Lý luận - phê bình

Tiên nữ trong mỹ thuật Việt từ cách tiếp cận liên ngành

PGS.TS Trần Thị An 14/08/2023 20:56

Tiên, trong cuộc sống hằng ngày của người Việt Nam, là một danh từ nhưng tồn tại như một tính từ chỉ đẳng cấp cao: “đẹp như tiên", “sướng như tiên”, “tiên cảnh”, “tiên giới”...

Khi là một danh từ đơn thuần, tiên chỉ những người có phẩm chất siêu việt, nếu là ông tiên thì đó là người tốt bụng, có năng lực siêu phàm cứu người khỏi những tình cảnh ngặt nghèo; nếu là cô tiên thì xinh đẹp tuyệt trần, chẳng những có thể đi mây về gió mà còn giúp người ta vượt vòng tục lụy tới cõi thanh tao.

Người Việt Nam hẳn không xa lạ với nàng Giáng Hương vô tình mắc lỗi trong hội hoa mẫu đơn, rồi vì trả cái ơn cứu mạng của Từ Thức mà khiến chàng lạc bước tới chồn bồng lại rồi thành ra lạc lõng khi về lại cõi trần. Càng in đậm hơn trong tâm khảm người Việt Nam là bà mẹ Âu Cơ thuộc giống tiên đã sánh đôi với Lạc Long Quân giống rồng, hoài thai và sinh hạ bọc trăm trứng tạo nên tổ tiên người Việt. Thời gian thao thiết trôi, lịch sử chứng kiến bao cuộc thăng trầm, văn chương cũng theo thời thế mà kiến tạo nên thế giới nghệ thuật của mình. Trong các thời khắc tao loạn của thế kỷ XVI trở đi trong lịch sử Việt Nam, sự xuất hiện truyện truyền kỳ với những khát khao lánh cõi trần nhiễu nhương rồi trốn vào một thế giới tốt đẹp là cõi tiên, thoát những nhọc nhằn kiếp người rồi trốn vào giấc mơ về hình thể thanh thoát vô ưu của kiếp tiên nơi thượng giới. Tiên là không có thật nhưng giấc mơ là có thật, và bởi giấc mơ đau đáu nên tiên cũng trở thành một thực thể như có thật.

tien-nu-1.jpg
Tiên rối nước - Ảnh: Nguyễn Bá Ngọc

Và rồi thực thể đó, đã được hiện hữu trong các đồ án điêu khắc ở không gian thiêng là đình làng Việt - một loại văn bản kén người tạo tác, và đương nhiên, kén cả người đọc. Thật may mắn, nhóm người đọc Trần Hậu Yên Thế, Trần Trung Hiếu, Lê Thị Liễu, Trần May, với một sự đam mê đầy cẩn trọng, đã đọc kỹ các đồ án điêu khắc có hình ảnh tiên ở đình làng Việt các thế kỷ XVI, XVII, XVIII và giới thiệu với cộng đồng người đọc trong cuốn chuyển khảo này.

Chọn trọng tâm là các đồ án điêu khắc có hình ảnh tiên nữ trong đình làng Việt thế kỷ XVI, XVII, XIII, Trần Hậu Yên Thế và các cộng sự đưa người đọc đi xa, nhìn rộng, nghĩ sâu và liên tưởng bao quát về vấn đề đang bàn.

Đi xa, nhóm tác giả dẫn người đọc đi theo trục tuyến tính thời gian, khi mà cặp hình tượng Cha Rồng - Mẹ Tiên đi vào chính sử, từ đó, lần theo các dấu ấn của văn hóa vật thể in hình qua dâu bé thời gian bởi “không phải câu chuyện huyền sử dẹp để nào của dân tộc cũng được thị giác hóa, được cụ thể, được in dấu lên đá, lên gỗ" (tr.8). Theo trục thời gian này, nhóm tác giả chỉ cho người đọc thời điểm xuất hiện của những bức chạm Rồng Tiên vào thời Mạc, sự phát triển nở rộ trong khoảng 3 thế kỷ XVI, XVII, XVIII và sự lụi tàn vào thế kỷ XIX rồi hồi sinh trở lại vào cuối thế kỷ XX trong những chất liệu đa dạng khác.

tien-nu-2.jpg
Bìa sách "Tiên nữ trong mỹ thuật Việt".

Nhìn rộng, nhóm tác giả mở tầm mắt người đọc tới sự xuất hiện của hình ảnh tiên trong văn hóa Ấn Độ (tiên ông Rishi, tiền nữ Apsara); trong văn hóa Trung Hoa (mà tâm điểm là ở Đạo giáo), trong thần thoại và văn hóa châu Âu (mà ví dụ về các nàng tiên cá với giọng hát mê hoặc và ma lực quyến rũ khiến bao thủy thủ cùng Odysseus khi đi qua vùng biển nọ. phải nhét sáp ong vào tại và trái mình vào cột thuyền buồm để tránh xa cám dỗ đã in đậm vào mọi người đọc từ thuở ấu thơ), từ đó tập trung vào hình ảnh tiên nữ trong mỹ thuật Đông Tây. Các tác giả đã thể hiện một sở kiến rộng rãi trên tinh thần lao động nghiêm túc trong việc giới thiệu một cách bao quát về khối lượng tranh tượng khổng lồ trong văn hóa Hy. La từ những manh nha ở thế kỷ tới sự bùng nổ trong thời Phục Hưng, sự phát triển trong các nhánh riêng như dòng tranh cổ tích ở Italia, Anh, Ba Tư và những tương đồng và khác biệt về chủ đề này trong mỹ thuật phương Đông mà các bức phù điêu về Apsara trong mỹ thuật Ấn Độ (thế kỷ X-XI), trong ngôi đền nổi tiếng, di sản văn hóa thế giới Borobudur của người Indonesia, các bức phù điêu bằng đá ở các ngôi đền Angkor của Cambodia, ở các bích họa . trong hang đá Mạc Cao ở Đôn Hoàng mà sự hoà nhập hình ảnh Phi Thiên của Phật giáo và Đạo giáo đã làm nên tính độc nhất vô nhị của di sản văn hóa thế giới này.

Nghĩ sâu, Trần Hậu Yên Thế và nhóm tác giả chia sẻ với người đọc những suy nghĩ của mình về các căn cứ nền tảng như lý thuyết archétype (mà nhóm tác giả dịch là mẫu siêu nguyên) được hình thành từ vô thức tập thể của C. Jung, lý thuyết sáng tạo truyền thống (irvented traditions) của Eric Hobsbawm, hay thuyết "Những cộng đồng tưởng tượng" (ImaginedCommunities) của Benedict Anderson cho tới thuyết “Dân tộc biểu tượng luận” (Ethnosymbolism) của Anthony D. Smith, những biểu hiện mạnh nha của sự hình thành chủ nghĩa dân tộc, sự chi phối của diễn ngôn quyền lực, sự tiếp thu các ảnh hưởng của giao lưu quốc tế, sự thăng trầm của ảnh hưởng Nho giáo trong việc kiến tạo nên các huyền thoại tộc người, việc văn bản hóa chúng trong các thư tịch mang tính chính thống - mà các tác giả đánh giá là “tờ giấy khai sinh hợp pháp của triều đình phong kiến Việt Nam" cho hình tượng Rồng Tiên trong mỹ thuật. Từ đây, nhóm tác giả dẫn người đọc tới các tầng văn hoá-nhận thức-triết mỹ của việc kiến tạo, giải hủy, tái kiến tạo hình tượng tiên mà sự chiêm ngưỡng vẻ đẹp ở bề mặt của các di sản vật thể mang tính thị giác chỉ là bề nổi của hàng loạt các động thái lịch sử - chính trị - văn hóa miền tục trong thời gian và không gian của nhân loại.

Để có cái nhìn bao quát, nhóm tác giả đã trình hiện trên trang giấy chuyên khảo những kiến thức liên văn hóa mà các dữ liệu về văn học dân gian (truyện “Từ Thức”, truyện “Ả Chức - chàng Ngưu”), văn học thành văn (“Bích câu kỳ ngộ”, “Văn Cát thần nữ”), về nghệ thuật biểu diễn (rối nước, múa trong lễ hội, trong hát Ca trù) và nghệ thuật tạo hình. Từ cái nền liên văn hóa, cuốn chuyên khảo đi sâu giới thiệu các đồ án tiên nữ trong chùa, tháp, đền, miếu; sự tương đồng giữa hình tượng tiên nữ ở đình, chùa, đền, miếu ở đề tài, hình thức thể hiện, phong cách tạo hình và trang phục mà qua đó, nhóm tác giả gợi ra những suy nghĩ về cơ tầng văn hóa truyền thống và sâu xa hơn là mẫu gốc mà “vô thức cộng đồng” tạo ra trong lịch sử.

Đi xa để về gần, đào sâu để hiểu thêm tầng bề mặt, nghĩ rộng để hiểu kỹ hơn những gì trong phạm vi hẹp, bao quát để tường minh cái cụ thể, chuyên khảo đưa người đọc tới cái nhìn cận cảnh về hình tượng tiên nữ trong chạm khắc đình làng Việt, tập trung ở các ngôi đình tiêu biểu: Tây Đằng và Thụy Phiêu (Hà Nội), Phù Lưu (Bắc Ninh), Lỗ Hạnh và Thổ Hà (Bắc Giang)... Bằng cái nhìn học thuật chuyên sâu về mỹ thuật, từ đam mê vô bờ bến đối với di sản điêu khắc của dân tộc, cùng với sự cảm nhận tinh tế và sự giản dị mà trau chuốt của ngôn từ thể hiện, chuyên khảo dường như đã làm sống lại những khát khao muốn gửi gắm, những đam mê bất tận và sự thăng hoa bừng sáng của các điêu khắc gia dân gian khi đặt những đường chạm của bàn tay tài hoa vào thớ gỗ cách đây tới 5 thế kỷ. Những khuôn mặt trái xoan, những ngắn cổ cao thanh thoát, những đôi tay trần, những ngón tay búp măng, những vạt áo dài khăn, váy dài hay váy đụp, xiêm y kín đáo hoặc trễ nải, có cánh hoặc không cánh... đều được tạc trong thể động của hình khối và đường nét, trong sự hài hòa của các đẹp và cái hợp lý vừa tạo ấn tượng thị giác mạnh mẽ, vừa tạo ấn tượng cảm xúc sâu đậm cho người xem như những nhân vật có hồn vía, có bản sắc. Bởi thực ra, đó chính là hóa thân của các cô thôn nữ Việt Nam “thắt đáy lưng ong”, “miệng cười như thế hoa ngâu” mà ca dao đã lưu lại bằng ngôn từ.

Trên nền chung của đồ án điều khắc tiên nữ trong không gian văn hóa đình làng Bắc Bộ, đồ án “Tiên nữ cưới rồng" được đặc biệt chú ý. Hình tượng tiên trong đồ án này vừa mang dáng dấp của các thôn nữ trong cuộc sống đời thường, vừa là sự phóng khoáng, cách điệu của việc thể hiện cái đẹp của người phụ nữ trong sự phá dỡ các khuôn mẫu và định kiến về giới do sự bớt hà khắc của quan niệm Nho giáo và nhờ ảnh hưởng bởi sự tiếp xúc với thế giới phương Tây xứng đáng là biểu tượng tinh hoa của mỹ thuật Việt Nam. Việc gây kinh ngạc khi giới thiệu đồ án này ra nước ngoài đã là một minh chứng sinh động cho điều đó.

Cũng như lịch sử không phải là đã qua, di sản cũng không chỉ là câu chuyện của quá khứ, di sản đã được sống lại trong sự tái kiến tạo truyền thống như một mạch nguồn không bao giờ dừng lại. Việc họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm với sự tái khởi động các đồ án hình tượng tiên trong sáng tác của ông ở thập niên 60 của thế kỷ XX sau nhiều thế kỷ đứt đoạn đã khơi nguồn cho sự tiếp nối sáng tạo của nhiều thế hệ hoạ sĩ Việt Nam; sự hóa thân hình ảnh các nàng tiến vào các cánh diều ở trời Âu sau triển lãm “Rồng Tiên trên chạm khắc đình làng ở Việt Nam” tại Paris (9/2012) là những ví dụ cho sự tái sinh miên tục của truyền thống trong các chiều kích không - thời gian đương đại.

Cũng như vậy, sự đọc của nhóm tác giả cuốn "Tiên nữ trong mỹ thuật Việt" với những dẫn liệu hình ảnh phong phú, với những cảm nhận tinh và phân tích sâu từ góc độ liên ngành, không thể khác, là những bước tiếp trên dặm dài thời gian để lưu giữ, nuôi sống và làm mới bản sắc Việt trong một tình yêu đậm sâu và niềm tự hào vô bờ bến của con dân nước Việt./.

Bài liên quan
  • Thi nhân xứ Đoài trong không gian văn hóa kinh kỳ
    Xứ Đoài thuộc không gian địa lý Sơn Tây, là vùng trọng yếu của Thăng Long xưa - Hà Nội nay và cũng là vùng “địa linh nhân kiệt” với nhiều danh nhân kỳ hùng, mang nhiều dấu ấn văn hóa đặc sắc, có truyền thống lâu đời.
(0) Bình luận
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Tạo dựng bản sắc kiến trúc Hà Nội: Giữ hồn cốt Thủ đô, kiến tạo diện mạo cho tương lai
    Kiến trúc không chỉ định hình diện mạo đô thị mà còn lưu giữ ký ức, phản ánh bản sắc văn hóa và trình độ phát triển của mỗi thời đại. Đối với Hà Nội - thành phố ngàn năm văn hiến, việc kiến tạo những công trình mới hài hòa với không gian lịch sử, đồng thời phát huy vai trò của đội ngũ kiến trúc sư trong bảo tồn và sáng tạo, là yêu cầu quan trọng để xây dựng Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại", đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới.
  • [Video] “Khúc quân hành” năm 2026: Một thập kỷ bền bỉ lan toả nghĩa tình đền ơn đáp nghĩa
    Tiếp nối thành công của 9 lần trước, năm 2026, Chương trình "Khúc quân hành” lần thứ X do Tạp chí Người Hà Nội tổ chức, đã diễn ra từ ngày 18 đến 21/7 tại các xã Đông Khê, Trường Hà - tỉnh Cao Bằng và Thủ đô Hà Nội. Chương trình là hoạt động thiết thực kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); hướng tới 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026). Chương trình Khúc quân hành năm 2026 đánh dấu một thập kỷ vun đắp và lan tỏa truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” tốt đẹp của dân tộc.
  • Giải thưởng Victor Tardieu 2026: Tôn vinh và tiếp sức cho những tài năng mỹ thuật trẻ
    Chiều 25/7, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam tổ chức Lễ trao Giải thưởng Victor Tardieu 2026, vinh danh những sinh viên có tác phẩm tốt nghiệp xuất sắc. Ở mùa giải thứ hai, giải thưởng tiếp tục khẳng định vai trò là bệ phóng cho các tài năng mỹ thuật trẻ.
  • Hà Nội thí điểm mô hình tiêu dùng số và bảo trợ thương mại điện tử
    Đến năm 2028, thành phố phấn đấu kết nối 500 chủ thể, công khai 1.000 sản phẩm với ít nhất 80% có truy xuất nguồn gốc, đồng thời giải quyết hiệu quả các phản ánh và khiếu nại. Để thực hiện, Hà Nội xây dựng quy chế phối hợp liên ngành, tận dụng hạ tầng công nghệ sẵn có như ứng dụng iHanoi để mở "Gian hàng số Thủ đô" và giao Chi cục Quản lý thị trường làm đầu mối chống hàng giả...
  • Hà Nội sắp xếp lại mạng lưới trường cao đẳng, trung cấp và trung tâm GDNN-GDTX
    Hà Nội triển khai tái cấu trúc mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và đại học công lập nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng đào tạo và giữ ổn định tâm lý học sinh. Theo đó, 19 trường cao đẳng, trung cấp thành 8 trường cao đẳng và 2 trường trung cấp; hợp nhất 29 trung tâm GDNN-GDTX theo các cực phát triển địa lý thành 14 trung tâm; đồng thời giữ nguyên Trường Đại học Thủ đô Hà Nội để tập trung đầu tư phát triển. Toàn bộ công tác sắp xếp, sáp nhập được yêu cầu hoàn thành trước ngày 25/8/2026.
Đừng bỏ lỡ
  • [Podcast] Canh dải khoai - Đặc sản trứ danh xứ Đoài
    Trải qua thăng trầm thời gian, người Hà Nội vẫn luôn biết gìn giữ những món ăn truyền thống từ công thức gia truyền, đồng thời họ còn nâng niu những giá trị văn hóa được gửi gắm trong từng món ăn, từ cách chọn nguyên liệu, chế biến đến cách thưởng thức. Và canh dải khoai là một món ăn như thế.
  • Kiệt tác opera “La Traviata” của Ý chuẩn bị công chiếu tại Hà Nội
    Trong hai đêm 30 và 31/7/2026, Nhà hát Hồ Gươm, khán giả yêu nghệ thuật hàn lâm tại Hà Nội sẽ được hòa mình vào không gian âm nhạc đỉnh cao với sự xuất hiện của vở opera kinh điển “La Traviata”.
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Từ giai điệu "Hà Nội mùa thu" đến sức sống của một không gian văn hóa cộng đồng
    Trong không gian Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội), chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 26/7 không chỉ mang đến những giai điệu Jazz đặc sắc mà còn mở ra một cách cảm nhận mới về Hà Nội. Điểm nhấn của chương trình là ca khúc “Hà Nội mùa thu” của nhạc sĩ Vũ Thanh đã đưa hình ảnh Thủ đô hiện lên bằng vẻ đẹp tinh tế, giàu chiều sâu văn hóa, qua đó khẳng định vai trò của nghệ thuật trong việc kiến tạo không gian văn hóa cộng đồng và lan tỏa những giá trị bền vững của thành phố.
  • Phát động cuộc thi sáng tác thơ, âm nhạc, nhiếp ảnh hướng tới Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương
    Cuộc thi là cơ hội khuyến khích đội ngũ văn nghệ sĩ và các tầng lớp Nhân dân phát huy sáng tạo, tìm kiếm những nhân tố mới nhằm bổ sung nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của tỉnh.
  • Đặc sắc chương trình nghệ thuật Bún Bò Huế “Huyền tích Vân Cù và bản giao hưởng Hương Ngự”
    Các nghệ nhân, đầu bếp và chuyên gia ẩm thực đến từ 3 miền Bắc - Trung – Nam chế biến 300 tô Bún bò Huế cùng một lúc theo quy trình truyền thống đã lập Kỷ lục Việt Nam.
  • Phát động Cuộc thi "Sáng tạo IP văn hóa từ di sản Phở Hà Nội"
    Cuộc thi "Sáng tạo IP văn hóa từ di sản Phở Hà Nội" đánh dấu bước chuyển mình trong cách tiếp cận di sản, giúp lan tỏa các giá trị truyền thống, kích cầu du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa. Đồng thời, đây cũng là khởi đầu quan trọng giúp thành phố chuẩn bị các nguồn lực tư liệu cần thiết, phục vụ thành phố xây dựng hồ sơ khoa học trình UNESCO ghi danh Phở.
  • Để ký ức Hà Nội ngân lên trong những giai điệu cuối tuần
    Có những ca khúc đã vượt qua giới hạn của thời gian để trở thành một phần ký ức của thành phố. Mỗi lần giai điệu ấy cất lên, Hà Nội như hiện diện gần hơn trong cảm nhận của người nghe. Chiều 26/7, chương trình "Âm nhạc cuối tuần" tại Nhà Bát Giác sẽ đưa công chúng bước vào hành trình âm nhạc nơi những bản tình ca về Hà Nội gặp gỡ tinh thần jazz thế giới, góp thêm một sắc màu cho đời sống văn hóa của Thủ đô.
  • “Nét duyên Chèo Hà thành”: Từng bước hình thành những sản phẩm văn hóa đặc trưng của Thủ đô
    Tối 24/7, tại Rạp Đại Nam, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội ra mắt Chương trình nghệ thuật “Nét duyên Chèo Hà thành” do Nhà hát Chèo Hà Nội thực hiện.
  • Công bố Lễ hội Di sản và Âm nhạc Quốc tế Huế - Huế Wonderverse Music Fest 2026
    Lễ hội Di sản và Âm nhạc Quốc tế Huế - Huế Wonderverse Music Fest nhằm hiện thực hóa chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa của Chính phủ và định hướng xây dựng Huế trở thành Thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam.
Tiên nữ trong mỹ thuật Việt từ cách tiếp cận liên ngành
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO