Lý luận - phê bình

Thế hệ nhà văn 1975 trong không gian văn học đương đại

Nhà văn Bùi Việt Thắng 09:41 20/04/2025

Lớp nhà văn sinh từ 1975, chúng tôi gọi là “Thế hệ 1975”, một lực lượng đông đảo (sinh ra trong vòng 20 năm, sau giải phóng miền Nam), các tác giả là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hoặc những cây bút nhiều triển vọng.

Trong bài viết này, chúng tôi chỉ “chạm” đến “Thế hệ 1975” chuyên sáng tác văn/ thơ, còn các tác giả viết lý luận, phê bình sẽ được đề cập riêng trong một bài khác.

Con số 50 gương mặt tiêu biểu hàm nghĩa một thời kỳ lịch sử nửa thế kỷ (1975 - 2025). Sáng tác văn xuôi có: Đỗ Bích Thúy (1975), Võ Diệu Thanh (1975), Nguyễn Thị Lê Na (1975), Phong Điệp (1976), Tống Ngọc Hân (1976), Trần Đức Tĩnh (1976), Nguyễn Ngọc Tư (1976), Phạm Thị Duyên (1977), Uông Triều (1977), Nguyễn Xuân Thủy (1977), Mai Phương (1977), Nguyễn Hương Duyên (1977), Di Li (1978), Vũ Thanh Lịch (1978), Nguyễn Thị Hồng Chính (1979), Phan Thúy Hà (1979), Niê Thanh Mai (1980), Chu Thị Minh Huệ (1981), Nguyễn Văn Học (1981), Trần Quỳnh Nga (1981), Thương Hà (1981), Trần Thị Tú Ngọc (1984), Nguyễn Thị Kim Hòa (1984), Văn Thành Lê (1986), Nguyệt Chu (1986), Trác Diễm (1987), Vũ Thị Huyền Trang (1987), Hoàng Công Danh (1987), Lê Vũ Trường Giang (1988), Đinh Phương (1989), Meggie Phạm (1991), Đỗ Nhật Phi (1991), Huỳnh Trọng Khang (1992), Phan Đức Lộc (1995).

Những căn rễ của sự cách tân tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975
Ảnh minh họa.

Sáng tác thơ có: Nguyễn Thị Hạnh Loan (1976), Bình Nguyên Trang (1977), Bế Kim Loan (1977), Phạm Thùy Vinh (1977), Trần Vũ Long (1977), Đỗ Doãn Phương (1977), Vi Thùy Linh (1980), Nguyễn Quang Hưng (1980), Phạm Vân Anh (1980), Trần Hoàng Thiên Kim (1981), Phạm Thúy Nga (1981), Thy Lan (1982), Khúc Hồng Thiện (1983), Đào Quốc Minh (1986), Lữ Thị Mai (1988), Nguyễn Thị Kim Nhung (1990).

Trong số 50 tên tuổi kể trên có khoảng 90% là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hơn 70% cây bút viết văn xuôi, gần 30% cây bút làm thơ, hơn 70% là các cây bút nữ (kiến tạo nên văn chương mang gương mặt nữ). Có “âm thịnh dương suy”?! Không hẳn. Đơn giản là vì thời đại kinh tế được đặt lên hàng đầu trong cuộc phấn đấu sinh tồn của mỗi người thì phái mày râu ít người theo đuổi nghề văn (dễ mang lấy nghiệp văn). Trong lực lượng hùng hậu này, số người làm thơ chỉ chiếm gần 30%. Vì sao? Không khó giải thích, vì “cơm áo không đùa với khách thơ”, trong khi văn xuôi đang đăng đàn (thời đại đang cung cấp nhiều “cốt truyện”, “nhân vật”, “tình huống” điển hình); độc giả đang xa rời thơ bởi vì “thơ cốt chơn” (chân), nhưng khi soi vào thơ họ không tìm được sự cộng cảm cần thiết.

Về trình độ học vấn của “Thế hệ 1975”, nếu so với các thế hệ tiền nhiệm là cao hơn hẳn (tuyệt đại đa số đều có trình độ cử nhân). Nhưng học vấn và văn hóa không tỷ lệ thuận. Sáng tác văn học nghệ thuật lại đòi hỏi vốn liếng đầy đặn của trải nghiệm sống. Theo cách diễn đạt của nhà văn Nguyễn Tuân thì công việc của người viết văn là “đi - đọc - viết”. Liệu các tác giả “Thế hệ 1975” đã thực hành đầy đủ công thức (yêu cầu) vừa là tối thiểu, vừa là tối đa này trong một không gian mở?!

Quan niệm văn chương (về sứ mệnh của văn chương, trách nhiệm của nghệ sỹ ngôn từ) bao giờ cũng có vai trò kiến tạo, dẫn dắt hành động sáng tác. Quan niệm văn chương có thể trực tiếp thể hiện qua các quan điểm, cũng có thể qua thực tế viết (cảm hứng, hình tượng, khuynh hướng,...). Một thời gian dài quan niệm “văn chương là một trò chơi vô tăm tích” không thể nói không ảnh hưởng đến những người cầm bút trẻ. Không ít người trẻ có nhu cầu bức bách muốn khước từ tính “toàn trị” của phương pháp sáng tác (ở đây là khước từ “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” vốn được coi là quan trọng trong phạm trù “văn học cách mạng”), chỉ chấp nhận cá tính, đòi hỏi tự do (tuyệt đối) sáng tác. Không ít người nhiệt tình cổ súy, đề cao “cái khác” (thực chất là cái lạ), cổ súy cho “ngoại biên”, từ chối “đại tự sự”, cổ vũ nhiệt thành cho các ism (chủ nghĩa) du nhập từ phương Tây (Chủ nghĩa hậu hiện đại, chẳng hạn). Tuy nhiên, không phải người viết trẻ nào cũng say mê các “trò chơi” chữ nghĩa. Tác giả Hoàng Công Danh nghiêm túc: “Tôi nghĩ, cũng như tôn giáo, văn chương là liều cứu rỗi, nó sẽ đồng hành cùng con người, nâng dìu con người đi qua bể khổ đời. (...); văn chương có ích cho cuộc đời này, nếu không, từ bao giờ đến bây giờ nó đã chẳng tồn tại” (dẫn theo Hoàng Đăng Khoa, “Song hành và đối thoại”, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr.21). Đồng quan niệm, Vũ Thanh Lịch chia sẻ: “Với tôi, văn chương là sự cứu rỗi, nơi cho tôi nguồn sinh lực” (Văn nghệ quân đội số 933+934/ 2020, tr.44). Phong Điệp, tác giữ giữ kỷ lục viết (đã xuất bản 20 tác phẩm, đã có sách được dịch và giới thiệu ở Mỹ, Pháp), chân thành bày tỏ: “Văn chương giúp tôi sống có ý nghĩa hơn” (dẫn theo Hoàng Đăng Khoa, Sđd, tr.35).

Thực hành sáng tác là thước đo cao nhất khi đánh giá “Thế hệ 1975”, thực tế họ đã tạo nên một “làn sóng mới”, góp vào nền văn chương hiện đại một số lượng tác phẩm không thể nói là ít, tạo nên cái không khí rôm rả, thậm chí “phì đại” của đời sống văn chương. Nhìn vào sản phẩm, dễ thấy họ đã làm được một khối lượng lớn công việc. Nhưng mặt khác cũng thấy, không ít người trong số họ coi viết văn là một cuộc “phiêu lưu chữ”, là “trò chơi ngôn từ”, nên các tính năng xã hội của văn chương dường như bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Tuy nhiên, công bằng trong đánh giá, cần ghi nhận nỗ lực của không ít nhà văn đã cố gắng gìn giữ những chuẩn mực văn chương và kiến tạo lưng vốn tác phẩm đầy đặn, vừa lưu giữ được truyền thống vừa tích cực đổi mới. Có một Đỗ Bích Thúy (đã in 23 tác phẩm văn xuôi, trong đó có 6 tiểu thuyết), được coi là người níu giữ hồn vía của núi rừng quê hương, dù đi đâu, làm gì cũng không hề vong bản. Có một Nguyễn Quang Hưng - người trẻ nhưng đau đáu với “chia ngũ cốc” nhan đề một tập thơ hay trong số 10 tác phẩm gồm trường ca, thơ, tản văn, ký chân dung, thời luận đã xuất bản). Có một Tống Ngọc Hân (đã in 3 tiểu thuyết, 6 tập truyện ngắn, 2 tập thơ) gồng mình hết mức vượt khó, vượt khổ để chung thủy với văn chương và luôn đứng về “phe nước mắt” (quan tâm viết về những con người bình thường nhưng không tầm thường với những “số phận bên lề”). Có người nỗ lực vượt lên rất cao so với mặt bằng văn chương và thế hệ như Nguyễn Ngọc Tư với “Cánh đồng bất tận” (Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2006; Giải thưởng Văn học ASEAN, năm 2008).

Đánh giá “Thế hệ 1975” là việc không dễ dàng vì nó là một thực thể văn chương đang vỡ ra và phát triển. Nhưng rõ ràng là, thế hệ này muốn đi xa, đi đường dài với văn chương thì tối cần thiết phải trải nghiệm sống và trải nghiệm văn hóa nhiều hơn, sâu hơn, cao hơn, nếu không, họ sẽ bị “đứt gãy” với truyền thống, với các thế hệ tiền bối. Trong trải nghiệm văn hóa, theo chúng tôi, có thể bằng con đường/cách thu hút tinh hoa văn hóa dân gian (folklore) và văn hóa truyền thống dân tộc (tinh hoa nhất qua văn chương cổ điển và hiện đại). Chắc rằng nhiều người trong “Thế hệ 1975” không còn nhớ (hoặc không đọc) luận văn xuất sắc của Xuân Diệu “Sự uyên bác với việc làm thơ” (1985), sau khi viết xong dự định tự mình đọc trước Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc, nhưng không kịp. Song, những lời hay ý đẹp thì mọi người đã kịp đón nhận (sau đó được in trên Tạp chí Văn học, số 1-1986). Nhiều người rất thích ý tưởng thâm hậu của thi nhân hiện hình trên từng câu chữ: “Chao ôi! Chúng ta làm việc còn ít quá, chúng ta yêu thơ văn của dân tộc còn thiếu sót quá; thơ của chúng ta mấy chục năm nay đã hay rồi, tuy nhiên theo tôi nghĩ, nếu chúng ta tiếp nhận đầy đủ sâu sắc hơn nữa cái vốn truyền thống của cha ông, thì thơ hiện kim của ta có thể còn hay hơn nữa, sâu hơn nữa, phải uyên bác chứ; nếu không ai chịu uyên bác thì các tuyển tập làm xong in xong rồi, lắm bài thơ hay cứ phải nằm ngửa trong các tủ sách, thiếu một tâm hồn, một tâm trí đến đánh thức những bài ấy dậy, trở thành nụ cười, giọt lệ của chúng ta, đi với chúng ta, để cùng đánh giặc, cùng xây dựng (...). Đối với vốn thơ dân tộc, chúng ta còn nhiệm vụ uyên bác hơn nữa, để rút tối đa mật nhụy.” (“Xuân Diệu - Tác phẩm chọn lọc”, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, tr. 206 - 208).

“Thế hệ 1975”, theo chúng tôi, đang thiếu hành trang đi xa ngay chính trên đất nước mình, chưa nói đến việc đi ra thế giới do chỗ còn thiếu trải nghiệm sống cuộc đời thực với muôn vàn sắc màu, âm thanh, mùi vị, đường nét; trong vô vàn nỗi niềm, cơ sự, tình huống, số phận, cảnh ngộ. “Sống ảo” là một đặc trưng của giới trẻ hôm nay (Việt Nam là một trong các “cường quốc” về số người sử dụng internet và mạng xã hội). Không nhiều người dũng cảm xông vào “tâm bão” của đời sống (nên thích trú ngụ trong cô đơn, quá khứ, trong kỳ ảo, viễn tưởng, hoang đường, ca tụng thân xác). Đọc họ, có cảm giác thấy thiếu hụt, mờ nhạt cuộc đời thực, chỉ thấy nổi lên hàng đầu “tự ngã trung tâm”. Vì vậy, nếu độc giả có quay lưng với sáng tác văn chương nói chung, văn trẻ nói riêng thì không có gì khó giải thích. Hiện thực đời sống luôn “mời mọc” nhà văn, nhưng liệu họ có mặn mà, khắc khoải, say mê tìm tòi, có dám dấn thân và lựa chọn (!?).

Không hề cũ khi chúng ta ghi nhớ quan niệm của nhà văn Nguyễn Minh Châu: “Mỗi nhà văn gắn chặt với số phận dân tộc và đất nước mình - như cái đai của người mẹ quấn quanh mình đứa trẻ. Và hình như còn hơn thế nữa. Người nghệ sĩ là một đứa con của đất nước mà chỉ có nó mới có thể giao cảm hết những cái vui buồn và nhọc nhằn của người mẹ - cả những điều mà người mẹ không bao giờ nói ra” (“Di cảo Nguyễn Minh Châu”, Nxb Hà Nội, 2009, tr. 363).
“Thế hệ 1975” liệu có thể trở thành những nghệ sĩ ngôn từ đích thực như mong ước của các nhà văn tài năng thế hệ đi trước, của bạn đọc hôm nay (?!). Câu trả lời thuyết phục đang ở phía trước nhà văn./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Tản văn: Phượng tím vắt ngang trời thương nhớ
    Đến Đà Lạt vào ngày nắng chói, đôi mắt chị dõi tìm loài hoa gieo thương nhớ, phượng tím. Đà Lạt mùa nào sắc đó, đều là những loài đặc trưng của xứ sở ngàn hoa. Mùa dã quỳ vàng hoang hoải, mùa cỏ hồng bềnh bồng như mây, mùa hoa ban trắng tinh khôi, mùa anh đào ngọt ngào trong trẻo. Với chị, lưu luyến nhất vẫn là mùa phượng tím. Mùa này phượng rải sắc tím ngăn ngắt khắp đất cùng trời, gợi lên trong lòng xiết bao lưu luyến.
  • Mưa mùa hạ
    Khác với mưa phùn gió bấc hay những ngày “mưa thối đất thối cát” lê thê, mưa mùa hè luôn đem đến cảm giác hứng khởi. Nó đến bất ngờ, ào ạt rồi đi rất nhanh, trả lại bầu không khí dịu mát và bầu trời trong veo. Tôi vẫn nghĩ mưa mùa hè là cơn mưa đẹp nhất, trẻ trung và hào phóng như tuổi thanh xuân. Đang nắng như úp chảo lửa, bỗng mây đen ùn ùn kéo đến.
  • Khám phá vẻ đẹp Văn Miếu-Quốc Tử Giám qua 120 tác phẩm nghệ thuật
    Chiều 8/8, tại Nhà Thái Học, Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu- Quốc Tử Giám, triển lãm tranh “Ngàn năm di sản” chính thức khai mạc. Đây là hoạt động văn hóa nghệ thuật do Câu lạc bộ Tôi Vẽ phối hợp cùng Trung tâm hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức, chào mừng 950 năm Quốc Tử Giám (1076-2026) và hướng tới kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • Điều chưa biết về làng cổ Bình Vọng cận kề thành Thăng
    Làng cổ này ngày xưa rất nổi tiếng nhưng thời nay ít người biết đến, đó là làng cổ Bình Vọng, cận kề với kinh thành Thăng Long. Thượng tá Công an Trần Đình Hưng là anh trai làng Bình Vọng, về thăm quê hương đúng vào ngày làng có việc: ngày mồng bảy tháng giêng hàng năm.
  • Lai Xá – Một địa chỉ du lịch văn hóa – lịch sử hấp hẫn
    Lai Xá là một làng cổ ngoại vi kinh thành Thăng Long. Làng Lai Xá nằm cạnh con đường quốc lộ 23. Đến năm sau đổi mới, dân làng Lai Xá, một số gia đình di chuyển sang xây dựng hai bên đường quốc lộ 23 trở thành phố Lai Xá. Như vậy Lai Xá vừa là làng vừa là phố, ta quen gọi là Phố làng Lai Xá hiện nay.
Đừng bỏ lỡ
  • Chùm thơ của tác giả Đặng Minh Kính
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Đặng Minh Kính.
  • Chè lam Thạch Xá - thức quà quê dân dã của xứ Đoài
    Nhắc đến ẩm thực xứ Đoài, nhiều người nhớ ngay đến chè lam, đặc sản thơm dẻo của làng Thạch Xá, huyện Thạch Thất (nay thuộc xã Tây Phương, TP Hà Nội). Trải qua thời gian, chè lam Thạch Xá vẫn giữ nguyên hương vị truyền thống, trở thành thức quà quen thuộc với người dân và du khách gần xa.
  • Từ cơ chế đặc thù Luật Thủ đô 2026, Hà Nội gia hạn thực hiện 6 dự án đầu tư trọng điểm
    Tại kỳ họp thứ 6 diễn ra ngày 10/8, HĐND thành phố Hà Nội khóa XVII, nhiệm kỳ 2026 – 2031 đã chính thức thông qua Nghị quyết về việc gia hạn thực hiện 6 dự án đầu tư trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
  • “Bến sông Trăng” giành giải Nhất thiết kế cầu Cồn Hến, kiến trúc mang đậm bản sắc Huế
    “Bến sông Trăng” với ý tưởng khai thác hình ảnh thơ mộng của sông Hương, ánh trăng, thuyền và hoa đăng tạo nên chuỗi biểu tượng kiến trúc mang đậm bản sắc Huế đạt giải Nhất thiết kế kiến trúc cầu qua Cồn Hến.
  • Làng nghề hơn 600 năm tuổi, lưu giữ sản phẩm mây tre đan truyền thống ở Cố đô Huế thu hút du khách
    Không chỉ đa dạng các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mà làng nghề mây tre đan Bao La (TP Huế) đã tìm ra hướng mới là hình thành địa chỉ tham quan trải nghiệm sản phẩm truyền thống.
  • Để âm nhạc trở thành một phần của nhịp sống đô thị
    Dựa trên chất liệu ả đào và âm thanh phóng khoáng của jazz, “Vũ điệu Thăng Long” mang trong mình một cuộc gặp gỡ giữa truyền thống và hiện đại. Lần đầu vang lên tại Nhà Bát Giác trong chương trình “Âm nhạc cuối tuần”, tác phẩm của NSƯT Quyền Văn Minh không chỉ gợi nhắc về một Hà Nội giàu trầm tích văn hóa, mà còn cho thấy những giá trị truyền thống ấy đang được tiếp thêm sức sống mới trong nhịp sống hôm nay.
  • Hà Nội phê duyệt Đề án Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa
    Đề án thực hiện nhận diện chi tiết 11 ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm của Hà Nội bao gồm Điện ảnh, Mỹ thuật - nhiếp ảnh - triển lãm, Nghệ thuật biểu diễn, Phần mềm và trò chơi giải trí, Quảng cáo, Thủ công mỹ nghệ, Du lịch văn hóa, Thiết kế sáng tạo, Truyền hình và phát thanh, Xuất bản, cùng lĩnh vực Ẩm thực mang nét đặc thù của Thủ đô.
  • Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
    Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những định hướng trọng tâm được Thành ủy Hà Nội xác định khi triển khai các chương trình hành động thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị về giáo dục - đào tạo, y tế và văn hóa. Theo kết luận của đồng chí Nguyễn Văn Phong, Phó Bí thư Thành ủy, nhiều nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ đã được đặt ra nhằm phát huy nguồn lực con người, khơi dậy sức mạnh văn hóa và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của Thủ đô.
  • Khi âm nhạc chạm vào trái tim “đánh thức” những miền ký ức
    Có những giai điệu chỉ cần cất lên đã gợi về một miền ký ức. Đó có thể là một con phố sau cơn mưa, là hàng cây lặng gió hay một khoảng trời mang theo nỗi nhớ của nhiều thế hệ. Chiều 9/8, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” sẽ mở ra một không gian như thế, nơi mỗi tác phẩm trở thành một lát cắt tinh tế về vẻ đẹp của con người và đời sống.
  • Dự án 7 cây cầu bắc qua sông Hồng: Định hình tương lai Hà Nội phát triển nhanh, bền vững
    Thành phố Hà Nội đã, đang triển khai cùng nhiều dự án hạ tầng giao thông, trong đó có 7 cây cầu mới bắc qua sông Hồng, gồm cầu: Tứ Liên, Trần Hưng Đạo, Thượng Cát, Ngọc Hồi, Hồng Hà, Mễ Sở và Vân Phúc. 7 cây cầu này vừa giải bài toán hạ tầng giao thông Thủ đô, vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược và cuộc cách mạng không gian để định hình tương lai phát triển bền vững Thủ đô trong kỷ nguyên mới.
Thế hệ nhà văn 1975 trong không gian văn học đương đại
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO