Lý luận - phê bình

“Ngày về” - lời ru giàu cảm xúc về làng quê Việt Nam

Lời bình của nhà thơ Quốc Toản 15:32 11/12/2024

“Ngày về” được mở đầu bằng hình ảnh quen thuộc, dễ nhận thấy nhất của làng quê Việt Nam với những giá trị truyền thống thiêng liêng: “Cây đa, bến nước, sân đình/ Con đường gạch lát nối tình xóm thôn”.

5855_giengque5.jpg

Cây đa, bến nước, sân đình
Con đường gạch lát nối tình xóm thôn
Bếp nhà khói ấm chiều buông
Đêm thanh diều sáo trăng luồn bóng cau
Những ngày bão táp bờ lau
Ầm ào lối ngõ gọi nhau chống,
Người đi làng xóm trông theo
Người về nhộn nhịp quê nghèo mừng vui
Qua bao đói rét dập vùi
Lá lành lá rách ngọt bùi cháo rau
Làng nghèo tình nghĩa trước sau
Buồn vui san sẻ miếng trầu đón đưa
Làng xưa ngõ vắng giậu thưa
Lời ăn ý ở lựa vừa lòng nhau
Những năm bom đạn thương đau
Chung lưng chống giặc chụm đầu chở che
Đình thiêng trống giục hội hè
Câu ca xanh mướt lũy tre cổng làng
Sớm chiều tiếng trẻ học vang
Thầy cho con chữ cả làng cậy trông
Quanh năm bán mặt cho đồng
Đợi ngày tốt vụ trĩu bông mùa vàng
Tôi từ làng ấy tha hương
Đi qua chớp bể mưa nguồn bão giông
Hồn làng đẫm máu cha ông
Tôi mang theo sưởi ấm lòng ly quê.
Tha phương kiếp trọn ngày về
Làng xưa xóm cũ sông quê nơi nào
Lòng thầm nhớ mẹ nao nao
Nằm nghe tiếng gió chênh chao gọi mùa

(Tác giả Nguyễn Địch Long)

“Ngày về” được mở đầu bằng hình ảnh quen thuộc, dễ nhận thấy nhất của làng quê Việt Nam với những giá trị truyền thống thiêng liêng: “Cây đa, bến nước, sân đình/ Con đường gạch lát nối tình xóm thôn”. Chỉ hai câu thơ, tác giả đã vẽ lên một bức tranh với những biểu tượng không thể thiếu trong làng quê, đã tạo nên hồn Việt. Cây đa, bến nước, sân đình là những hình ảnh gần gũi, thân thương, gắn bó với ký ức tuổi thơ của tác giả và của nhiều người con xa quê. Đó là biểu tượng cho cội nguồn, cho sự bền vững về văn hóa. Con đường gạch lát không chỉ là con đường dẫn người đi xa trở về mà còn là sự kết nối tình làng, nghĩa xóm.

Cũng phải nói thêm, cách đây chưa lâu, nhà thơ Nguyễn Địch Long đã cho ra mắt cuốn tự truyện “Năm tháng cuộc đời”. Điều mà bạn đọc dễ nhận thấy ở Nguyễn Địch Long đó là tình yêu quê hương, yêu mái ấm gia đình hơn bao giờ hết. Đọc “Năm tháng cuộc đời”, tôi thêm hiểu và đồng cảm cùng nhà thơ Nguyễn Địch Long. Ông luôn nâng niu trân trọng cuộc đời này. Ông bày tỏ lòng tri ân người mẹ, tri ân người vợ tảo tần chung thủy, cả cuộc đời hy sinh cho chồng con. Mỗi khi có dịp về quê, ông luôn cảm thấy thật ấm áp và yên bình: “Bếp nhà khói ấm chiều buông/ Đêm thanh diều sáo trăng luồn bóng cau”.

Những năm tháng chiến tranh khó khăn gian khổ người dân quê luôn đùm bọc, chia ngọt sẻ bùi: “Những ngày bão táp bờ lau/ Ầm ào lối ngõ gọi nhau chống, trèo”, “Làng nghèo tình nghĩa trước sau/ Buồn vui san sẻ miếng trầu đón đưa”... Tình cảm quê hương được Nguyễn Địch Long thể hiện rõ nét qua những câu thơ đậm chất nhân văn. Dù làng nghèo nhưng tình người không nghèo. Người dân quê luôn sống với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, tạo nên một cộng đồng gắn kết. Những ký ức về một thời chiến tranh đầy đau thương mất mát nhưng cũng đầy tự hào: “Những năm bom đạn thương đau/ Chung lưng chống giặc chụm đầu chở che”. Hai câu thơ khắc họa một thời kỳ lịch sử khốc liệt nhưng cũng cho thấy sức mạnh đoàn kết của dân làng trong việc bảo vệ quê hương. Giữa mưa bom bão đạn, người quê càng thể hiện tinh thần bất khuất và tình yêu quê hương mãnh liệt. Chiến tranh qua đi, đất nước thống nhất, tiếng trống hội làng lại được vang lên, câu ca xanh cùng thôn xóm, trẻ thơ đến trường, mùa vàng thêm trĩu bông… Đó là niềm hy vọng tương lai tốt đẹp hơn của dân làng.

Nhà thơ dừng chân để đón nhận cảm giác bất ngờ và xúc động khi nhận ra quê hương đã thay đổi ít nhiều sau nhiều năm xa cách. Những con đường, ngôi nhà, cảnh vật có thể không còn như xưa nhưng tình cảm và những kỷ niệm thì vẫn còn mãi.

Nguyễn Địch Long trở về làng mà bồi hồi xúc động. “Ngày về” đã trở thành nỗi khát vọng và luôn hiện hữu trong tâm hồn của người con xa xứ. Đọc thơ ông tôi lại nhớ năm tháng cuộc đời đầy nước mắt mà ông đã trải qua:

Tôi từ làng ấy tha hương
Đi qua chớp bể mưa nguồn bão giông
Hồn làng đẫm máu cha ông
Tôi mang theo sưởi ấm lòng ly quê.

Đây chính là nỗi day dứt của tác giả khi phải rời xa quê hương. Dù đi qua bao khó khăn gian khổ, thậm chí có những giai đoạn đầy đắng cay nước mắt, nhưng tình yêu quê hương vẫn đầy lòng trắc ẩn. “Hồn làng đẫm máu cha ông” không chỉ là ký ức đau thương mà còn là nguồn động lực, là sức mạnh giúp Nguyễn Địch Long vượt qua mọi thử thách. Làng là máu thịt. Làng là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn nhà thơ.

Trong bài thơ, tác giả cũng không khỏi tiếc nuối những giá trị văn hóa đã làm nên hồn cốt của làng đang dần mai một: “Tha phương kiếp trọn ngày về/ Làng xưa xóm cũ sông quê nơi nào”. Quá trình đô thị hóa đã khiến cho làng quê xưa thay đổi đáng kể, xóm thôn thành phường phố. Làng quê tác giả cũng không ngoại lệ và đó cũng là điều ông luôn trăn trở.

Ở cuối bài thơ, nỗi nhớ quê hương càng trở nên day dứt, khắc khoải. Trong lời kết của “Ngày về”, ông nhắc nhớ đến người mẹ tảo tần đã nuôi mình khôn lớn. Tình mẹ và hình ảnh quê hương đã hòa làm một. Quê hương là mẹ. Mẹ là Tổ quốc, là quê hương, trở thành nỗi nhớ và gắn bó không thể tách rời. Tiếng gió gọi mùa cũng là tiếng lòng của tác giả. Nó nhắc nhở mỗi người dù đi đâu, làm gì, cũng phải luôn nhớ về nguồn cội: “Lòng thầm nhớ mẹ nao nao/ Nằm nghe tiếng gió chênh chao gọi mùa.”

Có thể nói, “Ngày về” của nhà thơ Nguyễn Địch Long như một bức tranh quê, một lời ru với những hình ảnh chân thực, giàu cảm xúc về làng quê Việt Nam. Qua những vần thơ lục bát dung dị, dễ đi vào lòng người, bạn đọc dễ dàng cảm nhận tình cảm sâu nặng của tác giả với làng quê, nơi ông sinh ra và lớn lên; nơi chất chứa đầy ắp những kỷ niệm vui buồn mà mỗi khi có dịp trở về, trong ông vẫn vẹn nguyên sự bồi hồi xúc động. Không chỉ ca ngợi vẻ đẹp bình dị của làng quê, bài thơ mà còn là lời tri ân, là sự tôn vinh những giá trị truyền thống và tinh thần đoàn kết, gắn bó của người dân quê. Với những ý nghĩa sâu sắc ấy, tôi tin “Ngày về” sẽ neo trong lòng bạn đọc những cảm xúc khó quên./.

Bài liên quan
  • “Bay qua Hồ Gươm” - trò chuyện cùng Hà Nội, về Hà Nội
    “Mơ là bồ câu trắng/ Bay qua Hồ Gươm xanh”, tác giả Huỳnh Mai Liên đã bật lên khao khát muốn được trở thành cánh chim nhẹ nhàng và tự do khám phá bầu trời Hà Nội ở cuối bài thơ Bay qua Hồ Gươm (cũng là tên tập thơ). Dường như cũng từ giấc mơ này, nhà thơ đã viết ra những vần thơ kể chuyện dẫn lối người đọc ngắm nhìn Hà Nội từ cao đến thấp, từ xa đến gần.
(0) Bình luận
  • Bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt
    Trường ca “Thần Nông chân đất” của nhà thơ Phùng Trung Tập (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 12 chương, với 184 trang. Tác phẩm tái hiện và ngợi ca lao động nông nghiệp như nền tảng sinh tồn của cộng đồng Việt, đồng thời đưa người nông dân lên tầm biểu tượng văn hóa - lịch sử - những “Thần Nông chân đất” đã mở cõi, dựng làng, giữ nước và truyền sinh khí cho non sông qua hàng nghìn năm. Đây là bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt Nam trong chiều dài lịch sử dân tộc.
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
“Ngày về” - lời ru giàu cảm xúc về làng quê Việt Nam
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO