Lý luận - phê bình

Người lính và mùa xuân đất nước muôn đời

Lời bình của Ths. Trịnh Bích Thủy 07:43 22/04/2024

Nguyễn Khoa Điềm là tác giả lớn của nền thơ Việt Nam hiện đại. Ông góp vào gia tài thơ ca Việt Nam nhiều tác phẩm xuất sắc, trong đó có bài “Đồng dao mùa xuân”. “Đồng dao mùa xuân” được sáng tác vào tháng 12/1994, in trong sách “Thơ Nguyễn Khoa Điềm - Tuyển tập 40 năm do tác giả chọn” (Nxb Văn học, Hà Nội, 2011). Tác phẩm gồm 9 khổ với 33 dòng thơ, theo thể 4 chữ với phong cách đồng dao. Bài thơ được xem là một trong những tác phẩm thành công trong việc khắc họa hình tượng người lính.

Đồng dao mùa xuân

Có một người lính
Đi vào núi xanh
Những năm máu lửa.

Một ngày hòa bình
Anh không về nữa.

Có một người lính
Chưa một lần yêu
Cà phê chưa uống
Còn mê thả diều

Một lần bom nổ
Khói đen rừng chiều
Anh thành ngọn lửa
Bạn bè mang theo

Mười, hai mươi năm
Anh không về nữa
Anh vẫn một mình
Trường Sơn núi cũ Ba lô con cóc
Tấm áo màu xanh
Làn da sốt rét
Cái cười hiền lành

Anh ngồi lặng lẽ
Dưới cội mai vàng
Dài bao thương nhớ
Mùa xuân nhân gian

Anh ngồi rực rỡ
Màu hoa đại ngàn
Mắt như suối biếc
Vai đầy núi non...

Tuổi xuân đang độ
Ngày xuân ngọt lành
Theo chân người lính
Về từ núi xanh…

Nguyễn Khoa Điềm

nguoi-linh.jpg

Nguyễn Khoa Điềm là tác giả lớn của nền thơ Việt Nam hiện đại. Ông góp vào gia tài thơ ca Việt Nam nhiều tác phẩm xuất sắc, trong đó có bài “Đồng dao mùa xuân”. “Đồng dao mùa xuân” được sáng tác vào tháng 12/1994, in trong sách “Thơ Nguyễn Khoa Điềm - Tuyển tập 40 năm do tác giả chọn” (Nxb Văn học, Hà Nội, 2011). Tác phẩm gồm 9 khổ với 33 dòng thơ, theo thể 4 chữ với phong cách đồng dao. Bài thơ được xem là một trong những tác phẩm thành công trong việc khắc họa hình tượng người lính.

Có một người lính không tên…

Bài thơ mở đầu bằng khổ thơ ba dòng thơ vô cùng giản dị: “Có một người lính/ Đi vào rừng xanh/ Những năm khói lửa”. Dữ liệu trong khổ thơ này hết sức mờ nhạt: Có một người lính nào đó đi đánh giặc nơi rừng xanh trong những năm chiến tranh ác liệt. Không hề có thêm bất kỳ thông tin cụ thể nào khác về người lính này như tên, tuổi, quê quán, tham gia mặt trận nào… Tác giả dường như muốn xóa nhòa tất cả, hay đúng hơn, nhà thơ muốn khắc họa một hình tượng người lính không tên như biết bao người chiến sĩ vô danh khác. Điều này khiến người đọc liên tưởng đến hình tượng người lính “ra đi từ mái tranh nghèo” trong bài thơ “Màu hỏa đỏ” của tác giả Nguyễn Đức Mậu: “Có người lính/ mùa thu ấy ra đi từ mái tranh nghèo/ có người lính/ mùa xuân ấy ra đi từ ấy không về”.

Khi các thông tin về người lính chưa kịp được hé lộ thì ở khổ tiếp theo, chỉ với hai dòng thơ, tác giả đột ngột thông báo về sự hi sinh của người lính ấy: “Một ngày hòa bình/ Anh không về nữa”. Đây là lần đầu tiên và cũng là duy nhất bài thơ xuất hiện hai khổ thơ không theo kết cấu 4 dòng thông thường. Việc tách khổ như trên khiến cho cảm giác đột ngột, hụt hẫng pha lẫn tiếc nuối, xót thương được đẩy lên đỉnh điểm. Đây cũng là lúc tác giả bắt đầu triển khai việc thể hiện hình tượng người lính một cách đầy ám gợi, mang nhiều ý nghĩa biểu tượng trong các khổ tiếp theo.

Sang khổ thơ thứ ba, với điệp ngữ “Có một người lính” lặp lại dòng đầu tiên của bài thơ, cùng thủ pháp đảo chiều thời gian, tác giả quay về khắc họa hình ảnh người lính. Nhưng rồi, trong khổ thơ này, những thông tin về nhân thân của người lính lại một nữa bị lược đi như trong khổ thơ đầu. Tác giả chỉ cung cấp ba thông tin gần như chẳng có ý nghĩa gì về nhân thân của người lính: Chưa một lần yêu, Cà phê chưa uống và Còn mê thả diều. Nhưng đây lại là mấu chốt của toàn bài thơ. Ba thông tin này là ba tín hiệu cho biết một dữ liệu hết sức quan trọng: Người lính trong bài thơ còn rất trẻ, thậm chí còn mang nét đôi nét hồn nhiên của trẻ con. Điều này làm tại lại liên tưởng đến những hàm ý sâu xa của nhan đề bài thơ “Đồng dao mùa xuân”: đồng dao gợi nhắc đến nét hồn nhiên trẻ thơ, mùa xuân gắn liền với tuổi trẻ. Có lẽ, khắc họa hình tượng người lính vô danh đi chiến đấu cho hòa bình đất nước ở thời điểm tuổi đời còn đang rất trẻ, như mùa xuân vừa mới bắt đầu là một dụng ý nghệ thuật của nhà thơ. Chính sự hi sinh mùa xuân tuổi trẻ của người lính ấy cho mùa xuân đất nước muôn đời là vẽ đẹp cao cả nhất của người lính mà tác giả sẽ thể hiện một cách giản dị mà sâu lắng, cảm động trong những khổ thơ tiếp theo.

Cho mùa xuân đất nước muôn đời…

Nếu ở khổ thơ thứ hai, với việc rẽ hướng bất ngờ (từ khổ thơ đầu mới vừa được ba dòng đã chuyển ngay xuống khổ tiếp theo chỉ với hai dòng thơ), tác giả gián tiếp thông báo sự hi sinh của người lính trẻ, thì ở khổ thơ thứ tư, nhà thơ miêu tả một cách chi tiết hơn về sự hi sinh của người lính ấy: “Một lần bom nổ/ Khói đen rừng chiều”. Không gian, thời gian và hoàn cảnh được miêu tả cụ thể hơn. Đó chính là trong một trận bom giữa buổi chiều nơi rừng sâu, người lính đã nằm xuống. Tuy nhiên, đến khi nói về sự hi sinh của người lính trẻ, tác giả lập tức chuyển từ phương thức tả thực sang ẩn dụ: “Anh thành ngọn lửa/ Bạn bè mang theo”. Không chỉ để giảm đi nỗi đau mất mát, hình ảnh ngọn lửa ấm áp, gần gũi, sáng ngời, bền bỉ còn làm cho sự hi sinh của người lính thêm bi tráng, đẹp đẽ. Ngọn lửa ấy cũng như hình ảnh màu hoa đỏ trong bài thơ cùng tên của Nguyễn Đức Mậu đã thắp lên ngời sáng tình yêu quê hương, đất nước cùng lí tưởng hi sinh vì Tổ quốc trong những người lính lặng thầm một thuở.

Trong bốn khổ thơ tiếp theo, giọng thơ bất ngờ chùng lại. Người lính đã nằm xuống. “Mười, hai mươi năm sau”, cuộc chiến cũng đi qua, đất nước cũng đã hòa bình, đồng đội anh được trở về sum họp với gia đình thì “Anh không về nữa”. Giữa “Trường Sơn núi cũ”, “Anh vẫn một mình”, vĩnh viễn gửi lại tuổi thanh xuân tươi đẹp cùng những ngày tháng chiến đấu oanh liệt, gian khó nơi rừng sâu núi thẳm. Không tô đậm nỗi bi thương, cũng không né tránh nỗi đau mất mát, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện sự hi sinh của những người lính trẻ một cách giản dị mà thật sâu lắng, xót xa.
Người lính không còn nữa nhưng hình ảnh anh vẫn còn mãi trong lòng đồng đội. Đó là hình ảnh người lính trẻ, chiến đấu với gian lao nhưng vẫn luôn yêu đời, hồn hậu: “Ba lô con cóc/ Tấm áo màu xanh/ Làn da sốt rét/ Cái cười hiền lành”. Những câu thơ tả thực nhưng cũng mang đậm tính biểu tượng, khắc họa một cách cô đọng mà ám ảnh về những người lính rừng xanh trong hoàn cảnh chiến đấu thiếu thốn, gian khổ. Điều này trước đó cũng từng được nhà thơ Quang Dũng thể hiện thành công qua hình ảnh đoàn binh Tây Tiến với những vần thơ oai hùng: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/ Quân xanh màu lá dữ oai hùm”.

gio-truc-chien-tranh-khac-go-cua-hoa-si-mai-lam.jpg
“Giờ trực chiến” - tranh khắc gỗ của họa sĩ Mai Lâm

“Đồng dao mùa xuân” là câu chuyện cảm động về người lính chiến đấu, hi sinh khi tuổi đời chỉ mới đôi mươi. Khi chiến tranh đã lùi xa, người lính nằm lại với rừng sâu lâu rồi nhưng những kỷ niệm về anh trong ký ức, trong nỗi nhớ thương của đồng đội vẫn vẹn nguyên, như mới hôm qua. Người lính đã hiến dâng tuổi thanh xuân cho đất nước và chính anh lặng lẽ hóa thân thành mùa xuân: “Anh ngồi lặng lẽ/ Dưới cội mai vàng”. “Mười, hai mươi năm sau” hay lâu hơn thế nữa, người lính vẫn ngồi lại giữa Trường Sơn, “dưới cội mai vàng” giữa mùa xuân tươi thắm. Tuổi trẻ đẹp tươi của anh đã thành mùa xuân bất tử. Anh vẫn ngồi lặng lẽ, bền bỉ như thế với “Dài bao thương nhớ/ Mùa xuân nhân gian”. Người lính đã không còn nữa nhưng tình yêu đất nước, quê hương trong anh vẫn trường tồn, bất diệt. Khổ thơ tiếp theo: “Anh ngồi rực rỡ/ Màu hoa đại ngàn/ Mắt như suối biếc/ Vai đầy núi non” là những hình ảnh thật đẹp, đậm chất lãng mạn. Như bao người lính đã hi sinh thân mình vì độc lập, tự do của anh tộc, người lính trong bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã hóa thân cho dáng hình xứ sở/ Làm nên Đất Nước muôn đời (trường ca “Mặt đường khát vọng”). Anh gửi lại tuổi thanh xuân đẹp tươi của mình cho mùa xuân đất nước mãi tươi thắm muôn đời. Tuổi xuân của anh đã hòa vào mùa xuân đất nước thiêng liêng. Và chính người lính cũng trở nên bất tử cùng đất nước ngàn đời.

Sang khổ thơ cuối, mạch thơ bất ngờ rẽ hướng. Ở những khổ thơ trước, hình tượng người lính được khắc họa ở những trạng thái “Anh không về nữa”, “Anh vẫn một mình”, “Anh ngồi lặng lẽ”… phảng phất nét buồn thương thì ở khổ thơ này: “Tuổi xuân đang độ/ Ngày xuân ngọt lành/ Theo chân người lính/ Về từ núi xanh”. Trong mạch hoài niệm, nhớ thương, tri ân đồng đội đã ngã xuống của những người lính được trở về, “anh” không còn “một mình”, “lặng lẽ” giữa rừng sâu nữa. Anh hóa thành mùa xuân đất nước, đi cùng năm tháng với đất nước quê hương. Người lính trở về, mang theo mùa xuân đang độ ngọt lành để tô thắm cho những mùa xuân tương lai đất nước. Giọng thơ cũng trở nên thật ngọt ngào, đầm ấm, tươi vui.

Có thể nói, “Đồng dao mùa xuân” là một trong những bài thơ hay, cảm động của Nguyễn Khoa Điềm. Đây là một trong những đóng góp của nhà thơ đối với đề tài người lính trong thơ Việt Nam hiện đại./.

Bài liên quan
  • Chuyện phố - Tiếp nối hành trình trăn trở về thế sự
    Chiều ngày 25/3/2024, NXB Phụ nữ Việt Nam phối hợp với Bộ môn Lý luận văn học - Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức buổi tọa đàm “Chuyện phố - Một tự sự về đô thị đương đại” tại sảnh Nhà E, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tới dự tọa đàm có đại diện của Ban giám hiệu nhà trường, đại diện Nhà xuất bản, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu cùng đông đảo bạn đọc trẻ.
(0) Bình luận
  • Bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt
    Trường ca “Thần Nông chân đất” của nhà thơ Phùng Trung Tập (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 12 chương, với 184 trang. Tác phẩm tái hiện và ngợi ca lao động nông nghiệp như nền tảng sinh tồn của cộng đồng Việt, đồng thời đưa người nông dân lên tầm biểu tượng văn hóa - lịch sử - những “Thần Nông chân đất” đã mở cõi, dựng làng, giữ nước và truyền sinh khí cho non sông qua hàng nghìn năm. Đây là bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt Nam trong chiều dài lịch sử dân tộc.
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa Hà Nội trong kỷ nguyên mới
    Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage Flow” (từ 11 - 20/9) mở rộng cả về nội dung, không gian và phương thức tổ chức, là sự khẳng định tầm nhìn, hành động thiết thực thúc đẩy quá trình phát triển của công nghiệp văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Từ những trang sách đến không gian văn hóa tri thức của Thủ đô
    Thành ủy Hà Nội ban hành Chương trình hành động số 16-CTr/TU ngày 24/8/2026 thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới. Đây không chỉ là định hướng phát triển một lĩnh vực thuộc đời sống tư tưởng, văn hóa, mà còn đặt ra yêu cầu xây dựng hệ sinh thái xuất bản, thư viện và văn hóa đọc hiện đại, qua đó bồi đắp đời sống tinh thần, khơi mở tri thức và góp phần làm sâu sắc thêm bản sắc văn hóa Thăng Long – Hà Nội.
  • Bảo tàng Hà Nội hòa dòng chảy sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa
    Là thiết chế văn hóa quan trọng của Thủ đô, cùng với việc lưu giữ và phát huy giá trị di sản, Bảo tàng Hà Nội đã, đang trở thành điểm đến của các sự kiện văn hóa nghệ thuật góp phần phát triển công nghiệp văn hóa Hà Nội trong thời kỳ mới. Đáng chú ý, Bảo tàng Hà Nội sẽ là nơi gặp gỡ giữa di sản, nghệ thuật, sáng tạo và cộng đồng, đưa những giá trị văn hóa của Thủ đô đến gần hơn với công chúng qua các hoạt động thuộc Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026 vào tháng 9 này.
  • Khi những giai điệu truyền thống hoà quyện cùng tinh hoa jazz thế giới
    Chiều 6/9, tại Nhà Bát giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” với sự tham gia của NSƯT Quyền Văn Minh cùng các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club đã đem đến cho công chúng một cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa những giai điệu quen thuộc của Việt Nam hoà quyện với tinh hoa jazz thế giới. Từ “Hà Nội - Niềm tin và hy vọng”, “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa” đến “Hà Nội 12 mùa hoa”, hình ảnh Thủ đô được tiếp nối bằng ngôn ngữ âm nhạc giàu sức sáng tạo.
  • “Âm nhạc cộng đồng” góp thêm sắc màu truyền thống cho đời sống văn hóa Hà Nội
    Tối 6/9, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội) chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội thực hiện đã đưa khán giả đi qua nhiều miền ký ức và sắc màu văn hóa bằng ngôn ngữ chung của âm nhạc. Từ những giai điệu mang âm hưởng Tây Bắc đến các ca khúc viết về Tổ quốc, về Thủ đô ngàn năm văn hiến đến khát vọng của thế hệ trẻ, đêm diễn mang đến một dòng chảy âm nhạc kết nối quá khứ với hiện tại, truyền thống với hơi thở đương đại.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội: Khi văn hóa trở thành nguồn lực kiến tạo tương lai
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 100-KH/TU ngày 28/8/2026 về chỉ đạo triển khai “Ngày Văn hóa Việt Nam” trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030. Không chỉ là một hoạt động văn hóa thường niên, Kế hoạch đặt “Ngày Văn hóa Việt Nam” trong một tầm nhìn rộng hơn: trở thành điểm hội tụ để tôn vinh, lan tỏa các giá trị văn hóa, khơi dậy sức sáng tạo và từng bước đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển của Thủ đô.
  • Hà Nội lấy ý kiến người dân về điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
    Hà Nội chuẩn bị lấy ý kiến người dân, chuyên gia và các cơ quan liên quan về điều chỉnh tổng thể quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở.
  • Nhà thơ Cao Ngọc Thắng: Cần mẫn cày ải trên cánh đồng chữ…
    Tôi biết Cao Ngọc Thắng khá sớm, quãng những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Lần đầu tôi gặp ông tại 58 Quán Sứ, Hà Nội, trụ sở của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Khi ấy, ông mới vào cuộc đời làm báo, còn tôi cũng vậy. Cao Ngọc Thắng nguyên là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đóng chân ở Xuân Hòa (Vĩnh Phú cũ), còn tôi thì nguyên là kỹ sư canh nông ở mãi vùng biên giới Tây Nam, Bảy Núi, An Giang. Vì những duyên do khác nhau, cả hai đều bỏ nghề chuyên môn, chọn Thủ đô để theo nghề báo chuyên nghiệp.
  • “Những lớp phù sa” kể chuyện văn hóa Bắc Bộ trên sân khấu đương đại
    Từ hình tượng một giọt nước bắt đầu hành trình theo dòng sông Hồng, “Những lớp phù sa” mở ra câu chuyện về đất, người và những lớp ký ức văn hóa Bắc Bộ. Kết hợp múa dân gian đương đại với âm nhạc truyền thống, nghệ thuật thị giác và công nghệ đa phương tiện, chương trình hướng tới một cách kể mới về những giá trị văn hóa đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
  • "Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai" 2026: Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai
    Lễ hội mang chủ đề "Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai", dự kiến chính thức diễn ra từ ngày 01/10 đến ngày 04/10/2026 tại không gian Hoàng thành Thăng Long. Sự kiện quy tụ nhiều hoạt động phong phú như Lễ hội âm nhạc “Hòa nhạc năm châu”, Làng Văn hóa Thế giới, Lễ hội đường phố “Sắc màu năm châu”, Lễ hội “Ẩm thực năm châu”, chương trình chiếu phim, cùng khu vực trải nghiệm sáng tạo từ di sản với Festival Games Quốc tế...
  • [Podcast] Tản văn: Quán cóc
    Gọi là “quán trà/ quán cóc” theo thói quen chứ thực ra hầu hết là các hàng trà chén ngồi ghé đầu hè, đầu ngách, nép bên cột điện, gốc cây..., chứ chẳng có lều có quán gì! Không nhẽ gọi là “quán trà - không quán”!
  • Trao giải cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”
    Vào 19h30, ngày 4/9 tại Thái Học, Văn Miếu – Quốc Tử Giám sẽ diễn ra Đêm Chung kết và Lễ trao giải Cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”.
  • Chương trình nghệ thuật “Giai điệu Tổ quốc” lan tỏa tình yêu quê hương, đất nước
    Tối 31/8, tại xã Bát Tràng, Nhà hát Cải lương Hà Nội tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề "Giai điệu Tổ Quốc", chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2026).
  • Cận cảnh lăng mộ vị vua thứ 6 triều Nguyễn trị vì 130 ngày
    Trị vì được 130 ngày thì mất, vị vua thứ 6 triều Nguyễn có lăng mộ nằm giữa rừng thông khá khiêm tốn nhưng vẫn đảm bảo tính uy nghiêm về khu lăng mộ của một bậc hoàng đế.
  • Tọa đàm phân loại rác tại nguồn: Phụ nữ Phú Lương biến rác thải thành tài nguyên
    Nhằm đưa việc phân loại rác tại nguồn trở thành một thói quen thường xuyên trong từng gia đình, mới đây, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) đã phối hợp cùng Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị tổ chức thành công chương trình Tọa đàm với chủ đề "Vai trò của phụ nữ trong bảo vệ môi trường - phân loại rác tại nguồn". Sự kiện không chỉ thu hút đông đảo cán bộ, hội viên tham gia mà còn mang đến những nội dung vô cùng thiết thực, gần gũi, gắn kết trực tiếp với đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân.
Người lính và mùa xuân đất nước muôn đời
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO