Đáp án cho bài toán phát triển công nghiệp xuất bản trong kỷ nguyên số
Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển công nghiệp văn hóa theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, ngành xuất bản nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển mới, đồng thời cũng đối mặt với không ít thách thức mang tính cấu trúc.
Theo đánh giá của TS Phạm Thị Liên (Học viện Báo chí và Tuyên truyền), ngành xuất bản đang có nhiều cơ hội để phát triển trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nổi bật là sự phát triển nhanh của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra khả năng tái cấu trúc toàn diện hoạt động xuất bản, từ biên tập, sản xuất đến phát hành và khai thác nội dung.

AI góp phần nâng cao năng suất lao động, cá nhân hóa nội dung, mở rộng thị trường và thúc đẩy hình thành chuỗi giá trị nội dung số, tạo điều kiện để ngành xuất bản từng bước chuyển dịch sang mô hình công nghiệp sáng tạo hiện đại. Đồng thời, xu hướng phát triển của thương mại điện tử, kinh tế số và xã hội học tập cũng làm gia tăng nhu cầu tiêu thụ tri thức, tạo dư địa lớn cho thị trường xuất bản phát triển.
Tuy nhiên, ngành xuất bản cũng đang đối mặt với nhiều thách thức. Trước hết là về nguồn lực (công nghệ, tài chính, nhân lực, hạ tầng dữ liệu), đặc biệt ở các NXB quy mô nhỏ, khiến quá trình chuyển đổi số và ứng dụng AI còn chậm và thiếu đồng bộ. Cùng đó, quá trình tinh gọn bộ máy, phân cấp quản lý và điều chỉnh địa giới hành chính đang đặt ra yêu cầu điều chỉnh phương thức quản lý nhà nước đối với ngành xuất bản, ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của toàn hệ thống.
Sự phát triển nhanh của công nghệ đòi hỏi đầu tư lớn, trong khi nhiều NXB vẫn phụ thuộc vào liên kết, liên doanh, chưa làm chủ được công nghệ cốt lõi. Ngoài ra, năng lực cạnh tranh của các đơn vị xuất bản còn hạn chế, thiếu sự liên kết trong phát triển thị trường, đặc biệt là thương mại điện tử và xuất khẩu xuất bản phẩm. Việc thiếu các đầu mối trung gian kết nối với thị trường khu vực và quốc tế cũng làm giảm khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp nội dung.
Phát triển công nghiệp xuất bản trong kỷ nguyên số theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW ra sao?
TS. Phạm Thị Liên phân tích thêm, những cơ hội và thách thức đan xen kể trên cho thấy ngành xuất bản Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải chuyển đổi mạnh mẽ về tư duy, mô hình phát triển và phương thức hoạt động nhằm thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Để ngành công nghiệp xuất bản trở thành động lực cho phát triển công nghiệp văn hóa và từng bước hiện thực hóa mục tiêu đề ra đến năm 2030 tăng trưởng doanh thu hằng năm đạt 4,5% - 5%; tỷ lệ bản sách/người đạt 6 - 6,5 bản/người; xuất bản phẩm điện tử chiếm khoảng 20 - 30% số đầu sách; Việt Nam trong nhóm 3 nước có ngành xuất bản phát triển, nhóm 4 nước có ngành công nghiệp in phát triển trong khu vực Đông Nam Á, chúng ta cần triển khai các nhóm giải pháp trọng tâm.
Trước hết là hoàn thiện thể chế, chính sách theo hướng kiến tạo phát triển ngành công nghiệp sáng tạo nội dung. Cần tiếp tục cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới”, nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, phù hợp với thực tiễn phát triển, đặc biệt là yêu cầu quản lý và phát triển xuất bản số. Trọng tâm là xây dựng và sửa đổi Luật Xuất bản, cùng các nghị định, thông tư liên quan nhằm tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thể chế.

Đồng thời, cần thiết kế các chính sách hỗ trợ phát triển xuất bản số, bảo vệ bản quyền và xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh thông qua tăng cường phòng, chống in lậu, xâm phạm bản quyền; mở rộng cơ chế phối hợp liên ngành và gắn trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan, địa phương. Bên cạnh đó, cần xây dựng các cơ chế ưu đãi đặc thù để thu hút đầu tư, khuyến khích đổi mới sáng tạo và phát triển các mô hình kinh doanh mới trong ngành xuất bản.
Bên cạnh đó, chúng ta cần đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển hạ tầng và ứng dụng công nghệ chiến lược. Ngành xuất bản đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ của Cách mạng công nghiệp 4.0 như AI, Big Data, Cloud, Blockchain… trong toàn bộ chuỗi giá trị. Trọng tâm là xây dựng và hoàn thiện hạ tầng số ngành xuất bản, bao gồm cơ sở dữ liệu dùng chung, nền tảng xuất bản số và hệ thống phân phối số hiện đại.
Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng AI vào các khâu có tính quyết định như lựa chọn đề tài, phân tích nhu cầu thị trường, cá nhân hóa nội dung và tối ưu hóa phát hành. Cùng với đó, cần đổi mới mạnh mẽ phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả kinh tế gắn với nhiệm vụ chính trị, đồng thời kiểm soát hiệu quả các rủi ro liên quan đến bản quyền số, tính xác thực của nội dung và an toàn dữ liệu người dùng.
Trên tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ-TW, để phát triển công nghiệp xuất bản trong kỷ nguyên số thì việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, theo hướng liên ngành và thích ứng công nghệ cũng cần được chú trọng. Chúng ta cần tập trung đào tạo đội ngũ biên tập viên số, nhân lực liên ngành có khả năng kết hợp giữa xuất bản - công nghệ - dữ liệu; chú trọng nâng cao kỹ năng công nghệ, tư duy nội dung số và năng lực sáng tạo cho đội ngũ làm xuất bản, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Việc phát triển nguồn nhân lực cần gắn với định hướng của Nghị quyết số 80-NQ/TW là đặt con người vào vị trí trung tâm của sáng tạo và thụ hưởng văn hóa, qua đó giải phóng tiềm năng sáng tạo trong toàn ngành.
Một trong những giải pháp không thể thiếu, đó là cần mở rộng thị trường và hình thành các mô hình kinh doanh dựa trên khai thác nội dung. Thị trường xuất bản trong giai đoạn tới không chỉ dừng ở tiêu thụ sách, mà chuyển dịch thành thị trường dịch vụ nội dung và tri thức. Điều này đòi hỏi các NXB phải chuyển từ mô hình kinh doanh đơn tuyến sang khai thác nội dung theo vòng đời dài và đa nền tảng. Tập trung phát triển thị trường theo hướng hiện đại, đa dạng hóa sản phẩm như sách điện tử, sách nói, nền tảng đọc trả phí (subscription) và các sản phẩm nội dung đa phương tiện, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản nội dung và khả năng tạo doanh thu.
Song song đó, cần tăng cường xuất khẩu xuất bản phẩm, hỗ trợ dịch thuật và quảng bá sách Việt Nam ra nước ngoài, góp phần xây dựng thương hiệu quốc gia và gia tăng sức mạnh mềm văn hóa. Việc phát triển thị trường cần gắn với mở rộng hợp tác quốc tế, hình thành các đầu mối kết nối giữa doanh nghiệp xuất bản trong nước với thị trường khu vực và toàn cầu.
Chúng ta cũng phải tăng cường liên kết hệ sinh thái và phát huy vai trò trong công nghiệp văn hóa. Sự phát triển của ngành công nghiệp xuất bản cần được đặt trong tổng thể phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, tăng cường liên kết với các lĩnh vực khác như truyền thông, điện ảnh, âm nhạc, giáo dục và công nghệ để khai thác tối đa giá trị nội dung.

Đồng thời, phát huy vai trò của xuất bản trong tuyên truyền, giáo dục, xây dựng hệ giá trị quốc gia và con người Việt Nam, gắn với bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong môi trường số. Việc phát triển cần hướng tới xây dựng các chuỗi liên kết và mô hình hợp tác công - tư, từng bước hình thành các tổ hợp sáng tạo và doanh nghiệp nội dung có năng lực cạnh tranh cao có tầm cỡ quốc gia và quốc tế.
Nhóm giải pháp cuối cùng chính là phát triển chuỗi giá trị nội dung nhằm gia tăng hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất bản. Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển công nghiệp văn hóa, chúng ta cần chuyển mạnh từ tư duy sản phẩm đơn lẻ sang tư duy tài sản nội dung và chuỗi giá trị nội dung, coi nội dung xuất bản là nguồn lực cốt lõi có thể khai thác đa giá trị. Theo đó, trọng tâm là hoàn thiện cơ chế quản trị và khai thác quyền sở hữu trí tuệ theo hướng chuyên nghiệp, bảo đảm kiểm soát, phân phối và thương mại hóa nội dung một cách hiệu quả.
Trên cơ sở này, đẩy mạnh phát triển các hình thức khai thác gia tăng như phiên bản đặc biệt, phiên bản giới hạn, sản phẩm phái sinh…, nhằm nâng cao giá trị kinh tế của xuất bản phẩm. Qua đó, từng bước hình thành các mô hình kinh doanh dựa trên tài sản nội dung, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành xuất bản trong bối cảnh chuyển đổi số./.