Lý luận - phê bình

Thế hệ nhà văn 1975 trong không gian văn học đương đại

Nhà văn Bùi Việt Thắng 09:41 20/04/2025

Lớp nhà văn sinh từ 1975, chúng tôi gọi là “Thế hệ 1975”, một lực lượng đông đảo (sinh ra trong vòng 20 năm, sau giải phóng miền Nam), các tác giả là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hoặc những cây bút nhiều triển vọng.

Trong bài viết này, chúng tôi chỉ “chạm” đến “Thế hệ 1975” chuyên sáng tác văn/ thơ, còn các tác giả viết lý luận, phê bình sẽ được đề cập riêng trong một bài khác.

Con số 50 gương mặt tiêu biểu hàm nghĩa một thời kỳ lịch sử nửa thế kỷ (1975 - 2025). Sáng tác văn xuôi có: Đỗ Bích Thúy (1975), Võ Diệu Thanh (1975), Nguyễn Thị Lê Na (1975), Phong Điệp (1976), Tống Ngọc Hân (1976), Trần Đức Tĩnh (1976), Nguyễn Ngọc Tư (1976), Phạm Thị Duyên (1977), Uông Triều (1977), Nguyễn Xuân Thủy (1977), Mai Phương (1977), Nguyễn Hương Duyên (1977), Di Li (1978), Vũ Thanh Lịch (1978), Nguyễn Thị Hồng Chính (1979), Phan Thúy Hà (1979), Niê Thanh Mai (1980), Chu Thị Minh Huệ (1981), Nguyễn Văn Học (1981), Trần Quỳnh Nga (1981), Thương Hà (1981), Trần Thị Tú Ngọc (1984), Nguyễn Thị Kim Hòa (1984), Văn Thành Lê (1986), Nguyệt Chu (1986), Trác Diễm (1987), Vũ Thị Huyền Trang (1987), Hoàng Công Danh (1987), Lê Vũ Trường Giang (1988), Đinh Phương (1989), Meggie Phạm (1991), Đỗ Nhật Phi (1991), Huỳnh Trọng Khang (1992), Phan Đức Lộc (1995).

Những căn rễ của sự cách tân tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975
Ảnh minh họa.

Sáng tác thơ có: Nguyễn Thị Hạnh Loan (1976), Bình Nguyên Trang (1977), Bế Kim Loan (1977), Phạm Thùy Vinh (1977), Trần Vũ Long (1977), Đỗ Doãn Phương (1977), Vi Thùy Linh (1980), Nguyễn Quang Hưng (1980), Phạm Vân Anh (1980), Trần Hoàng Thiên Kim (1981), Phạm Thúy Nga (1981), Thy Lan (1982), Khúc Hồng Thiện (1983), Đào Quốc Minh (1986), Lữ Thị Mai (1988), Nguyễn Thị Kim Nhung (1990).

Trong số 50 tên tuổi kể trên có khoảng 90% là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hơn 70% cây bút viết văn xuôi, gần 30% cây bút làm thơ, hơn 70% là các cây bút nữ (kiến tạo nên văn chương mang gương mặt nữ). Có “âm thịnh dương suy”?! Không hẳn. Đơn giản là vì thời đại kinh tế được đặt lên hàng đầu trong cuộc phấn đấu sinh tồn của mỗi người thì phái mày râu ít người theo đuổi nghề văn (dễ mang lấy nghiệp văn). Trong lực lượng hùng hậu này, số người làm thơ chỉ chiếm gần 30%. Vì sao? Không khó giải thích, vì “cơm áo không đùa với khách thơ”, trong khi văn xuôi đang đăng đàn (thời đại đang cung cấp nhiều “cốt truyện”, “nhân vật”, “tình huống” điển hình); độc giả đang xa rời thơ bởi vì “thơ cốt chơn” (chân), nhưng khi soi vào thơ họ không tìm được sự cộng cảm cần thiết.

Về trình độ học vấn của “Thế hệ 1975”, nếu so với các thế hệ tiền nhiệm là cao hơn hẳn (tuyệt đại đa số đều có trình độ cử nhân). Nhưng học vấn và văn hóa không tỷ lệ thuận. Sáng tác văn học nghệ thuật lại đòi hỏi vốn liếng đầy đặn của trải nghiệm sống. Theo cách diễn đạt của nhà văn Nguyễn Tuân thì công việc của người viết văn là “đi - đọc - viết”. Liệu các tác giả “Thế hệ 1975” đã thực hành đầy đủ công thức (yêu cầu) vừa là tối thiểu, vừa là tối đa này trong một không gian mở?!

Quan niệm văn chương (về sứ mệnh của văn chương, trách nhiệm của nghệ sỹ ngôn từ) bao giờ cũng có vai trò kiến tạo, dẫn dắt hành động sáng tác. Quan niệm văn chương có thể trực tiếp thể hiện qua các quan điểm, cũng có thể qua thực tế viết (cảm hứng, hình tượng, khuynh hướng,...). Một thời gian dài quan niệm “văn chương là một trò chơi vô tăm tích” không thể nói không ảnh hưởng đến những người cầm bút trẻ. Không ít người trẻ có nhu cầu bức bách muốn khước từ tính “toàn trị” của phương pháp sáng tác (ở đây là khước từ “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” vốn được coi là quan trọng trong phạm trù “văn học cách mạng”), chỉ chấp nhận cá tính, đòi hỏi tự do (tuyệt đối) sáng tác. Không ít người nhiệt tình cổ súy, đề cao “cái khác” (thực chất là cái lạ), cổ súy cho “ngoại biên”, từ chối “đại tự sự”, cổ vũ nhiệt thành cho các ism (chủ nghĩa) du nhập từ phương Tây (Chủ nghĩa hậu hiện đại, chẳng hạn). Tuy nhiên, không phải người viết trẻ nào cũng say mê các “trò chơi” chữ nghĩa. Tác giả Hoàng Công Danh nghiêm túc: “Tôi nghĩ, cũng như tôn giáo, văn chương là liều cứu rỗi, nó sẽ đồng hành cùng con người, nâng dìu con người đi qua bể khổ đời. (...); văn chương có ích cho cuộc đời này, nếu không, từ bao giờ đến bây giờ nó đã chẳng tồn tại” (dẫn theo Hoàng Đăng Khoa, “Song hành và đối thoại”, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2018, tr.21). Đồng quan niệm, Vũ Thanh Lịch chia sẻ: “Với tôi, văn chương là sự cứu rỗi, nơi cho tôi nguồn sinh lực” (Văn nghệ quân đội số 933+934/ 2020, tr.44). Phong Điệp, tác giữ giữ kỷ lục viết (đã xuất bản 20 tác phẩm, đã có sách được dịch và giới thiệu ở Mỹ, Pháp), chân thành bày tỏ: “Văn chương giúp tôi sống có ý nghĩa hơn” (dẫn theo Hoàng Đăng Khoa, Sđd, tr.35).

Thực hành sáng tác là thước đo cao nhất khi đánh giá “Thế hệ 1975”, thực tế họ đã tạo nên một “làn sóng mới”, góp vào nền văn chương hiện đại một số lượng tác phẩm không thể nói là ít, tạo nên cái không khí rôm rả, thậm chí “phì đại” của đời sống văn chương. Nhìn vào sản phẩm, dễ thấy họ đã làm được một khối lượng lớn công việc. Nhưng mặt khác cũng thấy, không ít người trong số họ coi viết văn là một cuộc “phiêu lưu chữ”, là “trò chơi ngôn từ”, nên các tính năng xã hội của văn chương dường như bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Tuy nhiên, công bằng trong đánh giá, cần ghi nhận nỗ lực của không ít nhà văn đã cố gắng gìn giữ những chuẩn mực văn chương và kiến tạo lưng vốn tác phẩm đầy đặn, vừa lưu giữ được truyền thống vừa tích cực đổi mới. Có một Đỗ Bích Thúy (đã in 23 tác phẩm văn xuôi, trong đó có 6 tiểu thuyết), được coi là người níu giữ hồn vía của núi rừng quê hương, dù đi đâu, làm gì cũng không hề vong bản. Có một Nguyễn Quang Hưng - người trẻ nhưng đau đáu với “chia ngũ cốc” nhan đề một tập thơ hay trong số 10 tác phẩm gồm trường ca, thơ, tản văn, ký chân dung, thời luận đã xuất bản). Có một Tống Ngọc Hân (đã in 3 tiểu thuyết, 6 tập truyện ngắn, 2 tập thơ) gồng mình hết mức vượt khó, vượt khổ để chung thủy với văn chương và luôn đứng về “phe nước mắt” (quan tâm viết về những con người bình thường nhưng không tầm thường với những “số phận bên lề”). Có người nỗ lực vượt lên rất cao so với mặt bằng văn chương và thế hệ như Nguyễn Ngọc Tư với “Cánh đồng bất tận” (Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2006; Giải thưởng Văn học ASEAN, năm 2008).

Đánh giá “Thế hệ 1975” là việc không dễ dàng vì nó là một thực thể văn chương đang vỡ ra và phát triển. Nhưng rõ ràng là, thế hệ này muốn đi xa, đi đường dài với văn chương thì tối cần thiết phải trải nghiệm sống và trải nghiệm văn hóa nhiều hơn, sâu hơn, cao hơn, nếu không, họ sẽ bị “đứt gãy” với truyền thống, với các thế hệ tiền bối. Trong trải nghiệm văn hóa, theo chúng tôi, có thể bằng con đường/cách thu hút tinh hoa văn hóa dân gian (folklore) và văn hóa truyền thống dân tộc (tinh hoa nhất qua văn chương cổ điển và hiện đại). Chắc rằng nhiều người trong “Thế hệ 1975” không còn nhớ (hoặc không đọc) luận văn xuất sắc của Xuân Diệu “Sự uyên bác với việc làm thơ” (1985), sau khi viết xong dự định tự mình đọc trước Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc, nhưng không kịp. Song, những lời hay ý đẹp thì mọi người đã kịp đón nhận (sau đó được in trên Tạp chí Văn học, số 1-1986). Nhiều người rất thích ý tưởng thâm hậu của thi nhân hiện hình trên từng câu chữ: “Chao ôi! Chúng ta làm việc còn ít quá, chúng ta yêu thơ văn của dân tộc còn thiếu sót quá; thơ của chúng ta mấy chục năm nay đã hay rồi, tuy nhiên theo tôi nghĩ, nếu chúng ta tiếp nhận đầy đủ sâu sắc hơn nữa cái vốn truyền thống của cha ông, thì thơ hiện kim của ta có thể còn hay hơn nữa, sâu hơn nữa, phải uyên bác chứ; nếu không ai chịu uyên bác thì các tuyển tập làm xong in xong rồi, lắm bài thơ hay cứ phải nằm ngửa trong các tủ sách, thiếu một tâm hồn, một tâm trí đến đánh thức những bài ấy dậy, trở thành nụ cười, giọt lệ của chúng ta, đi với chúng ta, để cùng đánh giặc, cùng xây dựng (...). Đối với vốn thơ dân tộc, chúng ta còn nhiệm vụ uyên bác hơn nữa, để rút tối đa mật nhụy.” (“Xuân Diệu - Tác phẩm chọn lọc”, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, tr. 206 - 208).

“Thế hệ 1975”, theo chúng tôi, đang thiếu hành trang đi xa ngay chính trên đất nước mình, chưa nói đến việc đi ra thế giới do chỗ còn thiếu trải nghiệm sống cuộc đời thực với muôn vàn sắc màu, âm thanh, mùi vị, đường nét; trong vô vàn nỗi niềm, cơ sự, tình huống, số phận, cảnh ngộ. “Sống ảo” là một đặc trưng của giới trẻ hôm nay (Việt Nam là một trong các “cường quốc” về số người sử dụng internet và mạng xã hội). Không nhiều người dũng cảm xông vào “tâm bão” của đời sống (nên thích trú ngụ trong cô đơn, quá khứ, trong kỳ ảo, viễn tưởng, hoang đường, ca tụng thân xác). Đọc họ, có cảm giác thấy thiếu hụt, mờ nhạt cuộc đời thực, chỉ thấy nổi lên hàng đầu “tự ngã trung tâm”. Vì vậy, nếu độc giả có quay lưng với sáng tác văn chương nói chung, văn trẻ nói riêng thì không có gì khó giải thích. Hiện thực đời sống luôn “mời mọc” nhà văn, nhưng liệu họ có mặn mà, khắc khoải, say mê tìm tòi, có dám dấn thân và lựa chọn (!?).

Không hề cũ khi chúng ta ghi nhớ quan niệm của nhà văn Nguyễn Minh Châu: “Mỗi nhà văn gắn chặt với số phận dân tộc và đất nước mình - như cái đai của người mẹ quấn quanh mình đứa trẻ. Và hình như còn hơn thế nữa. Người nghệ sĩ là một đứa con của đất nước mà chỉ có nó mới có thể giao cảm hết những cái vui buồn và nhọc nhằn của người mẹ - cả những điều mà người mẹ không bao giờ nói ra” (“Di cảo Nguyễn Minh Châu”, Nxb Hà Nội, 2009, tr. 363).
“Thế hệ 1975” liệu có thể trở thành những nghệ sĩ ngôn từ đích thực như mong ước của các nhà văn tài năng thế hệ đi trước, của bạn đọc hôm nay (?!). Câu trả lời thuyết phục đang ở phía trước nhà văn./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
  • Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
    Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Rối nước viễn du thời đại số
    Từ bóng nước lung linh dưới mái thủy đình rêu phong, múa rối nước đang bước vào hành trình "viễn du xuyên thế kỷ" đến nhịp sống đương đại. Không còn bó hẹp trong không gian truyền thống, di sản được mở rộng biên độ tiếp cận khán giả qua mô hình sản phẩm công nghiệp văn hóa và tư duy sáng tạo của thế hệ trẻ. Hành trình ấy vừa nâng niu những giá trị cốt lõi, vừa âm thầm định hình diện mạo mới, để tiếng cười của chú Tễu vẫn ngân vang, rộn rã giữa Thủ đô văn hiến.
  • Điện ảnh Hà Nội và sứ mệnh nâng tầm giá trị văn hóa
    Ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới, xác định rõ vai trò của văn hóa trong tiến trình phát triển đất nước và đặt ra yêu cầu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thích ứng với bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số. Với vị thế trung tâm chính trị, văn hóa của cả nước, Hà Nội đứng trước những đòi hỏi cụ thể trong việc hiện thực hóa các định hướng này, đặc biệt đối với đội ngũ văn nghệ sĩ. Trong đó, điện ảnh được nhìn nhận như một lĩnh vực giàu tiềm năng, có khả năng lan tỏa giá trị, phản ánh đời sống và góp phần định hình hình ảnh quốc gia. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để sáng tạo nghệ thuật vượt qua tính phong trào, trở thành động lực thực chất nâng tầm văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới.
  • Xuất bản thời chuyển đổi số: “Đòn bẩy” phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam
    Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, ngành xuất bản là nhân tố quan trọng của hệ sinh thái tri thức - sáng tạo - văn hóa, tạo ra những sản phẩm kết hợp yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ, từ đó góp phần bồi đắp và nâng cao dân trí, gia tăng sự phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
  • Mang yêu thương đến bệnh nhi tại Bệnh viện Việt Nam - Cu Ba nhân dịp Quốc tế Thiếu nhi 1/6
    Trong không khí ngập tràn niềm vui của Ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6, Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba đã tổ chức chương trình vui Tết Thiếu nhi đặc biệt dành cho các bệnh nhi đang điều trị nội trú tại đây. Chương trình diễn ra trong không khí vô cùng ấm áp, vui tươi với nhiều hoạt động trải nghiệm ý nghĩa. Sự kiện không chỉ mang lại tiếng cười rộn rã mà còn tiếp thêm nguồn động viên tinh thần to lớn cho các chiến binh nhí đang ngày ngày kiên cường chiến đấu với bệnh tật để sớm trở về với gia đình.
  • Ươm mầm tình yêu nghệ thuật từ sân khấu cộng đồng
    Tối 31/5, tại Nhà Bát Giác bên hồ Hoàn Kiếm, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” đã mang đến một đêm nghệ thuật giàu cảm xúc với sự tham gia của nhiều tài năng nhí đạt thành tích tại các cuộc thi âm nhạc.
Đừng bỏ lỡ
  • [Podcast] Âm nhạc cuối tuần - Số 15
    Hà Nội đã và đang mở rộng thêm nhiều không gian văn hóa công cộng để đưa nghệ thuật đến gần hơn với công chúng. Từ phố đi bộ hồ Gươm đến những sân khấu ngoài trời, âm nhạc không đã hiện diện tự nhiên trong đời sống thường nhật. Minh chứng là chương trình “Âm nhạc cuối tuần” diễn ra tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ chiều Chủ nhật hàng tuần, đã góp phần bồi đắp diện mạo Thủ đô “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”.
  • Tuần phim chào mừng quốc tế Thiếu nhi mang đến loạt tác phẩm điện ảnh giàu giá trị nhân văn
    Ngày 29/5, Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) chính thức công bố tổ chức Tuần phim chào mừng Ngày quốc tế Thiếu nhi 1/6 năm 2026, diễn ra từ ngày 31/5 đến 7/6 trên toàn quốc, mang đến loạt tác phẩm điện ảnh giàu giá trị nhân văn và giáo dục cho khán giả nhỏ tuổi bước vào kỳ nghỉ hè.
  • Công bố Bản đồ Mạng lưới các không gian văn hóa sáng tạo Hà Nội
    Chiều 29/5, tại Bảo tàng Hà Nội, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội tổ chức chương trình công bố Bản đồ Mạng lưới các không gian văn hóa sáng tạo Hà Nội. Chương trình được tổ chức nhằm tăng cường kết nối hệ sinh thái sáng tạo của Thủ đô, thúc đẩy hoạt động của các không gian văn hóa sáng tạo trên địa bàn thành phố, đồng thời triển khai các hoạt động hướng tới Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội năm 2026.
  • Cẩm nang thiết thực cho người làm sách tranh
    Crabit Kidbooks phối hợp cùng NXB Hà Nội vừa ra mắt bạn đọc cuốn “Cẩm nang sáng tác sách tranh - Lộ trình thực tiễn: từ sáng tác đến xuất bản” - một trong những tài liệu nhập môn quan trọng cho hành trình làm sách chuyên nghiệp được cộng đồng sáng tác sách tranh (picture book) quốc tế đánh giá cao.
  • Liên hoan phim ngắn TP. Hồ Chí Minh 2026 đưa ứng dụng AI vào đào tạo phim trẻ
    Liên hoan phim ngắn TP.HCM lần thứ hai, năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 6 đến 8/6 tại TP.HCM với chủ đề “Khơi nguồn sáng tạo trẻ, kiến tạo Thành phố điện ảnh”.
  • Lễ hội kỷ niệm 598 năm ngày Vua Lê Thái Tổ đăng quang tại Hà Nội
    Lễ hội kỷ niệm 598 năm ngày Vua Lê Thái Tổ đăng quang (1428 - 2026) sẽ diễn ra trong hai ngày cuối tuần này, thứ Bảy và Chủ nhật ngày 30 và 31 tháng 5 năm 2026 tức ngày 14 và 15 tháng Tư năm Bính Ngọ theo âm lịch, tại khu vực Tượng đài Vua Lê Thái Tổ và đình Nam Hương, số 75 Hàng Trống, phường Hoàn Kiếm.
  • Nhiều phim hoạt hình gắn liền với tuổi thơ sẽ được chiếu miễn phí tại Hà Nội từ ngày 1-5/6
    Nhân dịp Tết Quốc tế Thiếu nhi 1/6, một món quà mùa hè đầy ý nghĩa và hấp dẫn đang chờ đón các bạn nhỏ tại Thủ đô. Tuần phim Thiếu nhi Việt Nam - Thụy Điển sẽ chính thức diễn ra từ ngày 1/6 đến ngày 5/6 tại Viện Phim Việt Nam (Hà Nội).
  • [Podcast] Hà Nội 36 phố phường
    Trong tâm thức của bao thế hệ người Việt, thơ ca, nhạc họa thì “Hà Nội - 36 phố phường” đã trở thành biểu tượng của đất kinh kỳ ngàn năm văn hiến. Hơn một nghìn năm lịch sử, những con phố cổ, phố cũ vẫn hiện diện giữa lòng Thủ đô như chứng nhân của lịch sử. Không chỉ là nơi buôn bán tấp nập, phố cổ còn lưu giữ nếp sống, nghề truyền thống, kiến trúc và cả cốt cách thanh lịch của người Tràng An.
  • Hà Nội phát huy giá trị văn hóa trong phát triển du lịch an toàn, bền vững
    Không chỉ chú trọng nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và bảo đảm an toàn cho du khách, Hà Nội đang định hướng phát triển du lịch theo chiều sâu văn hóa, lấy bản sắc Thủ đô làm nền tảng để hình thành những sản phẩm đặc trưng, giàu trải nghiệm và sức hấp dẫn. Những yêu cầu vừa được UBND thành phố Hà Nội đặt ra tiếp tục cho thấy quyết tâm xây dựng ngành du lịch Thủ đô theo hướng chuyên nghiệp, văn minh và bền vững.
  • Thần đồng piano nước Pháp cùng dàn nhạc SSO biểu diễn tai Nhà hát Hồ Gươm
    Vào lúc 20h00, Thứ Sáu ngày 29/05/2026, tại Nhà hát Hồ Gươm, Dàn nhạc Giao hưởng Mặt Trời (SSO) dưới sự bảo trợ của Tập đoàn Sun Group sẽ bắt tay cùng "thần đồng piano" nước Pháp Lise de la Salle mang đến đêm hòa nhạc đặc biệt mang tên “Shades of Paris - Sắc màu Paris”.
Thế hệ nhà văn 1975 trong không gian văn học đương đại
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO