Lý luận - phê bình

Thơ viết về chiến thắng Điện Biên Phủ: Nối dài âm hưởng bản hợp xướng anh hùng ca

Nhà thơ Phạm Đình Ân 08:19 06/05/2024

Bảy mươi năm qua, thơ về sự kiện Đại thắng Điện Biên Phủ có nhiều bài, được công bố trên báo, tạp chí, sách liên tiếp vào các năm 1954, 1955, 1956… sau đó được in chụm vào những dịp kỷ niệm năm chẵn: 1964, 1974, 1984, 1994, 2004, 2014 và năm nay bảy mươi năm - 2024.

anh-chien-si-phat-co-quyet-chien-quyet-thang-.jpg

Bài viết này căn cứ vào hai quyển sách tuyển thơ: “Bài ca Điện Biên” (nhiều tác giả, Trần Bảo Hưng biên soạn và giới thiệu, Hội Văn nghệ Lai Châu, 1984); “Trời Điện Biên mây trắng” (soạn giả Gia Dũng, Nxb Văn học, 2014). Quyển 1 ra đời sau mốc 1954 đã ba mươi năm, nhưng tác giả đã công bố lại được gần như đầy đủ những tác phẩm nổi trội nhất, đậm tính thời sự. Một số vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhiều nhà thơ danh tiếng góp bài. Đó là: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sóng Hồng (tức đồng chí Trường Chinh) cùng những tên tuổi khác: Tố Hữu, Vân Đài, Vũ Cao, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Xuân Sanh, Tế Hanh, Thanh Tịnh, Nông Quốc Chấn, Chính Hữu, Trinh Đường, Phạm Hổ, Yến Lan, Bằng Việt, Nguyễn Đức Mậu… Quyển 2 có thêm bài đáng chú ý của các nhà thơ: Nguyễn Hải Trừng (với bài “Nói với khẩu pháo 105 của giặc trên cánh đồng Mường Thanh”), Xuân Quỳnh, Vương Trọng (với bài “Trang nhật ký cuối cùng của Pirốt”), Nguyễn Quang Hà (với bài “Tổ quốc”), Thế Mạc, Lê Thành Nghị, Anh Ngọc, Nguyễn Hữu Quý…

Nếu quyển 1 với 66 bài của 55 tác giả đều chụm vào sự kiện chiến thắng Điện Biên Phủ thì quyển 2 tuy khá dày nhưng lại chỉ có 45 bài của 43 tác giả viết sát vào đề tài đang bàn đến, trong khi sách có 236 bài của 109 tác giả. Lý do là sách này thuộc hệ thống sách tuyển thơ của soạn giả Gia Dũng viết về các miền quê hương đất nước, ở đây là thơ chung về Tây Bắc, mà Điện Biên Phủ trong chiến tranh là một nội dung. Tuy vậy, nếu được soạn xếp để tách phần Đại thắng Điện Biên Phủ ra thành một quyển riêng, thì nó lại trở thành một quyển khác (sách trong sách) dày dặn và có giá trị.
Có thể lọc ra ở cả hai quyển thơ những bài hay nhất kết thành một chùm tác phẩm đĩnh đạc. Trước tiên là ba bài của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài “Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ” như một phóng sự thơ mô tả trận thắng của quân - dân ta, thuộc số những bài thơ được viết sớm nhất: 12/5/1954. Bài thứ hai và thứ ba do Lữ Huy Nguyên sưu tầm (không có ở quyển 2). Trong đó, bài “Na - va chinh phụ ngâm” (chủ ý chinh phu, không phải chinh phụ) viết theo giọng thơ của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm, đậm tính giễu nhại - trào lộng nhằm vào kẻ xâm lược. “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi/ Khiến Na-va nhiều nỗi chuân chuyên/ Thua to ở trận Điện Biên/ Vì ai kế hoạch mà nên nỗi này!/ Cút về Tây tấm lòng xấu hổ/ Xấu hổ này biết đổ ai đây?/ Bước chân lên chiếc tàu bay/ Bước đi một bước giây giây lại dừng”.

Sau ba bài thơ của lãnh tụ Hồ Chí Minh, thì “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” là tác phẩm thơ ra đời sớm nhất (ghi chú dưới bài tháng 5/1954) vừa có tính thời sự “Tin về nửa đêm/ Hỏa tốc, hỏa tốc/ Ngựa bay lên dốc/ Đuốc chạy sáng rừng/ Loa kêu từng cửa/ Làng bản đỏ đèn đỏ lửa” vừa có tính nghệ thuật rất đặc sắc. Nói không ngoa rằng, khi ấy và nhiều năm sau, hầu như toàn dân ta yêu thích - thậm chí thuộc lòng - bài thơ này. Đây là một trường ca rút gọn, giàu cảm xúc, đậm chất anh hùng ca: “Kháng chiến ba ngàn ngày/ Không đêm nào vui bằng đêm nay/ Đêm lịch sử, Điện Biên sáng rực/ Trên đất nước như huân chương trên ngực/ Dân tộc ta, dân tộc anh hùng!/ Điện Biên vời vợi nghìn trùng/ Mà lòng bốn biển nhịp cùng lòng ta”. Tác giả sung sướng bao nhiêu thì người đọc cũng sung sướng bấy nhiêu. Những câu thơ ngợi ca chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến mãi mãi vang vọng trong tâm khảm già trẻ, gái trai trải qua các thế hệ: “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên/ Chiến sĩ anh hùng/ Đầu nung lửa sắt/ Năm mươi sáu ngày đêm, khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt/ Máu trộn bùn non/ Gan không núng, chí không mòn! […] Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ/ Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát/ Dù bom đạn, xương tan thịt nát/ Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh […] Máu của anh chị, của chúng ta không uổng/ Sẽ xanh tươi đồng ruộng Việt Nam/ Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam/ Hoa mơ lại trắng/ Vườn cam lại vàng”. Đây là tác phẩm thơ tổng hợp, tích hợp nhiều ý nghĩa cao đẹp: mô tả trận đánh, ca ngợi sự kiện Đại thắng, sẻ san niềm vui sâu sắc cùng đại gia đình dân tộc Việt Nam, ca ngợi quân và dân ta, tưởng nhớ, tri ân thương binh - liệt sĩ…

anh-tap-tho-ve-dien-bien-1.jpg
anh-tap-tho-ve-dien-bien.jpg

Chính Hữu nổi tiếng không phải ở số lượng tác phẩm mà do có nhiều bài thơ còn lại mãi mãi với thời gian, như “Ngọn đèn đứng gác”, “Lá ngụy trang” và riêng ở đây là “Giá từng thước đất”. Những câu thơ từng bám chặt vào tâm khảm chúng ta: “Năm mươi sáu ngày đêm bom gầm pháo giội/ Ta mới hiểu thế nào là đồng đội (…) Đồng đội ta/ Chia khắp anh em một mẩu tin nhà;/ Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp/ Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết.

Khi bạn ta
lấy thân mình
đo bước
Chiến hào đi
Ta mới hiểu
giá từng thước đất”

Khi bàn tiếp về những bài thơ thời sự tiếp cận sự kiện Đại thắng Điện Biên Phủ, sẽ không thể không đọc “Tiếng búa mở đường vào Điện Biên” của Thi Nhị nói về đồng chí Nguyễn Phú Lý, bộ đội công binh đã quai liền một hơi 972 nhát búa để phá đá mở đường khẩn trương cho pháo vào trận địa. Thêm nữa, “Anh bạn đòn gánh” của nhà thơ dân tộc Thái Lò Văn Cậy (do Mạc Phi dịch) là một bài thơ lạ. Trong chiến dịch đầy khó khăn, gian khổ, “Dẻo dai anh đòn gánh” đã giúp rất nhiều cho con người. Rồi không thể quên “Người đan võng” đáng yêu biết mấy khi Xuân Thiêm viết về người chiến sĩ này từ năm 1955. Giữa các đợt tiến công, anh đan võng dù cho con. Xúc động quá khi chúng ta đọc những dòng thơ: “Võng dù gửi đi rồi/ Tình anh về xóm nhỏ/ Anh xách súng mỉm cười/ Lại đi vào khói lửa// Ở một thôn nho nhỏ/ Ngày phượng đỏ mái đình/ Có một em hớn hở/ Đu võng bổng trời xanh// Nhưng người đan võng ấy/ Chưa gặp con một lần/ Phong thư nhòe nước suối/ Võng ru hoài vang ngân”. Người chiến sĩ ấy không bao giờ được trở về với gia đình. Đây là bài thơ để đời của nhà thơ Xuân Thiêm.

Tiếp tục, “Trang nhật ký cuối cùng của Pirốt” của Vương Trọng và “Nói với khẩu pháo 105 của giặc trên cánh đồng Mường Thanh” của Nguyễn Hải Trừng là hai bài thơ độc đáo. Nếu cùng “nói thay” đối phương, khi Vương Trọng đề cập Trung tá, chỉ huy trưởng pháo binh Pháp tự sát bi thảm vào ngày 15/3/1954, thì Nguyễn Hải Trừng vẽ bức tranh chiếc khẩu pháo của giặc hoen gỉ nằm lại thảm hại trên chiến trường, với cách nói gọi mày theo biện pháp nhân hóa vật vô tri - tác giả từ tầm cao nhìn xuống như nhìn một thân phận xấu số, thấp hèn.

Ba bài thơ mang tính chiêm nghiệm khái quát về một sự kiện lịch sử lớn, đó là “Em hãy đến cánh đồng Mường Thanh” của Bằng Việt, “Tổ quốc” của Nguyễn Quang Hà và “Hò dô ta nào” của Vũ Quần Phương. Dùng câu trùng điệp “Em hãy đến cánh đồng Mường Thanh” làm nhan đề bài thơ và cấu trúc tứ thơ, Bằng Việt đã khuyên nhân vật em (cùng mọi người) hãy đến nơi mà hai mươi năm trước đã xảy ra sự kiện đại thắng Điện Biên Phủ, để tự hỏi và trả lời “Mình phải gắng thêm gì?“. Đấy là một bài thơ có chiều sâu về tư tưởng mang tầm thời đại. Đọc Nguyễn Quang Hà chúng ta thấy ông dựng lại một cảnh cảm động: người mẹ trước đây đưa đứa con thơ dại lên Điện Biên tìm chồng thì nay bà trở lại chiến trường xưa, cùng đi với đứa con đã là vị tướng, quỳ xuống trước nấm mộ vô danh khi cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước đang gần đến kết thúc đại thắng. Đối với Vũ Quần Phương, ông lại dùng câu cảm thán “Hò dô ta nào” đậm sắc thái dân gian làm nhan đề bài thơ nhằm triển khai tứ thơ mới theo hướng thi pháp hiện đại. Nhà thơ gợi mở nhiều suy ngẫm sâu xa: “Hò dô ta nào!/ Cái dây tời các anh choãi chân đứng kéo/ Bây giờ vẫn căng […] Hò dô ta nào!/ Tiếng hô trận mạc/ Ba mươi năm vẫn cứ hằng ngày”.

Thơ ca về sự kiện Đại thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã đóng góp thêm thành tựu vào đề tài chiến tranh cách mạng, để lại ánh hào quang lâu dài. Lại nhớ, năm 1972, sự kiện đại thắng ấy đã làm nên biểu tượng mới “Điện Biên Phủ trên không” do quân và dân ta đánh tan máy bay B52 trên bầu trời Thủ đô Hà Nội. Sự kiện đại thắng này thêm một lần nữa cho ra đời nhiều áng văn chương, nối dài thêm âm hưởng của bản hợp xướng anh hùng ca vĩ đại năm xưa./.

Bài liên quan
  • Nhà văn Đức Anh: “Viết văn hay viết phê bình đều cần phải có đầy năng lượng…”
    Nhà văn Đức Anh Kostroma (sinh năm 1993, tại Nga) từng “chào sân” với các tác phẩm ấn tượng như “Thiên thần mù sương”, “Tường lửa”, “Đảo bạo bệnh”. Hành trình sáng tạo đầy bản lĩnh của anh đã nhận được sự đánh giá cao của giới chuyên môn và ghi được dấu ấn mạnh mẽ trong lòng bạn đọc. Giải thưởng “Tác giả trẻ” năm 2023 của Hội Nhà văn Việt Nam đã gọi tên anh cùng với tiểu thuyết “Nhân sinh kép: Sống hai cuộc đời”, bởi đã dám dấn thân thể hiện thế giới quan của “người đi khai phá nét kiêu sa” trong cuộc sống.
(0) Bình luận
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Chùm thơ của tác giả Khang Sao Sáng
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Khang Sao Sáng.
  • [Podcast] Tản văn: Phố núi đợi mùa
    Sớm mai thức giấc, cơn gió mang cái lạnh se sắt từ đâu ùa về. Tia nắng mỏng manh không đủ sức tan đi giọt sương khuya còn ướt đầm trên lá, ngược lại, biến chúng thành những viên ngọc lóng lánh cười trong nắng. Mới dăm hôm trước, nắng thu vẫn còn ấm áp cả không gian, mà nay, khí trời bàng bạc như thể mùa đông chạm ngõ. Ngó bên hiên nhà, hoa dã quỳ bừng nở, thay thời gian báo hiệu mùa về.
  • Giữ “miền sáng” của văn chương
    Những năm gần đây, văn học thiếu nhi Việt Nam đã có nhiều khởi sắc với sự nhập cuộc của các cây bút trẻ, sự đồng hành của các cơ sở giáo dục, các đơn vị xuất bản... Tuy nhiên, để “miền sáng” văn chương này thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng thì vẫn cần thêm những cơ chế hỗ trợ, những môi trường sáng tạo thuận lợi và trên hết là những tác phẩm đủ sức chạm tới trái tim bạn đọc...
  • Bước đi đột phá của phường Cửa Nam: Khi sức khỏe mỗi người dân được "số hóa" và bảo vệ trọn đời
    Chiến dịch khám sức khỏe định kỳ và tầm soát bệnh lý miễn phí ít nhất một lần mỗi năm cho 100% người dân trên địa bàn phường Cửa Nam trong năm 2026 chính là minh chứng sống động cho tư duy y tế dự phòng thời đại mới. Không dừng lại ở việc “đợi bệnh đến mới chữa”, mô hình này hướng tới quản lý, bảo vệ sức khỏe liên tục cho mỗi người dân ngay từ tuyến cơ sở.
  • Phường Cửa Nam: Trọn vẹn nghĩa tình trong chiến dịch thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ
    Sáng 2/7, UBND phường Cửa Nam đã chính thức phát động và triển khai đợt cao điểm thu nhận mẫu sinh phẩm ADN đối với thân nhân liệt sĩ chưa xác định được thông tin trên địa bàn. Đây là một trong những hoạt động trọng điểm nằm trong chiến dịch “500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ. Chiến dịch mang ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc, thắp lên niềm hy vọng cho hàng trăm gia đình sau nhiều thập kỷ mòn mỏi mong chờ.
Đừng bỏ lỡ
Thơ viết về chiến thắng Điện Biên Phủ: Nối dài âm hưởng bản hợp xướng anh hùng ca
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO