Văn hóa – Di sản

Trần Thánh Tông – hoàng đế đánh giặc và tu thiền

Nguyễn Hữu Sơn 31/10/2023 15:50

Trần Thánh Tông (13.10.1240 - 3.6.1290) tên thật là Trần Hoảng, con trưởng Trần Thái Tông (1218-1277), vị vua thứ hai triều Trần, lên ngôi năm 1258 khi tròn 18 tuổi. Trong 21 năm ở ngôi, Trần Thánh Tông biết sử dụng người hiền tài, dốc sức chăm lo việc nước và thực hành đường lối ngoại giao mềm dẻo. Đối mặt với kẻ thù Nguyên Mông, ông có sáng kiến triệu tập hội nghị Diên Hồng, phát động tinh thần đoàn kết dân tộc và ý chí “sát Thát” (giết giặc Nguyên Mông), trực tiếp tham gia lãnh đạo và đánh tan hai cuộc chiến xâm lược vào các năm 1285, 1287 - 1288.

Ông sống vào thời thịnh Trần và một giai đoạn huy hoàng trong lịch sử dân tộc nhưng đã sớm nhường ngôi cho con, lên làm Thái thượng hoàng ngay từ năm 1278. Trừ thời gian đánh giặc Nguyên Mông, ông lui về Bắc cung chuyên tâm nghiên cứu đạo Phật, sáng tác thơ văn, đến mười hai năm sau mới qua đời. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Vua trung hiếu nhân thứ, tôn hiền trọng đạo, cha khai sáng trước, con kế thừa sau, cơ nghiệp nhà Trần được bền vững vậy. Nhưng ưu du cõi tam muội, tìm dấu đạo nhất thừa thì không phải là phép trị nước hay của đế vương”...

tran-thanh-tong.jpg
Tượng thờ Trần Thánh Tông.

Trần Thánh Tông là bậc vua khoan thứ, biết chia rõ việc công tư. Vào mùa xuân năm Mậu Thìn (1268), khi ở ngôi vua, Trần Thánh Tông từng nói với các tôn thất: “Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông phải cùng hưởng phú quý với anh em trong họ. Tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn, được cả thiên hạ phụng sự nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột thịt. Lo thì cùng lo, vui thì cùng vui. Các khanh nên truyền những lời này cho con cháu để chúng đừng bao giờ quên thì đó là phúc muôn năm của tông miếu xã tắc”. Liền sau đó, vua xuống chiếu cho các vương hầu tôn thất, khi bãi triều thì vào trong điện và lan đình. Vua cùng ăn uống với họ. Hôm nào trời tối không về được thì xếp gối dài, trải chăn rộng, kê giường liền cùng ngủ với nhau để tỏ hết lòng yêu quý. Còn trong các lễ lớn như triều hạ, tiếp khách, yến tiệc thì phân biệt rõ ngôi thứ, cấp bậc cao thấp. Vì thế, các vương hầu thời ấy không ai là không hòa thuận, kính sợ và cũng không ai phạm lỗi khinh nhờn, kiêu căng...

Về sau này, khi làm Thái thượng hoàng, nhân việc đánh tan giặc Nguyên - Mông lần thứ ba, Trần Thánh Tông trực tiếp tham gia định công thăng thưởng các tướng sĩ. Việc thưởng tước đã xong nhưng vẫn có người chưa bằng lòng nên Thượng hoàng dụ rằng: “Nếu các khanh biết chắc là giặc Hồ không vào cướp nữa thì nói rõ trẫm biết, dù có thăng đến cực phẩm trẫm cũng không tiếc. Nếu không thế mà đã vội thưởng hậu, vạn nhất giặc Hồ trở lại và các khanh lại lập công nữa thì trẫm biết lấy gì mà thưởng để khuyến khích thiên hạ?”. Từ đó mọi người đều vui vẻ phục tùng.

Đặt trong xu thế phát triển xã hội, Trần Thánh Tông được coi là người mở đầu cho xu thế trọng dùng nho sĩ, khoa cử gắn với đào tạo nhân tài cai trị đất nước. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Đinh Mão (1267), mùa hạ, tháng tư, chọn dùng nho sinh hay chữ sung vào quán, các, sảnh, viện. Bấy giờ Đặng Kế làm Hàn lâm viện học sĩ, Đỗ Quốc Tá làm Trung thư sảnh Trung thư lệnh, đều là nho sĩ văn học. Theo chế độ cũ, không phải nội nhân (hoạn quan) thì không được làm Hành khiển, chưa bao giờ dùng nho sĩ văn học. Bắt đầu từ đây, nho sĩ văn học mới được giữ quyền bính”...

Tác phẩm của Trần Thánh Tông tương truyền có Di hậu lục (Chép để lại cho đời sau), Cơ cầu lục (Chép việc nối dõi nghiệp nhà), Thiền tông liễu ngộ ca (Bài ca giác ngộ Thiền tông), Phóng ngưu (Thả trâu), Chỉ giá minh (Bài minh về sự cung kính) nhưng đều đã thất lạc. Hiện chỉ còn 16 mục tác phẩm, trong đó có 15 bài thơ và một đoạn văn bàn luận về tình nghĩa anh em trong hoàng tộc. Ngoài ra còn một số đoạn văn chính luận, thư từ ngoại giao chép rải rác trong nhiều sách khác nhau. Phần lớn nhan đề các tác phẩm là do người đời sau chỉnh lý, đặt lại....

Xét trên phương diện nội dung tư tưởng, thơ văn Trần Thánh Tông chia thành hai phần rõ nét. Phần thứ nhất là những bài hướng về đời sống thế tục, nhớ về gia tộc, đề tặng bề tôi, đề vịnh bốn mùa, phong cảnh thiên nhiên... Nhìn chung, các bài thơ này đều bình dị, nhẹ nhàng, chưa in đậm sắc thái tiếng nói đế vương, khẩu khí cung đình, qui phạm. Ngay cả ở bài thơ hai câu tựa như đôi câu đối tặng tướng Trần Quang Khải (1241-1294), thơ viếng tặng bề tôi Trần Trọng Trưng (người Giang Nam - Trung Quốc) cũng thiên về tiếng nói tình cảm chân thực, đời thường. Đến những bài thơ viết về cảnh mùa hè, đi thăm hành cung Thiên Trường, chơi phủ An Bang, động Huyền Thiên cũng in đậm tư chất con người Hoàng đế - nghệ sĩ - thi nhân. Ông nhập thân cùng trăng gió An Bang:

Triệu du phù vân kiệu,

Mộ túc minh nguyệt loan.

Hốt nhiên đắc giai thú,

Vạn tượng sinh hào đoan.

(Hạnh An Bang phủ)

Phan Võ dịch thơ:

Sớm chơi núi mây nổi,

Đêm nghi bến trăng thanh.

Bỗng dưng được thủ lạ,

Ngọn bút nảy muôn hình.

(Chơi phủ An Bang)

Ông như quên hết cả thế gian, đắm say với thiên nhiên và tạo dựng một cảnh giới Đạo giáo huyền hoặc ở động Huyền Thiên:

Vân yểm Huyền Thiên động,

Yên khai Ngọc đế gia.

Bộ hư thanh tịch tịch,

Điểu tán lạc sơn hoa.

(Đề Huyền Thiên động)

Đào Phương Bình dịch thơ:

Mây che mờ mịt Huyền Thiên động,

Khói tỏa long lanh điện Ngọc Hoàng.

Tiếng kệ câu kinh sao vắng vẻ,

Chim bay tan tác rụng hoa ngàn.

(Đề động Huyền Thiên)

Cảm nhận về mùa hè, Trần Thánh Tông thấy thời gian như thêm rộng dài với hình ảnh những hoa sen, cánh rừng sau mưa và tiếng ve rộn trong chiều:

Yểu điệu hoa đường trú ảnh trường,

Hà hoa xuy khởi bắc song lương.

Viên lâm vũ quá lục thành ác,

Tam lưỡng thiền thanh náo tịch dương.

(Nhà hoa thăm thẳm, bóng ngày rủ dài,

Hoa sen đưa hương mát đến cửa sổ phía bắc.

Vườn rừng sau mưa trở thành tấm màn biếc,

Vài ba tiếng ve khua rộn bóng chiều)

Đặc biệt trong bài Cung viên xuân nhật ức cựu (Ngày xuân trong vườn ngự nhớ người cũ), Trần Thánh Tông càng bộc lộ sâu sắc tiếng nói trữ tình cá nhân và khơi mở chủ đề tình yêu vốn rất hiếm hoi trong thơ cổ:

Cung môn bán yểm kính sinh đài,

Bạch trú trầm trầm thiển vãng lai.

Vạn tử thiên hồng không lạn mạn,

Xuân hoa như hứa vị thùy khai.

(Cửa cung rêu mờ, lối đi rêu mọc,

Giữa ban ngày mà lặng lẽ, ít người qua lại.

Muôn tía nghìn hồng chỉ rực rỡ suông mà thôi,

Hoa xuân đẹp thế kia vì ai mà nở?)

Chiếm số lượng quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Trần Thánh Tông là những bài thơ in đậm cảm quan Phật giáo. Ở đây có một số bài nhà vua xướng họa với Tuệ Trung Thượng sĩ (1230-1291), qua đó phát biểu quan niệm, nhận thức về bản chất trí tuệ sáng suốt, tinh thần tự tại, cái được gọi là “bản lai diện mục”, cái tâm nguyên thủy, cái bản thể bất biến thường tồn của mọi hiện tượng trong vũ trụ. Đồng thời, khi đọc các sách Đại Tuệ ngữ lục, Đại minh lục, Thiền sư - thi nhân Trần Thánh Tông bộc lộ cảm xúc và suy nghĩ về những điều vi diệu trong thế giới nhà Phật, cụ thể ở các mối quan hệ động - tĩnh, sinh - diệt... Trong bài thơ Tự thuật, ông thể hiện được tầm vóc nhà tu hành đạt đạo, ngộ đạo, thấu hiểu “bản lai diện mục” (bộ mặt thật vốn có, tính nguyên thủy của vạn vật), từ đó có thể làm chủ được chính mình và ngoại giới:

Nhất đàn chi phá vạn trùng sơn,

Giá cả công phu dã thị nhàn.

Hàn thử đáo lai vô sở thức,

Vị tằng phân thượng lão nhân can.

Cá trung vô khiếm diệc vô dư,

Phật dã vô hề nhân dã vô.

Thu cảnh viễn lai thiên ngoại viễn,

Thanh sơn vân tỏa chủy đô lô.

(... Một cái búng tay phá được vạn tầng núi,

Công phu ấy cũng dễ dàng thôi.

Lạnh nóng đến cũng không có gì để nhận biết,

Một phân cũng không can dự đến ông già này.

Trong lòng ta không thiếu cũng không thừa,

Phật là không, người cũng là không.

Cảnh thu xa ở ngoài trời xa,

Mây khóa non xanh mặc cái trò đô lỗ)

Ở những bài thơ khác, Trần Thánh Tông bàn trực diện về từng phương diện nội dung trong cốt lõi tư tưởng Phật giáo. Đó là các tương quan, đối sánh về tính năng vi diệu của chân tâm, sự giác ngộ và mức độ an nhiên tự tại trước lẽ sinh tử:

Sinh như trước sam,

Tử như thoát khổ.

Tự cổ cập kim,

Cánh vô dị lộ.

(Sinh tử)

(Sống như mặc áo vào,

Chết như trút bỏ quần ra.

Từ xưa tới nay,

Không có con đường nào khác)...

(Sống và chết)

Về hình thức nghệ thuật, bước đầu Trần Thánh Tông đã sử dụng lối ngắt nhịp 3/4 thay vì nhịp 4/3 quen thuộc trong thơ Đường luật. Có thể coi đây là một sự sáng tạo, phá cách, thể nghiệm, cách tân về hình thức câu thơ một cách khó khăn, nhất là với thơ Đường luật truyền thống vốn có tính qui phạm chặt chẽ. Đơn cử cách ngắt câu trong bài Hạnh Thiên Trường hành cung (Chơi hành cung Thiên Trường):

Cảnh thanh u/ vật diệc thanh u,

Thập nhất tiên châu thử nhất châu.

Bách bộ sinh ca cầm bách thiệt,

Thiên hàng nô bộc quất thiên đầu.

Nguyệt vô sự/ chiếu nhân vô sự,

Thủy hữu thu/ hàm thiên hữu thu.

Tứ hải dĩ thanh trần dĩ tình,

Kim niên du thắng tích niên du.

(Cảnh thanh nhã, vật cũng thanh nhã,

Đây là một trong mười một châu thần tiên.

Trăm giọng chim là trăm bộ sáo đàn,

Nghìn ngọn quít là nghìn hàng tôi tớ.

Trăng nhàn hạ soi vẻ người nhàn hạ,

Nước mùa thu lồng cảnh trời mùa thu.

Bốn biển đã trong, bụi đã lắng,

Cuộc du chơi năm nay hơn hẳn năm xưa)

Trần Thánh Tông sống vào giai đoạn nhà Trần hưng thịnh, lập chiến công hiển hách qua ba lần đánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông. Bản thân Trần Thánh Tông vừa tham gia chính sự, trực tiếp cầm quân đánh giặc vừa sớm gián cách với trần thế, lui về làm Thái thượng hoàng và đi sâu nghiên cứu Phật giáo. Ông trở thành nhân vật tiêu biểu cho mẫu hình hoàng đế - thiền sư - thi sĩ, tạo đà cho Trần Nhân Tông giữ vai trò người khơi mở Thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử ngay vào thế hệ tiếp nối./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Tạo dựng bản sắc kiến trúc Hà Nội: Giữ hồn cốt Thủ đô, kiến tạo diện mạo cho tương lai
    Kiến trúc không chỉ định hình diện mạo đô thị mà còn lưu giữ ký ức, phản ánh bản sắc văn hóa và trình độ phát triển của mỗi thời đại. Đối với Hà Nội - thành phố ngàn năm văn hiến, việc kiến tạo những công trình mới hài hòa với không gian lịch sử, đồng thời phát huy vai trò của đội ngũ kiến trúc sư trong bảo tồn và sáng tạo, là yêu cầu quan trọng để xây dựng Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại", đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới.
  • [Video] “Khúc quân hành” năm 2026: Một thập kỷ bền bỉ lan toả nghĩa tình đền ơn đáp nghĩa
    Tiếp nối thành công của 9 lần trước, năm 2026, Chương trình "Khúc quân hành” lần thứ X do Tạp chí Người Hà Nội tổ chức, đã diễn ra từ ngày 18 đến 21/7 tại các xã Đông Khê, Trường Hà - tỉnh Cao Bằng và Thủ đô Hà Nội. Chương trình là hoạt động thiết thực kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); hướng tới 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026). Chương trình Khúc quân hành năm 2026 đánh dấu một thập kỷ vun đắp và lan tỏa truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” tốt đẹp của dân tộc.
  • Giải thưởng Victor Tardieu 2026: Tôn vinh và tiếp sức cho những tài năng mỹ thuật trẻ
    Chiều 25/7, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam tổ chức Lễ trao Giải thưởng Victor Tardieu 2026, vinh danh những sinh viên có tác phẩm tốt nghiệp xuất sắc. Ở mùa giải thứ hai, giải thưởng tiếp tục khẳng định vai trò là bệ phóng cho các tài năng mỹ thuật trẻ.
  • Hà Nội thí điểm mô hình tiêu dùng số và bảo trợ thương mại điện tử
    Đến năm 2028, thành phố phấn đấu kết nối 500 chủ thể, công khai 1.000 sản phẩm với ít nhất 80% có truy xuất nguồn gốc, đồng thời giải quyết hiệu quả các phản ánh và khiếu nại. Để thực hiện, Hà Nội xây dựng quy chế phối hợp liên ngành, tận dụng hạ tầng công nghệ sẵn có như ứng dụng iHanoi để mở "Gian hàng số Thủ đô" và giao Chi cục Quản lý thị trường làm đầu mối chống hàng giả...
  • Hà Nội sắp xếp lại mạng lưới trường cao đẳng, trung cấp và trung tâm GDNN-GDTX
    Hà Nội triển khai tái cấu trúc mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và đại học công lập nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng đào tạo và giữ ổn định tâm lý học sinh. Theo đó, 19 trường cao đẳng, trung cấp thành 8 trường cao đẳng và 2 trường trung cấp; hợp nhất 29 trung tâm GDNN-GDTX theo các cực phát triển địa lý thành 14 trung tâm; đồng thời giữ nguyên Trường Đại học Thủ đô Hà Nội để tập trung đầu tư phát triển. Toàn bộ công tác sắp xếp, sáp nhập được yêu cầu hoàn thành trước ngày 25/8/2026.
Đừng bỏ lỡ
  • Kiệt tác opera “La Traviata” của Ý chuẩn bị công chiếu tại Hà Nội
    Trong hai đêm 30 và 31/7/2026, Nhà hát Hồ Gươm, khán giả yêu nghệ thuật hàn lâm tại Hà Nội sẽ được hòa mình vào không gian âm nhạc đỉnh cao với sự xuất hiện của vở opera kinh điển “La Traviata”.
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Từ giai điệu "Hà Nội mùa thu" đến sức sống của một không gian văn hóa cộng đồng
    Trong không gian Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội), chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 26/7 không chỉ mang đến những giai điệu Jazz đặc sắc mà còn mở ra một cách cảm nhận mới về Hà Nội. Điểm nhấn của chương trình là ca khúc “Hà Nội mùa thu” của nhạc sĩ Vũ Thanh đã đưa hình ảnh Thủ đô hiện lên bằng vẻ đẹp tinh tế, giàu chiều sâu văn hóa, qua đó khẳng định vai trò của nghệ thuật trong việc kiến tạo không gian văn hóa cộng đồng và lan tỏa những giá trị bền vững của thành phố.
  • Phát động cuộc thi sáng tác thơ, âm nhạc, nhiếp ảnh hướng tới Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương
    Cuộc thi là cơ hội khuyến khích đội ngũ văn nghệ sĩ và các tầng lớp Nhân dân phát huy sáng tạo, tìm kiếm những nhân tố mới nhằm bổ sung nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của tỉnh.
  • Đặc sắc chương trình nghệ thuật Bún Bò Huế “Huyền tích Vân Cù và bản giao hưởng Hương Ngự”
    Các nghệ nhân, đầu bếp và chuyên gia ẩm thực đến từ 3 miền Bắc - Trung – Nam chế biến 300 tô Bún bò Huế cùng một lúc theo quy trình truyền thống đã lập Kỷ lục Việt Nam.
  • Phát động Cuộc thi "Sáng tạo IP văn hóa từ di sản Phở Hà Nội"
    Cuộc thi "Sáng tạo IP văn hóa từ di sản Phở Hà Nội" đánh dấu bước chuyển mình trong cách tiếp cận di sản, giúp lan tỏa các giá trị truyền thống, kích cầu du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa. Đồng thời, đây cũng là khởi đầu quan trọng giúp thành phố chuẩn bị các nguồn lực tư liệu cần thiết, phục vụ thành phố xây dựng hồ sơ khoa học trình UNESCO ghi danh Phở.
  • Để ký ức Hà Nội ngân lên trong những giai điệu cuối tuần
    Có những ca khúc đã vượt qua giới hạn của thời gian để trở thành một phần ký ức của thành phố. Mỗi lần giai điệu ấy cất lên, Hà Nội như hiện diện gần hơn trong cảm nhận của người nghe. Chiều 26/7, chương trình "Âm nhạc cuối tuần" tại Nhà Bát Giác sẽ đưa công chúng bước vào hành trình âm nhạc nơi những bản tình ca về Hà Nội gặp gỡ tinh thần jazz thế giới, góp thêm một sắc màu cho đời sống văn hóa của Thủ đô.
  • “Nét duyên Chèo Hà thành”: Từng bước hình thành những sản phẩm văn hóa đặc trưng của Thủ đô
    Tối 24/7, tại Rạp Đại Nam, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội ra mắt Chương trình nghệ thuật “Nét duyên Chèo Hà thành” do Nhà hát Chèo Hà Nội thực hiện.
  • Công bố Lễ hội Di sản và Âm nhạc Quốc tế Huế - Huế Wonderverse Music Fest 2026
    Lễ hội Di sản và Âm nhạc Quốc tế Huế - Huế Wonderverse Music Fest nhằm hiện thực hóa chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa của Chính phủ và định hướng xây dựng Huế trở thành Thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam.
  • Ca khúc “Hàng bia trắng”: Khi giai điệu hóa thành nén tâm nhang tri ân
    Kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7), nhạc sĩ Nguyễn Thành Trung vừa ra mắt ca khúc “Hàng bia trắng”. Tác phẩm vừa được giới thiệu trong chương trình nghệ thuật chính luận “Một thời hoa lửa” do Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với các đơn vị tổ chức tại Hà Nội tối 22/7. Qua chất giọng giàu nội lực và cảm xúc của Quán quân Sao Mai 2017 Thu Thủy cùng tiếng cello của nghệ sĩ Thiên Nga, tiếng guitar của nghệ sĩ Thanh Tùng, ca khúc đã góp phần lan tỏa thông điệp tri ân sâu sắc.
Trần Thánh Tông – hoàng đế đánh giặc và tu thiền
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO