Lý luận - phê bình

Đóng góp của văn nghệ sĩ nhìn từ “Đề cương về văn hóa Việt Nam”

GS.TS Lê Hồng Lý 20:05 01/04/2023

“Đề cương về văn hóa Việt Nam” (Đề cương), ngay từ khi ra đời đã cho thấy tầm nhìn và giá trị của nó đối với văn hóa Việt Nam nói chung và văn học nghệ thuật nói riêng. Sự tác động, ảnh hưởng cũng như tính thời sự của Đề cương là một nghiên cứu đáng xem xét trong lịch sử đất nước, vừa mang tính chính trị vừa mang đậm giá trị văn hóa đất nước. Song, cũng từ đó để thấy rõ vai trò đóng góp của văn nghệ sĩ qua từng giai đoạn lịch sử đất nước.

Giai đoạn đấu tranh chống Pháp

Trong bối cảnh đầu những năm 1940, cuộc đấu tranh chống phát xít Nhật và thực dân Pháp của nhân dân ta đang ở giai đoạn đấu tranh khốc liệt, dân trí và nhận thức của đồng bào còn hạn chế, một số thành phần trí thức bị sa đà vào chủ nghĩa lãng mạn, trở nên bi quan, bế tắc, hoang mang và rời xa thực tế. Bên cạnh đó, khi phát xít Nhật nhảy vào hất cẳng thực dân Pháp, thì sự tuyên truyền một nước Nhật đế quốc với tham vọng đại Đông Á, thuần chủng máu đỏ da vàng… thống lĩnh toàn thế giới đã làm không ít trí thức đương thời như tìm được cứu cánh khi theo Nhật. Một bối cảnh xã hội thực sự ảm đạm đối với đất nước trước gọng kìm một ách hai tròng của thực dân, đế quốc.

de-cuong-van-hoa-1.jpg
Các nhạc sĩ đang biểu diễn trong thờ kỳ kháng chiến chống Pháp - Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Chính vì thế, năm 1943, Đảng ta đưa ra bản “Đề cương về văn hóa Việt Nam” do đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo và được thông qua trong Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương họp ở Võng La (Đông Anh, Phúc Yên) vào tháng 2/1943 nhằm thức tỉnh dân tộc và vạch đường hướng cho cuộc cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Đề cương văn hóa đã hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của mình là ngọn đuốc soi đường, là kim chỉ nam cho một lớp trí thức, văn nghệ sĩ còn đang bế tắc, phân vân trước thời cuộc được thức tỉnh, “từ ấy trong tôi bừng nắng hạ” (Tố Hữu). Niềm tự hào dân tộc và giá trị dân tộc của “Nước chúng ta/ Nước những người chưa bao giờ khuất/ Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất/ Những buổi ngày xưa vọng nói về” (Nguyễn Đình Thi). Từ phận người bị áp bức, từ những người dân mất nước, Đề cương đã góp phần vực dân ta vùng lên đấu tranh, bảo vệ văn hóa dân tộc, làm cho cuộc kháng chiến của đất nước mang tính chính nghĩa và đầy đủ ý nghĩa nhân văn. Từ đây, văn hóa cũng là một mặt trận - như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Kháng chiến hóa văn hóa và văn hóa hóa kháng chiến”.

Đề cương hướng đến ba nguyên tắc chính là: Dân tộc hóa (chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa khiến cho văn hóa Việt Nam phát triển độc lập). Đại chúng hóa (chống mọi chủ trương hành động làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng). Khoa học hóa (chống lại tất cả những cái gì làm cho văn hóa trái khoa học, phản tiến bộ).

Từ đó, hàng ngàn văn nghệ sĩ đã từ bỏ những mộng tưởng lãng mạn hóa nơi đô thành để “tiến mau ra sa trường” (Văn Cao) để dấn thân vào cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ cùng những “đoàn quân không mọc tóc” (Quang Dũng), và có một “Điện Biên lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” năm 1954. Dân tộc hóa, Khoa học hóa và Đại chúng hóa của Đề cương đã ăn sâu vào tư tưởng của các văn nghệ sĩ, khơi dậy cho họ lòng yêu nước nồng nàn để hoà nhập vào cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Ngoài những tác phẩm nổi tiếng kể trên, còn có thể thấy hàng trăm những tác phẩm văn học, nghệ thuật đã tham gia trực tiếp vào cuộc kháng chiến trường kỳ ấy mà đến hôm nay khi nhắc đến vẫn còn làm chúng ta bồi hồi, xao xuyến, tự hào như “Người Hà Nội”, “Bộ đội về làng”, “Lên ngàn”, “Du kích sông Thao”, “Mùa đông binh sĩ”, “Hò kéo pháo”, “Bên kia sông Đuống”, “Đồng chí”, “Núi đôi”…

Điều đáng kể ở đây đó là trong bối cảnh muôn vàn khó khăn, thiếu thốn về các nguồn tư liệu về lý luận, điều kiện học tập, tham khảo trong việc nghiên cứu, lại đang ở trong tình trạng cấp bách của việc giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu, số phận dân tộc trong lúc ngàn cân treo sợi tóc, độc lập tự do là nhu cầu quan trọng nhất trong khi ấy, mà Đảng lại đưa ra được những vấn đề mang đủ tính Dân tộc, Đại chúng và Khoa học - Những nguyên tắc mà cho đến hôm nay giá trị về tầm nhìn và tính thời sự của Đề cương càng được khẳng định một cách mạnh mẽ - Mặc dù ở giai đoạn này, tính chính trị của những nguyên tắc đã nêu được quan tâm coi trọng nhiều hơn do bối cảnh lịch sử khi đó vì mục đích giành chính quyền, giải phóng dân tộc.

Giai đoạn chống Mỹ, thống nhất đất nước

Vẫn trong tinh thần ấy, bước sang cuộc chiến chống Mỹ, Đề cương từ lý luận đến thực tiễn đã đồng hành cùng sự nghiệp kháng chiến của dân tộc, thúc đẩy toàn thể nhân dân lao vào cuộc trường chinh gian khổ hơn, dài lâu hơn và ác liệt hơn nhiều. Song tư tưởng của Đề cương đã được các văn nghệ sĩ thể hiện mạnh mẽ hơn, sâu rộng hơn trên nhiều mặt trận văn hóa nghệ thuật như văn học, âm nhạc, hội hoạ, biểu diễn, điện ảnh… Những tác phẩm văn học đã thôi thúc hàng vạn thanh niên lên đường với khẩu hiệu “cuộc đời đẹp nhất là trên trận chiến chống quân thù”, “đâu có giặc là ta cứ đi”. Những tác phẩm văn học “từ miền Nam gửi ra” đã thúc đẩy tinh thần mỗi con người Việt Nam “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Bên cạnh huy động sức người, sức của vào cuộc kháng chiến đầy gian khổ chống đế quốc Mỹ thời kỳ này, có thể thấy vai trò của văn nghệ sĩ có những đóng góp vô cùng to lớn. Những áng văn thơ lay động lòng người, khích lệ tinh thần dũng cảm, thôi thúc hàng triệu trái tim sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc, những “tiếng hát át tiếng bom”, hay những thước phim phơi trần hiện thực khốc liệt đầy mùi thuốc súng chiến trường và phải trả bằng máu của những chiến sĩ, nghệ sĩ là những đóng góp không gì thay thế được của văn nghệ sĩ trong kháng chiến chống Mỹ.

Nếu như trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đội ngũ văn nghệ sĩ của chúng ta hầu hết là những người được đào tạo từ thực tiễn, thì sang giai đoạn chống Mỹ chúng ta đã có những trường lớp đào tạo bài bản hơn về mặt lý luận và kỹ năng nghề nghiệp, điều mà trong giai đoạn trước là niềm mơ ước. Đó là các trường Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm, các trường nghệ thuật ở miền Bắc thời gian đó dù phải đi sơ tán trong điều kiện vô cùng khó khăn, song đã đào tạo được một lớp nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ, họa sĩ, nghệ sĩ múa, đạo diễn, biên kịch… Họ vừa có tài năng vừa được đào tạo về lý luận nên đã mang trong mình tư duy lý luận khoa học về ngành nghệ thuật mà mình sở hữu. Chính điều đó đã nâng tầm cho các tác phẩm mà họ sáng tác và từ đó đưa nguyên tắc khoa học mà Đề cương đặt ra ở một tầm cao mới. Một lớp trí thức bất kể đã tốt nghiệp hay còn đang trên ghế nhà trường đều lên đường chiến đấu để có được một thế hệ nhà văn chống Mỹ như Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Thu Bồn, Nguyễn Như Phong, Lê Anh Xuân, Dương Thị Xuân Quý… Họ đã sát cánh cùng các nhà văn đàn anh như Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Anh Đức để làm nên một thế hệ nhà văn thời chống Mỹ là như vậy. Tương tự như vậy là các lĩnh vực khác như sân khấu, âm nhạc, mỹ thuật, điện ảnh… Họ đã đem “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận” làm nên một đại thắng mùa xuân, Nam Bắc liền một dải vào năm 1975 và thống nhất một nhà năm 1976 đến hôm nay.

Cho đến hôm nay, các tác phẩm văn học nghệ thuật thời kỳ chiến tranh chống Mỹ vẫn là những tượng đài tiêu biểu trong lịch sử dân tộc. Nó cho thấy tinh thần của Đề cương thấm sâu trong tâm khảm những người văn nghệ sĩ thời kỳ đó. Một kho tàng văn học chiến tranh, một dòng nhạc đỏ và những tác phẩm nghệ thuật khác thời kỳ này đã trở thành những khuôn mẫu, những giá trị riêng phản ánh một giai đoạn văn hóa của dân tộc. Đồng thời cũng chỉ ra một tầm cao mới của Đề cương so với giai đoạn trước đó.

Giai đoạn phục hồi, xây dựng đất nước sau chiến tranh

Từ khi đất nước bước vào công cuộc Đổi mới, kinh tế dần ổn định, đời sống của nhân dân đã được cải thiện và nâng cao. Chúng ta đã có nhiều dấu ấn, thành tựu để bước đến “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” trong nhiều lĩnh vực. Chẳng hạn như lĩnh vực di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, chỉ trong một thời gian ngắn từ những năm 90 trở lại đây, chúng ta đã có hàng chục di sản thiên nhiên, danh lam thắng cảnh được thế giới công nhận, 15 di sản văn hóa phi vật thể được ghi danh vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại và cần được bảo vệ khẩn cấp. Văn hóa vật thể và phi vật thể đang là tiềm năng to lớn được khai thác cho phát triển du lịch, đem lại một nguồn lợi kinh tế không nhỏ cho các địa phương. Hơn thế là góp phần vào đời sống văn hóa tinh thần của người dân cả nước, giúp cho họ phấn khởi tự hào.
Để có được những thành quả này, sự đóng góp của các nhà khoa học, các văn nghệ sĩ có vai trò rất lớn trong việc sưu tầm, nghiên cứu, truyền dạy và phục hồi những di sản văn hóa đó. Tuy nhiên, có một điều khao khát, suy tư của nhiều nhà văn hóa, nhà thơ, nhà văn, các nghệ sĩ…, mà cũng là điều mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt trăn trở, với tư cách là vị lãnh đạo cao nhất đất nước, đó là văn học nghệ thuật thời gian này còn thiếu những tác phẩm “tầm cỡ, phản ánh được tầm vóc của sự nghiệp đổi mới, có tác dụng tích cực đối với việc xây dựng đất nước, xây dựng con người”. Một câu hỏi lớn, một nhiệm vụ nặng nề cho giới văn học nghệ thuật trong việc phát huy và sáng tạo Đề cương trong tình hình mới.

1..jpg
Các văn nghệ sĩ ở Thái Nguyên, năm 1949. (Từ trái qua: Ngô Tất Tố, Nguyễn Xuân Sanh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân) - Ảnh: Trần Văn Lưu.

Công bằng mà nói, trong các cuộc kháng chiến, mục đích cao nhất và duy nhất đó là giải phóng dân tộc, đưa đất nước đến độc lập, tự do, thống nhất, mọi suy nghĩ, công việc, nhân lực, vật lực đều hướng vào mục đích chiến thắng. Do vậy, dù khó khăn, ác liệt nhưng lại rất rõ ràng, tập trung. Nhưng khi đất nước hòa bình, chúng ta có nhiều mục tiêu khác cần chinh phục, về phục hồi chiến tranh, xây dựng kinh tế nâng cao đời sống, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa… Bao điều mới lạ, phức tạp khiến cho từ nhà quản lý đến người dân phải xoay xở để làm quen và hòa nhập, khiến cho chúng ta gặp không ít khó khăn và vấp ngã. Các văn nghệ sĩ không nằm ngoài tất cả những sự phức tạp đó. Đặc biệt, do là một bộ phận nhạy cảm của xã hội, nên nhiều khi không khỏi có những hoang mang, chán nản, tư tưởng không yên tâm. Phải chăng đó cũng là một phần nguyên nhân chưa tạo ra động lực để họ làm nên những tác phẩm lớn.

Tuy nhiên, khó khăn cũng là cơ hội cho chúng ta được dịp thâm nhập sâu vào hành trình hội nhập quốc tế, dựa trên những tiêu chuẩn chung. Những chuyển mình và thành tựu mà văn nghệ sĩ ta đạt được trong giai đoạn này có thể nhìn thấy ở các giải thưởng nghệ thuật quốc tế trong các mảng văn học, điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh… Bên cạnh đó là các dấu ấn văn hóa mang tên Việt Nam đã được nhận diện rõ hơn trên trường quốc tế, từ du lịch, ẩm thực đến các phong tục, văn hóa truyền thống dân tộc. Tự hào thay, tất cả những điều này vẫn theo đúng con đường mà Đề cương đã vạch sẵn./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Trưng bày chuyên đề "Thời thanh xuân từ đường Trường Sơn đến đường 1C huyền thoại"
    Ngày 25/8, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam phối hợp với Ban Liên lạc Cựu cán bộ Đoàn Thanh niên Việt Nam phía Nam và Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh tổ chức khai mạc trưng bày chuyên đề "Thời thanh xuân từ đường Trường Sơn đến đường 1C huyền thoại".
  • Gìn giữ những giá trị làm nên bản sắc văn hóa, lịch sử của Thủ đô
    Nhằm cụ thể hóa chính sách khuyến khích, hỗ trợ bảo vệ và phát huy giá trị các khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử, công trình kiến trúc có giá trị trên địa bàn, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Thu Hà vừa ký ban hành Quyết định số 119/QĐ-UBND ngày 20/8/2026. Quy định được xem là cơ sở để nhận diện, bảo vệ và phát huy những giá trị góp phần tạo nên bản sắc văn hóa, kiến trúc và ký ức đô thị của Thủ đô.
  • Điểm hẹn di sản giữa lòng phố
    Nhiều không gian văn hóa đang đưa nghệ thuật truyền thống đến gần hơn với đời sống đương đại ở Hà Nội. Chính sự hiện diện thường xuyên và duy trì mối gắn kết với cộng đồng đang tạo thêm sức sống cho di sản, đồng thời bồi đắp bản sắc của đô thị sáng tạo.
  • [Podcast] Bún cá sữa - Biến tấu tinh tế của ẩm thực Hà thành
    Ẩm thực Hà Nội luôn hấp dẫn bởi khả năng biến tấu những nguyên liệu quen thuộc thành những món ăn mang dấu ấn riêng. Điều đó góp phần tạo nên sự phong phú cho bức tranh ẩm thực Thủ đô - nơi mỗi món ăn đều mang theo câu chuyện về kinh nghiệm, sự khéo léo và tình yêu với những giá trị truyền thống. Và bún cá sữa là một món ăn như thế. Từ những con cá rô phi quen thuộc, người đầu bếp sáng tạo nên thứ nước dùng trắng đục như sữa, có vị ngọt thanh và béo nhẹ, khiến nhiều thực khách nhớ mãi sau lần đầu thưởng thức.
  • Hà Nội minh bạch trong việc đền bù, hỗ trợ cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi
    Việc tháo gỡ dứt điểm các vướng mắc tồn đọng trong chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng hình thức giao đất dịch vụ, đất ở đang trở thành nhiệm vụ trọng tâm được thành phố Hà Nội tập trung chỉ đạo quyết liệt. Nhằm đưa Nghị quyết số 44/NQ-HĐND ngày 15/7/2026 của HĐND thành phố đi vào cuộc sống một cách kịp thời, đồng bộ và đạt hiệu quả cao nhất, Hà Nội đã chủ động xây dựng lộ trình thực hiện bài bản cùng các giải pháp chi tiết. Đây được xem là cơ sở quan trọng bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho các hộ dân có đất nông nghiệp bị thu hồi, đồng thời giữ vững ổn định an ninh trật tự và thúc đẩy sự phát triển bền vững tại các địa phương.
Đừng bỏ lỡ
  • Nhiều hoạt động “Vui Tết Độc lập” tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
    Từ ngày 29/8 đến 30/9/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội) tổ chức chuỗi hoạt động với chủ đề “Vui Tết Độc lập”, chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2026).
  • Để những giá trị di tích được gìn giữ và lan tỏa
    Di tích là những dấu tích vật chất và tinh thần gắn với lịch sử, văn hóa và đời sống cộng đồng. Trên cơ sở đó, Hà Nội vừa ban hành quy định mới về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích, trong đó nhấn mạnh yêu cầu quản lý thống nhất, phân cấp rõ trách nhiệm, phát huy vai trò của cộng đồng và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong công tác quản lý di tích.
  • Nâng cao kỹ năng làm du lịch cộng đồng tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
    Ngày 24/8, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội tổ chức Hội nghị triển khai về ứng xử văn minh du lịch và du lịch cộng đồng năm 2026.
  • Ra mắt phim điện ảnh “Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh”
    "Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh" lần đầu ra mắt khán giả tại Ninh Bình, vùng đất gắn với câu chuyện và quá trình thực hiện bộ phim.
  • Đưa nghệ thuật cải lương đến gần công chúng Thủ đô
    Tối 23/8, tại sân khấu Nhà Bát Giác, phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội), chương trình “Biểu diễn nghệ thuật cộng đồng” của Nhà hát Cải lương Hà Nội đã mang đến cho người dân và du khách một đêm diễn đậm đà bản sắc văn hóa.
  • Những tác phẩm âm nhạc góp phần lan toả văn hóa Hà Nội
    Từ các ca khúc “Hà Nội mùa thu”, “Hoa sữa” đến những giai điệu của Charlie Parker, Miles Davis, Duke Ellington, Antonio Carlos Jobim... chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 23/8 tại Nhà Bát Giác đã đưa những thanh âm quen thuộc của Hà Nội bước vào không gian âm nhạc cộng đồng đầy tinh thần phóng khoáng và ngẫu hứng của jazz. Qua tiếng kèn của các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club và giọng hát của hai ca sĩ Thuỷ Bùi, Minh Thu, hình ảnh Thủ đô hiện lên vừa lãng mạn, vừa trẻ trung, cởi mở trong nhịp sống văn hóa đương đại.
  • Hà Nội chuẩn bị chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật chào mừng những ngày lễ lớn
    Thường trực Thành ủy Hà Nội thống nhất chủ trương tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, tuyên truyền, chăm lo các đối tượng chính sách nhân dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời tổ chức 02 chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô, hướng tới tạo không khí phấn khởi, vui tươi và khơi dậy niềm tự hào, khát vọng phát triển Thủ đô.
  • [Infographic] Chuỗi hoạt động đặc sắc tại Hanoi Jazztival
    Với chủ đề “Jazz Hà Nội - Giai điệu không biên giới”, Liên hoan Nhạc Jazz quốc tế Hà Nội 2026 được kỳ vọng trở thành lễ hội nhạc Jazz thường niên của Thủ đô, góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, quảng bá hình ảnh Hà Nội sáng tạo, hội nhập và giàu bản sắc.
  • Hà Nội nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo
    Để đáp ứng tình hình thực tiễn phát triển của Thủ đô trong thời kỳ mới, thực hiện Luật Thủ đô 2026, HĐND thành phố Hà Nội khóa XVII đã ban hành Nghị quyết số 13/2026/NQ-HĐND quy định mức tiền phạt đối với một số hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo trên địa bàn.
  • Những Ngày phim Việt Nam chào mừng Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9
    Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Viện phim Việt Nam chính thức khởi động chương trình chiếu phim đặc biệt “Những Ngày phim Việt Nam”. Sự kiện hứa hẹn đưa khán giả trở về những năm tháng gian lao nhưng hào hùng của dân tộc qua góc nhìn điện ảnh đầy xúc cảm.
Đóng góp của văn nghệ sĩ nhìn từ “Đề cương về văn hóa Việt Nam”
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO