóa cộng đồng và lan tỏa những giá trị bền vững của thành phố.
  • Phát động cuộc thi sáng tác thơ, âm nhạc, nhiếp ảnh hướng tới Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương
    Cuộc thi là cơ hội khuyến khích đội ngũ văn nghệ sĩ và các tầng lớp Nhân dân phát huy sáng tạo, tìm kiếm những nhân tố mới nhằm bổ sung nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của tỉnh.
  • Đặc sắc chương trình nghệ thuật Bún Bò Huế “Huyền tích Vân Cù và bản giao hưởng Hương Ngự”
    Các nghệ nhân, đầu bếp và chuyên gia ẩm thực đến từ 3 miền Bắc - Trung – Nam chế biến 300 tô Bún bò Huế cùng một lúc theo quy trình truyền thống đã lập Kỷ lục Việt Nam.
  • Phát động Cuộc thi "Sáng tạo IP văn hóa từ di sản Phở Hà Nội"
    Cuộc thi "Sáng tạo IP văn hóa từ di sản Phở Hà Nội" đánh dấu bước chuyển mình trong cách tiếp cận di sản, giúp lan tỏa các giá trị truyền thống, kích cầu du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa. Đồng thời, đây cũng là khởi đầu quan trọng giúp thành phố chuẩn bị các nguồn lực tư liệu cần thiết, phục vụ thành phố xây dựng hồ sơ khoa học trình UNESCO ghi danh Phở.
  • Để ký ức Hà Nội ngân lên trong những giai điệu cuối tuần
    Có những ca khúc đã vượt qua giới hạn của thời gian để trở thành một phần ký ức của thành phố. Mỗi lần giai điệu ấy cất lên, Hà Nội như hiện diện gần hơn trong cảm nhận của người nghe. Chiều 26/7, chương trình "Âm nhạc cuối tuần" tại Nhà Bát Giác sẽ đưa công chúng bước vào hành trình âm nhạc nơi những bản tình ca về Hà Nội gặp gỡ tinh thần jazz thế giới, góp thêm một sắc màu cho đời sống văn hóa của Thủ đô.
  • “Nét duyên Chèo Hà thành”: Từng bước hình thành những sản phẩm văn hóa đặc trưng của Thủ đô
    Tối 24/7, tại Rạp Đại Nam, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội ra mắt Chương trình nghệ thuật “Nét duyên Chèo Hà thành” do Nhà hát Chèo Hà Nội thực hiện.
  • Công bố Lễ hội Di sản và Âm nhạc Quốc tế Huế - Huế Wonderverse Music Fest 2026
    Lễ hội Di sản và Âm nhạc Quốc tế Huế - Huế Wonderverse Music Fest nhằm hiện thực hóa chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa của Chính phủ và định hướng xây dựng Huế trở thành Thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam.
  • Ca khúc “Hàng bia trắng”: Khi giai điệu hóa thành nén tâm nhang tri ân
    Kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7), nhạc sĩ Nguyễn Thành Trung vừa ra mắt ca khúc “Hàng bia trắng”. Tác phẩm vừa được giới thiệu trong chương trình nghệ thuật chính luận “Một thời hoa lửa” do Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với các đơn vị tổ chức tại Hà Nội tối 22/7. Qua chất giọng giàu nội lực và cảm xúc của Quán quân Sao Mai 2017 Thu Thủy cùng tiếng cello của nghệ sĩ Thiên Nga, tiếng guitar của nghệ sĩ Thanh Tùng, ca khúc đã góp phần lan tỏa thông điệp tri ân sâu sắc.
  • Khai mạc tuần phim kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
    Tối 21/7, tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia (Hà Nội), Bộ VHTTDL tổ chức Lễ khai mạc Tuần phim Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026). Tuần phim sẽ diễn ra từ ngày 21 – 28/7/2026 tại hơn 190 cụm rạp trên toàn quốc.
  • Đưa Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam trở thành biểu tượng hội tụ bản sắc văn hóa dân tộc
    Việc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam được chuyển giao về thành phố Hà Nội quản lý không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với thiết chế văn hóa đặc biệt này mà còn tạo thêm động lực để Thủ đô hiện thực hóa mục tiêu đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển. Đó là định hướng được nhấn mạnh trong Thông báo số 573-TB/TU ngày 16/7/2026 của Văn phòng Thành ủy về kết luận của đồng chí Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy tại buổi làm việc với Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.
Lê Văn Hưu – nhà sử học khơi nguồn Quốc sử
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO