Văn hóa – Di sản

Phạm Quý Thích – nhà giáo, nhà “Kiều học” tiên phong

Nguyễn Thanh Tùng 23/11/2023 11:14

Phạm Quý Thích, tên tự là Dữ Đạo, tên hiệu là Lập Trai, biệt hiệu Thảo Đường cư sĩ, sinh ngày 19 tháng 11 năm Canh Thân (tức này 25 tháng 12 năm 1760), người xã Hoa Đường, huyện Đường An (nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương), sau dời lên kinh đô Thăng Long, ngụ tại phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương (nay là phường Hàng Vải, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội).

pham-quy-thich.jpg
Tranh minh họa danh nhân Phạm Quý Thích.

Ông đậu Tiến sĩ Thịnh khoa năm Cảnh Hưng thứ 40 (1779), khi vừa 19 tuổi. Đến năm 23 tuổi (1783), ông đã trải các chức: Hàn lâm viện hiệu thảo, Kinh Bắc đạo giám sát ngự sử thuộc Ngự sử đài, Thiêm sai tri Công phiên... Khi quân Tây Sơn ra Bắc (1786), ông chạy sang Kinh Bắc, sống cuộc đời ẩn dật, ăn nhờ ở đậu, nay đây mai đó. Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, Phạm Quý Thích được triệu đến trao cho chức Thị trung học sĩ, nhưng ông cố chối từ và xin ở lại Bắc Thành (tức Hà Nội) dạy học. Thể theo nguyện vọng, vua Gia Long bổ ông làm Đốc học Bắc Thành, nhưng ít lâu sau ông lại xin từ chức. Năm Gia Long thứ 10 (1811), ông bị triệu vào kinh đô Huế, giao cho việc chép sử và ban tước Thích An Hầu. Sau đó không lâu, ông tiếp tục cáo quan về dạy học ở Thăng Long. Đầu đời Minh Mạng (1821), ông lại được vời ra giúp việc, lúc ấy nhân đang có bệnh, Phạm Quý Thích lấy cớ từ chối. Từ đó, ông chuyên tâm chăm lo việc dạy học, viết sách. Ngày 29 tháng Ba năm Ất Dậu (16-5-1825), Phạm Quý Thích qua đời, hưởng thọ 66 tuổi.

Tuy đỗ đạt sớm và được giao nhiều chức vụ cao dưới thời Lê - Trịnh và thời Nguyễn, nhưng Phạm Quý Thích không thiết tha lắm với con đường làm quan. Nhiều tác phẩm của ông thể hiện điều đó. Ông chuyên chú nhiều vào việc dạy học và trước tác.

Về sự nghiệp giáo dục, Phạm Quý Thích đã đào tạo được nhiều trí thức, trong đó có những tên tuổi nổi tiếng như Nguyễn Văn Lý (1795 - 1868), Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872), Vũ Tông Phan (1800 - 1851), v.v... Họ đều đỗ Tiến sĩ và là những danh sĩ thời Nguyễn, có ảnh hưởng về văn hóa, học thuật, kể cả chính trị, xã hội. Trong đó, Nguyễn Văn Siêu là một danh nhân văn hóa lớn của đất Thăng Long - Hà Nội.

Phạm Quý Thích còn là bạn thân của đại thi hào Nguyễn Du. Ông cũng là người đầu tiên đem Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) ra giảng dạy học trò, sau đó có làm bài Thỉnh Đoạn trường tân thanh hữu cảm (hoặc Đoạn trường tân thanh đề từ) đánh giá rất cao giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Có thuyết nói ông đã cho khắc in tác phẩm này của Nguyễn Du và phổ biến nó ở miền Bắc. Có thể nói, Phạm Quý Thích là một trong những người đầu tiên có con mắt xanh “phát hiện” ra Đoạn trường tân thanh và “tiếp sức” cho tác phẩm trở nên nổi tiếng.

Về sự nghiệp trước tác, ông có các công trình tiêu biểu như Thảo Đường thi nguyên tập (Thơ của Phạm Quý Thích), Lập Trai tiên sinh di thi tục tập (Thơ của Phạm Quý Thích), Thiên Nam Long thủ liệt truyện (Tiểu sử những người đỗ đầu, đại khoa các đời ở nước Nam), Chu Dịch vấn đáp toát yếu (157 câu hỏi và trả lời về ý nghĩa của Kinh Dịch và các quẻ trong Kinh Dịch), Nam hành thi tập (Tập thơ viết trên đường vào Nam), Tân truyền kì lục (Tập truyện truyền kì mới, gồm 3 truyện). Ngoài ra, ông còn có một số bài rải rác ở các văn tập, thi tập khác,...

Thơ văn Phạm Quý Thích tập trung phủ nhận con đường danh lợi, khẳng định những lí tưởng căn bản của nhà Nho, nhất là từ khi nhà Lê sụp đổ. Phạm Quý Thích thể hiện nỗi niềm hoài Lê, nhất là những bài viết về cảnh thiên nhiên, chùa chiền, nhân vật. Trong tập Tân truyền kì lục, thông qua những nhân vật là loài vật (con chó, ve sầu,...), Phạm Quý Thích cũng ca ngợi những phẩm chất của một bề tôi trung thành, nghĩa khí, tận tụy với chủ cũ, gián tiếp phê phán sự suy đồi đạo đức đương thời và thể hiện nỗi niềm “hoài Lê” thầm kín. Thơ văn Phạm Quý Thích còn thể hiện nỗi niềm “tiên ưu” của một nhà Nho có trách nhiệm với đời:

Phân minh hoài bão đăng tương chiếu,

Tự phụ tiên ưu chí vị ti.

(Đề sở cư)

(Nỗi lòng bày tỏ phân minh trước đèn,

Có một điều đáng để tự phụ, đó là chí tiên ưu chưa hề giảm sút)

Phạm Quý Thích cũng thể hiện sự cảm thông, xót xa trước nỗi thống khổ của nhân dân, mong cho nhân dân được “an cư lạc nghiệp” (Lữ xá cảm hoài – Cảm hoài nơi quán trọ). Ông đau lòng khi thấy thảm cảnh của người dân nghèo:

Trữ trục mị hữu di,

Phú quý giả kim dĩ.

Bần giả tồn cơ hi,

Hoang ốc mại vi tân.

Khang tì cam như di...

Thê thê bất nhẫn văn,

Phủ ngưỡng tâm ưu tư.

Cổ nhân sĩ thát thị,

Dân lao huống nhược tư.

Ta tại hữu quan thủ,

Sô mục an đắc từ.

(Phó Kinh Bắc)

(Đồ canh cửi chẳng còn lại chút gì,

Người giàu sang nay cũng hết rồi.

Kẻ nghèo khổ trụ lại được quả là hiếm hoi,

Nhà hoang bán làm củi.

Tấm cảm mà thấy ngọt như đường.

Thê thảm quá không nỡ nghe tiếp nữa,

Cúi đầu, rồi lại ngửng đầu, lòng trĩu nặng sầu bi.

Người xưa không làm cho vua được như Nghiêu Thuấn thì thấy nhục như bị đánh đòn giữa chợ,

Huống chi lại còn để dân tình khốn khổ đến thế này.

Than ôi! Làm quan là phải có trách nhiệm,

Chăm sóc dân, nhiệm vụ ấy sao có thể chối từ)

(Đến Kinh Bắc)

Về sống với nhân dân nơi thôn xóm, Phạm Quý Thích chung niềm vui và nỗi lo với nông dân. Trong Thảo Đường thi nguyên tập, bên cạnh những bài thơ nói lên tình yêu thiên nhiên và cuộc sống cần lao giữa ruộng vườn, chúng ta thấy khá nhiều bài nói lên nỗi lo trước nạn hạn hán: Vọng vũ (Ngóng mưa), Tự tứ nguyệt chí lục nguyệt sắc vũ tức sự (Thơ tức sự, từ tháng tư đến tháng sáu hiếm mưa), niềm vui khi được cơn mưa đúng lúc, đáp ứng được khát vọng của nông dân muốn có miếng ăn thì phải trông vào “nước, phân, cần, giống”: Dạ lan thính vũ (Đêm tàn nghe mưa), Cửu hạn (Hạn hán lâu ngày), Hi vũ (Mừng có mưa, 3 bài),...

Tuy quê gốc ở Hải Dương nhưng cuộc đời, sự nghiệp và tình cảm của Phạm Quý Thích lại gắn bó thiết tha với kinh đô Thăng Long - Hà Nội. Tác phẩm của ông thể hiện rõ những cảm xúc sâu nặng với đất kinh kì. Truyện Con chó nhà nghèo có nghĩa (trong Tân truyền kì lục) lấy một phần bối cảnh là kinh sư để gián tiếp thể hiện nỗi niềm hoài niệm “cố quốc” trong buổi tao loạn:

Thành trung cửu miếu thữ li li,

Cử mục sơn hà lệ mãn y.

(Chốn cửu miếu trong thành, san sát những bình rượu thờ,

Ngước trông non sông, lệ ướt đẫm áo)

và:

Tam bách niên lai vũ trụ xuân,

Thành trì kim dĩ thuộc hà nhân.

(Ba trăm năm nay bờ cõi đầy xuân,

Bây giờ thành trì đã thuộc về ai?)

Ông cũng có nhiều bài thơ viết về các địa danh nổi tiếng của đất Thăng Long - Hà Nội như chùa Trấn Quốc, hồ Tây, chùa Tiên Tích (tức chùa Ngọc Hồ hoặc chùa Bà Ngô, phố Nguyễn Khuyến, phường Văn Miếu), đền Ông Mạc (nay ở ô Đống Mác, quận Hai Bà Trưng), bến Chương Dương (huyện Thường Tín, Hà Nội), đền Đổng Thiên Vương (huyện Sóc Sơn, Hà Nội), núi Câu Lậu (tức núi có chùa Tây Phương, huyện Quốc Oai, Hà Nội), hay những bức tranh phong cảnh Tràng An đượm màu hoài cổ. Thăng Long xưa hiện lên trong thơ Phạm Quý Thích với vẻ đẹp cổ kính, nên thơ pha chút buồn hoài niệm về một thời “lối xưa xe ngựa”, “nền cũ lâu đài”. Đây là cảnh hồ Tây:

Hồ ảnh chiếu cổ phạn,

Hà hương đình cao lâu.

(Du Tây Hồ Trấn Quốc tự, I)

(Chùa cổ soi bóng nước mặt hồ,

Hương sen đọng lại trên lầu cao)

Đây là cảnh chùa Trấn Quốc:

Tây Hồ hồ thượng hà niên tự,

Cổ thụ âm âm trúc thạch tùng.

Trần đế quan ngư không thử địa,

Tiên vương lạc thủy hữu danh cung.

Nhất hoằng băng kính khai tình nhật,

Thập lý hà hương tổng vãn phong.

(Du Tây Hồ Trấn Quốc tự, I)

(Trên hồ Tây, chùa có tự bao giờ,

Cây cổ thụ rợp bóng bụi trúc đá.

Nơi nhà Quan ngư của vua Trần nay chỉ còn lại mảnh đất trống,

Dấu vết cung Lạc Thủy của tiên vương giờ vẫn còn vết.

Gương thu leo lẻo soi ngày sáng,

Mười dặm hương sen tiễn gió chiều)

hay:

Mộc diệp tiêu tiêu Trấn Quốc thu,

Thảo hoa mạc mạc cố cung u.

Đăng lâu nhất vọng hồ thiên vãn,

Hà diệp trung gian quá thủy chu.

(Du Tây Hồ Trấn Quốc tự, II)

(Thu về, lá cây bên chùa Trấn Quốc xao động trước gió,

Cỏ hoa lặng lẽ nằm bên hành cung u tịch.

Lên lầu ngắm nhìn trời chiều trên hồ,

Thuyền qua hồ giữa đám lá sen)

Còn đây là cảnh thành cổ Thăng Long u tịch:

Thái Miếu ô đề dạ dạ thanh,

Trường An nhất bán nguyệt hoa minh.

Liên hồ thủy đới hoa biên tự,

Cổ thụ sương tâm trúc ngoại thành.

(Tiếng quạ kêu đêm bên Thái Miếu,

Một nửa vành trăng soi sáng đất Tràng An.

Hồ sen, dòng nước uốn quanh như cái đai, chùa bên hoa,

Cổ thụ đẫm sương, thành quách bên ngoài rặng tre trúc)

Và:

Cao phong lịch loạn minh thiền thụ,

Cổ đạo phân minh hạ mã bi.

Quốc mẫu cung tường dư bích tiển,

Vương hầu đệ trạch bán tà huy.

(Thu dạ bộ nguyệt hữu hoài)

(Cây lớn đón gió trên cao ran tiếng ve kêu,

Đường cũ còn thấy rõ tấm bia xuống ngựa.

Tường cung quốc mẫu đầy rêu xanh,

Phủ đệ vương hầu thấp thoáng bóng chiều tà)

Sự miêu tả cảnh vật, thiên nhiên như vậy cũng đủ thấy tình cảm của ông dành cho đất kinh kì xưa. Tình cảm này dường như là một trong những nguyên nhân có thể lí giải cho việc vì sao Phạm Quý Thích không tha thiết với việc đi làm quan (dù quan to) ở một nơi xa nào đó mà bám trụ, gắn bó với Thăng Long - Hà Nội và với nghề dạy học cho đến hết cuộc đời...

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Nguyễn Hiền – trạng nguyên thần đồng
    Nguyễn Hiền sinh ngày 12 tháng 7 năm Ất Mùi (1235), quê ở làng Vương Miện, huyện Thượng Hiền (sau đổi là Thượng Nguyên, phủ Thiên Trường, lộ Sơn Nam), nay là thôn Dương A, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
(0) Bình luận
  • Bánh cuốn Thanh Trì (phường Vĩnh Hưng - TP Hà Nội: Hương vị mộc mạc lưu giữ ký ức Hà thành
    Giữa sự thay đổi không ngừng của văn hoá ẩm thực Hà Nội, bánh cuốn Thanh Trì vẫn giữ được dấu ấn riêng bằng hương vị giản dị và kỹ thuật chế biến thủ công đặc trưng. Từ những gánh hàng rong xưa đến những cơ sở sản xuất ngày nay, món ăn làm từ hạt gạo quê này không chỉ phản ánh nét tinh tế trong văn hóa ẩm thực Thủ đô mà còn lưu giữ câu chuyện về một nghề truyền thống đã được duy trì qua nhiều thế hệ.
  • Làng Vạn Phúc giữ gìn cốt cách văn hóa trong dòng chảy hiện đại
    Bước chân vào làng Vạn Phúc, người ta dễ dàng cảm nhận sự giao thoa giữa quá khứ và hiện tại. Những mái đình, ngôi chùa cổ kính, những câu chuyện được truyền từ đời này sang đời khác và nhịp sống bình dị của người dân đã tạo nên một không gian văn hóa đặc trưng, nơi ký ức của vùng quê Bắc Bộ vẫn được nâng niu, gìn giữ qua năm tháng.
  • Tôn vinh di sản, lan tỏa thương hiệu “Huế - Kinh đô Áo dài”
    Tuần lễ Áo dài Huế 2026 với chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, du lịch đặc sắc trải dài trên nhiều không gian di sản, danh thắng và địa điểm văn hóa tiêu biểu của TP Huế sẽ diễn ra từ ngày 3 - 10/7.
  • Công bố xếp hạng đình Liễu Cốc Thượng là Di tích cấp TP Huế
    Bảo tồn nhiều tư liệu, sắc phong cùng các giá trị văn hóa gắn với đời sống tâm linh, phong tục tập quán của người dân đã trải qua hơn 500 năm nên đình Liễu Cốc Thượng được xếp hạng Di tích cấp TP Huế.
  • Phục chế Bảo vật Quốc gia “Ngai vua triều Nguyễn” đúng nguyên bản sau sự cố bị phá hoại
    “Ngai vua triều Nguyễn” bị phá hoại khiến gãy tay ngai phía bên trái vào ngày 24/5/2025 tại điện Thái Hòa (Đại nội Huế) đã được phục chế lại bảo đảm đúng hình dáng, kích thước và màu sắc nguyên bản theo hồ sơ công nhận Bảo vật Quốc gia năm 2015.
  • Rối nước viễn du thời đại số
    Từ bóng nước lung linh dưới mái thủy đình rêu phong, múa rối nước đang bước vào hành trình "viễn du xuyên thế kỷ" đến nhịp sống đương đại. Không còn bó hẹp trong không gian truyền thống, di sản được mở rộng biên độ tiếp cận khán giả qua mô hình sản phẩm công nghiệp văn hóa và tư duy sáng tạo của thế hệ trẻ. Hành trình ấy vừa nâng niu những giá trị cốt lõi, vừa âm thầm định hình diện mạo mới, để tiếng cười của chú Tễu vẫn ngân vang, rộn rã giữa Thủ đô văn hiến.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Ký ức chắt lọc qua nhịp điệu màu sắc
    Họa sĩ Trần Nguyên Dũng (1942-2023) là một gương mặt âm thầm, bền bỉ của mỹ thuật Hà Nội. Sau ba năm ngày ông ra đi, một triển lãm cá nhân giới thiệu những sáng tác lúc sinh thời của Trần Nguyên Dũng được tổ chức tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam từ ngày 2 đến 10/6/2026. Triển lãm “Trần Nguyên Dũng - Những ngày thảnh thơi” giới thiệu 60 tác phẩm trên nhiều chất liệu như một lát cắt tương đối đầy đủ về hành trình nghệ thuật của ông, cho thấy một đời sống nội tâm phong phú, gắn liền với truyền thống văn hóa dân tộc.
  • Phát huy vai trò báo chí trong tuyên truyền Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
    Chiều 17/6, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Tạp chí Cộng sản tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Báo chí cách mạng với nhiệm vụ tuyên truyền Văn kiện Đại hội XIV của Đảng”. Sự kiện diễn ra nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2026), thu hút sự tham gia của đông đảo nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý, đại diện các cơ quan báo chí, xuất bản và cơ sở đào tạo trên cả nước.
  • Chính sách đặc thù tạo động lực cho đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tạo, cống hiến
    Tại kỳ họp thứ 4, HĐND thành phố, đa số đại biểu đã nhất trí tán thành, thông qua Nghị quyết quy định một số nội dung, mức chi trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật của thành phố Hà Nội. Theo Nghị quyết, việc ban hành cơ chế, chính sách đặc thù này sẽ kịp thời tháo gỡ các nút thắt về thể chế, tạo động lực mạnh mẽ khuyến khích đội ngũ nghệ sĩ sáng tạo, cống hiến, thu hút các chuyên gia uy tín, nâng cao chất lượng nghệ thuật chuyên nghiệp và thúc đẩy ngành công nghiệp văn hóa của Thủ đô phát triển hội nhập sâu
  • Công an phường Phú Lương: đổi mới tư duy tuyên truyền, quyết tâm xây dựng đô thị văn minh, sáng - xanh - sạch - đẹp
    Phường Phú Lương (Hà Nội) đang chứng kiến tốc độ đô thị hóa nhanh chóng với nhiều chuyển biến tích cực về kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, đi kèm với sự phát triển ấy là những thách thức không nhỏ trong công tác quản lý trật tự công cộng và trật tự đô thị. Nhận thức rõ vai trò nòng cốt, Công an phường Phú Lương đã triển khai nhiều biện pháp đồng bộ, trong đó điểm sáng nổi bật là việc đổi mới phương thức tuyên truyền thông qua các sản phẩm video ngắn, trực quan, nhằm khơi dậy ý thức tự giác và trách nhiệm công dân của mỗi người dân trên địa bàn.
  • Bánh cuốn, nhịp thở chậm của phố phường
    Mùa hè đến, Hà Nội khoác lên mình vẻ dịu dàng hiếm có. Trời xanh trong, nắng dịu như mật, gió từ hồ Tây thổi qua mái tóc mang theo mùi nước và sương sớm. Không ồn ào, không vội vã, nhịp sống như được đặt về nhịp thở tự nhiên nhất. Từ Trung Quốc, tôi đặt vé máy bay quay trở về thủ đô để tận hưởng những cuộc dạo chơi kết hợp “food tour” đầy thi vị.
Đừng bỏ lỡ
Phạm Quý Thích – nhà giáo, nhà “Kiều học” tiên phong
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO