Lý luận - Phê bình

Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!

PGS.TS Nguyễn Thanh Tú 15:44 02/06/2026

Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.

img_6670.jpg

Nếu quan niệm tiểu thuyết là sự dở dang, luôn ở thì không hoàn thành, thì Măng là nhân vật đích thực của tiểu thuyết, tựa như một dòng chảy phức tạp khó đoán định. Xét từ góc độ cấu trúc biểu tượng, nhân vật chính lại là dòng sông, cũng là “người” chứng kiến những sự kiện chính của làng. Dòng sông hay dòng đời, đời sông hay đời người? Dòng sông tiểu thuyết là một mã nghệ thuật lưỡng tính, đa nghĩa, lấp lóa, phát ánh sáng bởi sóng vỗ nhưng âm thầm dữ dội những xoáy cuộn ở phía đáy. Tác phẩm là một sự thách thức về nghĩa, về triết lý nhân sinh, về luật nhân quả… Nhìn từ triết học liên văn hóa (intercultural philosophy), đó là nơi gặp gỡ, hội tụ, khúc xạ, tiếp biến nhiều luồng văn hóa Nho, Phật, Lão, tư tưởng minh triết dân gian hôm qua và hôm nay. Ngôi làng ấy toát ra bao ý nghĩa mời gọi, phản biện, cự tuyệt... Đây là cách kể hiện đại, nhà văn phải vượt qua thách thức mọi giới hạn để có một câu chuyện đáng được kể ra.

Tính khác biệt nổi bật của tiểu thuyết là xây dựng những nhân vật lưỡng tính, từ ngoại hình đến hành động, tâm lý, tính cách đa tạp, tốt xấu đan xen. Không chỉ vậy, đó còn là những đầu mút của tính cách: cực xấu và cực tốt, cực thật thà và cực nóng nảy, rất mực yêu thương nhưng cũng sẵn sàng tận cùng tội lỗi… Chất lưỡng tính có ngay cả trong ngoại hình nhân vật chính (Măng). Khi trở về làng cũ, Măng đã 60 tuổi: “Vị khách (…), có dáng người cân đối. Trang phục đẹp, sang trọng. Từng bước đi cũng khoan thai, đĩnh đạc, đàng hoàng. Các động tác, cử chỉ, ăn nói, thưa gửi cũng nhã nhặn, luôn toát ra vẻ quyền uy nhưng cũng rất văn hóa của người có học. Chỉ có điều, trên khuôn mặt vị khách, đuôi lông mày sếch, vểnh ngược lên trên. Tròng mắt vẻ ngoài có vẻ hiền hiền nhưng chủ quán có cảm giác từ đó toát ra một sức mạnh, một ý chí, bản chất của sự lì lợm và hung hãn. Có thể ở người này, yêu thương sẽ tột cùng của yêu thương. Còn khi căm giận, sẽ là tột cùng của sự căm giận. Trạng thái tâm lý luôn ở cực điểm của tốt và xấu, thiện lành và gian ác, tử tế và khốn nạn. Ở người này không có sự trung dung giữa hai cực trạng thái tâm lý điển hình ấy”.

Như bao mô hình ngôi làng Việt được đan dệt bởi huyền thoại, làng Nang gắn liền với huyền thoại về sông. Đất làng khi xưa nguyên là một hồ chứa nước của con sông Cả. Hồ rộng đến mức chèo thuyền từ bờ bên này sang bờ bên kia phải mất một tuần trăng. Xung quanh hồ có những cây hoa rất lạ, mỗi bông hoa mang hình dáng một người con gái. Đêm mùa hè, những bông hoa sà xuống mặt hồ nô giỡn, đùa nghịch. Từ trong rừng, các hoàng tử cưỡi trên lưng những con ngựa trắng. Tiếng lục lạc treo trên cổ ngựa, tiếng huýt sáo như đệm cho tiếng hát của các bông hoa tiên… Nhưng một trận cuồng phong cuốn phăng đi tất cả. Thì ra những bông hoa ấy chính là các tiên nữ trốn vua cha Ngọc Hoàng xuống trần gian để chơi, quên lời cha dặn. Ngọc Hoàng nổi giận, hóa phép làm một cồn nổi ở giữa hồ để xóa dấu vết. Cồn nổi là làng Nang ngày nay. Nếu huyền thoại cắt nghĩa hiện tại thì câu chuyện ấy cắt nghĩa ngôi làng Nang trầm tích trong nó sự biến cải tuyệt đối “vũng nên đồi”, rất mực hiền hòa nhưng rất mực ngang trái.

Lại có huyền thoại kể làng xưa là một cồn nổi ngoài biển. Hàng năm để mưa thuận gió hòa, một làng trên đỉnh núi Tản có tục phải hiến tế thần sông một cô gái đẹp. Năm đó làng chọn người yêu của chàng trai nọ. Không chống nổi lệ làng, chàng bỏ làng đi, vào rừng chặt cây làm bè trôi xuôi sông Đà ra biển. Chiếc bè dạt vào cồn nổi, chàng phát cây làm ruộng, dựng lều. Một đêm, chàng cứu được người con gái dạt vào bờ… Họ thành vợ chồng. Thời gian trôi, con sông Cả mang phù sa về bồi đắp, cồn nổi thành một phần của đất liền… Còn nhiều huyền thoại khác lóng lánh sắc màu ma quái, liêu trai, có chuyện cực kỳ lãng mạn, có chuyện cực kỳ bạo liệt… Tất cả đều nhắm về cái ý lý giải người dân làng Nang hiện tại thế này là do có một quá khứ như vậy, tức mang chất nhân quả Phật giáo.

Tiểu thuyết dành nhiều trang miêu tả tập quán sinh hoạt nơi sông nước của dân làng Nang với kế sinh nhai chủ yếu là bắt tôm cá. Họ quen thuộc với những búi dấp cá là những bó chà rào đem dựng chỗ sông sâu rồi cắm cọc tre quây lại. Mỗi búi rấp cá rộng bằng ba bốn cái chiếu đôi để dụ cá sông rúc vào làm tổ. Các bó chà rào đã có hà bám thường có mùi tanh nên cá thích đến nhất. Trẻ con quen thuộc với những chùm lưỡi câu thép hơn là với ngòi bút sắt. Sợi dây câu được kéo từ bờ bên này sang bờ bên kia… Thiên về nghề sông nên đất đồng làng bỏ hoang. Năn, lác, lau, sậy mọc tốt thành rừng. Đêm đêm tiếng chim tranh tổ, tiếng chuột đánh nhau, tiếng cú rúc, tiếng bầy dơi đi ăn đêm tạo ra một bản tổng phổ âm thanh đồng quê vừa lạnh lẽo, buồn bã vừa có gì đấy như đang cựa quậy, sinh sôi. Cũng không thiếu những cảnh lãng mạn như: đàn cò trắng chấp chới vẽ những hình đầy thi vị trên bầu trời; chim bồ nông vạc cánh dài cả sải tay sà xuống bắt mồi, tiếng đập gió bạt cỏ, rẽ đất… Tất nhiên, có nhiều tập quán của những loài cá sông được miêu tả sinh động, hấp dẫn, lạ lẫm. Như loại cá lẹp nhỏ đi kiếm ăn lúc mưa, còn lũ cá to thấy mưa thường trốn vào hang hốc. Vì nước mưa xuống làm chúng xót mắt. Khi nắng hửng, chúng mới ra kiếm mồi, là lúc để buông lưới, thả câu...

Xét kỹ, sáng tạo văn chương là công việc kiến tạo những mô hình đời sống. Mô hình đời sông cũng chính là mô hình đời người. Con sông hiền hòa, dịu êm nhưng chứa trong nó bao điều bí mật, dữ dội. Dân sông nước cũng vậy, vẻ ngoài hiền lành, chỉ biết làm điều thiện, nhưng một khi để cái ác trỗi dậy, cái ác sẽ là tận cùng. Những triết lý ấy lại được một nhân vật gần như thất học, suốt đời chịu cảnh cam chịu, nhẫn nhục là bà Tèo “ngộ” ra một cách minh triết, chân xác nhất.

Cốt truyện của “Đời sông” chảy theo dòng chảy sự kiện về ba nhân vật bà Tèo, ông Được, và Măng. Huyền thoại dân gian về vị thần cứu người con gái rồi họ gá nghĩa với nhau được ánh xạ vào câu chuyện có thật giữa ông Được và bà Tèo. Cô thanh nữ yêu anh Vược có thai rồi bị phụ tình thành gái chửa hoang. Chửa hoang thì phải thả bè trôi sông. May mắn hay không may mắn mà anh chàng ngư dân tên Được cứu người sắp chết ấy rồi họ gá nghĩa cùng nhau. Thằng Măng được sinh ra nhưng không phải con đẻ, Được biết thế. Bao buồn phiền anh ta gửi vào rượu và dồn nỗi hận vào bà Tèo. Được vũ phu bao nhiêu thì lại thật thà bấy nhiêu, cũng đến tận cùng. Với lão, “thành công nhất cuộc đời chính là tự dối được chính mình. Tự lừa dối được chính mình, mới mong, lừa dối được người”. Nhưng cả đời lão chưa bao giờ trái ý mình nên với người, lão “thẳng ruột ngựa”. Như một nghịch lý, ba con người là ba thế giới khác biệt ấy lại dồn tụ vào không gian hẹp nhất để tồn tại là cái nhà thuyền đánh cá nhỏ bé. Cũng trớ trêu, ông Vược, bố đẻ thằng Măng giờ lại cùng cảnh sông nước, mỗi lần gặp là bà Tèo lại cố quên đi quá khứ. Nhưng càng quên, những kỷ niệm xưa cứ hiện về. Thằng Măng lớn lên trong nhà thuyền nhưng hồn nó hướng về bờ bãi, nơi có bạn bè nó và dân làng Nang…

Một cách kể nhập vai khá nhuyễn, vừa có tâm trạng, suy nghĩ, cái nhìn nhân vật, vừa mang quan điểm của người kể thứ ba biết hết. Câu chuyện mang màu sắc luận đề về sự báo ứng, về ứng xử: “Lòng sông rộng, hẹp vẫn đo được chỗ nông, chỗ sâu, có thể dò, chứ lòng người, không biết đâu mà lần. Con người với con người, trong cuộc sống, khi để lòng thù hận nẩy mầm, ăn sâu bám rễ, nó đeo đẳng, hành hạ không thể quên… Tội ác bắt nguồn từ chính cái ác đã gieo”. Hầu như mọi sự kiện, hiện tượng đều mang tính đa nguyên, được nhìn từ nhiều phía, nhiều người, khách quan, kết luận dành cho bạn đọc. Lý luận tiểu thuyết gọi đó là lối kể dân chủ, bình đẳng, trao quyền phân tích, đánh giá cho nhân vật và độc giả.

Hẳn nhiên tiểu thuyết dành nhiều nhất số trang cho nhân vật chính - Măng. Khi ở tuổi dậy thì, trong người phập phồng lớn lên cái dục tính của chàng trai đầy khát khao giới tính, được “nhìn thấy đầy đủ nhất cơ thể của một người đàn bà”. Cậu ta đem theo cái nhìn ấy đi suốt đời mình. Sau này trở thành một “trùm xã hội đen” nhưng trong sâu thẳm con người ấy vẫn sâu đậm cái thiên tính cần cù, chân chất, hiền lành của một ngư dân làng Nang.

Câu chuyện dừng lại khi Măng - một kẻ bị truy nã đi ra khỏi làng, cũng là đi ra khỏi những kỷ niệm thời trai trẻ. Còn về sau, bạn đọc hãy thử đoán xem… Người viết bài này tin rằng, sẽ có rất nhiều cách tưởng tượng thú vị khác nhau về quãng đời còn lại của một con người phức tạp, cũng là con cá măng lớn nhất của lão Được suốt đời đi săn mà chưa bắt được!

Bài liên quan
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
(0) Bình luận
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Chính sách đặc thù tạo động lực cho đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tạo, cống hiến
    Tại kỳ họp thứ 4, HĐND thành phố, đa số đại biểu đã nhất trí tán thành, thông qua Nghị quyết quy định một số nội dung, mức chi trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật của thành phố Hà Nội. Theo Nghị quyết, việc ban hành cơ chế, chính sách đặc thù này sẽ kịp thời tháo gỡ các nút thắt về thể chế, tạo động lực mạnh mẽ khuyến khích đội ngũ nghệ sĩ sáng tạo, cống hiến, thu hút các chuyên gia uy tín, nâng cao chất lượng nghệ thuật chuyên nghiệp và thúc đẩy ngành công nghiệp văn hóa của Thủ đô phát triển hội nhập sâu
  • [Podcast] Chè nhãn lồng hạt sen - thức quà gói trọn hương mùa hạ Hà thành
    Hà Nội những ngày hè tháng Năm, tháng Sáu, cùng với nắng vàng, hương sen bách diệp từ đầm Tây Hồ cũng theo gió len lỏi vào từng ngõ nhỏ, báo hiệu một thức quà thanh nhã đã đến. Người Hà Nội vốn cầu kỳ trong chuyện ăn uống. Từ những nguyên liệu quen thuộc như hạt sen, nhãn lồng, đường phèn hay vài cánh hoa nhài, các bà các mẹ Hà thành xưa đã tạo nên món chè nhãn lồng bao sen - thức quà từng xuất hiện trong những dịp lễ, ngày rằm hay những buổi tiếp khách. Bát chè trong veo, ngọt thanh, ngan ngát hương sen ấy đến nay vẫn được xem như một biểu tượng của nét ẩm thực thanh lịch đất kinh kỳ.
  • Hà Nội thông qua cơ chế hỗ trợ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
    Ngày 15/6, tại kỳ họp thứ tư HĐND Thành phố Hà Nội đã thông qua Nghị quyết Quy định cơ chế, chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với di tích; khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử; công trình kiến trúc có giá trị trên địa bàn thành phố Hà Nội (thực hiện Điểm a, Khoản 1, Điều 15 Luật Thủ đô).
  • VinFast Feliz II ghi điểm với cả tài xế lẫn dân công sở: Chạy êm, đổi pin tiện, nuôi xe nhàn
    Khi người dùng vừa muốn có một phương tiện vận hành vượt trội, vừa tiết kiệm, VinFast Feliz II là mẫu xe đáp ứng trọn vẹn cả hai yêu cầu tưởng chừng trái ngược này.
  • Đình làng Văn Uyên - Nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa và dấu ấn Đức Thánh Nguyễn Siêu
    Nằm bên dòng sông Hồng, đình làng Văn Uyên (nay thuộc xã Nam Phù, TP. Hà Nội) là nơi nhân dân địa phương thờ Đức Thánh Nguyễn Siêu làm Thành hoàng làng. Trải qua nhiều thế hệ, ngôi đình không chỉ là không gian sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng dân cư mà còn lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa.
Đừng bỏ lỡ
Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO