Lý luận - phê bình

Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”

Võ Thị Như Mai 08:30 09/01/2026

Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.

Ông viết bằng giọng trữ tình sâu lắng, có khi như thì thầm tâm sự trong “Ngõ - vết rạn tim tôi”, có khi ngân vang hào sảng trong khúc ca quê hương đất nước: “Đất nước này đâu chỉ có bình yên/ Và nếu có chỉ là trong chốc lát/ Người dẫm bùn chỉ hở hai tròng mắt/ Lúa ngậm đòng xao xác ngợp sóng chao/ Mùa thất bát cơ chừng trông thấy được/ Càng hiểu câu “Lá lành đùm lá rách”/ Những phận người ơi sao cơ cực thế này/ Trời đã quang mây nắng rựng lên rồi/ Sương khói buông chiều bản làng xa xôi/ Màu mạ thoáng xanh ấm trong mắt trẻ/ Ríu rít ngả đường chân người đến chợ/ Cuộc sống hồi sinh như tự hồi sinh/ Nếp nhà cất dựng cây tự lên xanh/ Và trán mẹ già tươi giãn những nếp nhăn (Bình yên cho mỗi căn nhà).

bia-sach-1.jpg

Thơ Nguyễn Thanh Kim không cầu kỳ câu chữ mà đi vào lòng người nhờ sự chân thành và độ lắng của trải nghiệm. Mỗi bài là một lát cắt đời sống, từ “Chợt rét đầu mùa” với nỗi nhớ mong da diết: “Rét về đầu ngõ. Lạnh thấm da/ Anh nơi nao cậy nhờ hơi ấm/ Nhành xoan tím bếp lửa chao đêm lạnh/ Bếp lửa nhắc hoài rằng anh đương xa” đến “Nguyện cầu” chan chứa tình mẫu tử: “Biết rằng mùa lá rụng/ Tuổi mẹ đã qua rồi/ Có đất trời làm chứng/ Xuân này nhớ mẹ tôi/ Cây bưởi hoa ngát hương/ Nhành nhú thêm lộc nõn/ Ngày con về giỗ mẹ/ Mẹ linh thiêng giờ đâu?”. Rồi “Long Biên mấy nhịp” khơi lại ký ức chiến tranh, gợi tự hào xen xót xa: “Cớ chi rồng bay lay thảm biếc/ Nhớ em anh đợi phía rời ga/ Sông Hồng mùa lặng sau rặng khuất/ Sóng khỏa chân cầu lựng phù sa/ Cớ chi rồng bay lay thảm biếc/ In giữa nền trời dáng kiêu sa/ Lửa bom thuở ấy không nghiêng được/ Kí ức Long Biên chẳng nét nhòa”.

Cái tôi trữ tình trong thơ ông vừa hướng nội chiêm nghiệm thân phận và tuổi tác, vừa hướng ngoại, gắn bó sâu nặng với cộng đồng và lịch sử dân tộc. Điều đáng quý là dù trải qua nhiều biến động, giọng thơ ông vẫn giữ được mạch xuân tươi mới, như trong “Hồi sinh”: “Thơ kỳ lạ thế, kỳ lạ thế/ Ta như trẻ nhỏ lúc hồi sinh”. Có lẽ, chính niềm tin vào sức sống của thơ ca, cùng tình yêu quê hương đất nước, đã làm nên bản sắc thơ Nguyễn Thanh Kim: đằm thắm, giàu tình người và luôn chuyển động theo nhịp điệu đời sống.

Đi sâu vào nghệ thuật thơ Nguyễn Thanh Kim, có thể thấy rõ ông là người chuộng sự giản dị nhưng giàu sức gợi. Hình ảnh quen thuộc của quê hương và đời sống thường nhật được kết tinh thành biểu tượng thơ: hoa xoan, hoa gạo, nhành đào, sông Cầu, sông Hồng, Long Biên… không chỉ là cảnh sắc, mà còn là những “dấu chỉ ký ức”, gắn với nhịp sống và tâm trạng con người. Ông thường tạo dựng thi ảnh bằng lối song đôi giữa hiện thực và cảm xúc, khiến cảnh và tình quyện vào nhau, như trong “Vẫn màu hoa xoan ấy”: “Dẫu đi xa mai mốt thức về làng/ Chùm hoa nở giấc mơ nỗi sầu đông/ Rét chớm qua ủ ấm mùa hoa rộ/ Cho tóc em giăng níu với sương giăng/ Dẫu cách biệt ngóng hoài màu hoa ấy/ Tim khôn nguôi bảng lảng đến nao lòng/ Rặng xoan biếc chạnh niềm quê khắc khoải/ Mắt em nhìn xao động cả tầng không” hay trong “Hoa gạo bóng làng”: “Hoa gạo đỏ trời tháng ba/ Chim sáo về đậu la đà ngọn cây/ Đường đê dọc bến cỏ may/ Có vầng mây lửa dâng đầy lòng ta/ Nẻo quê nào kể đâu xa/ Ngước trông côĩ gạo thiết tha bóng làng/ Hồn quê thuở ấy đa mang/ Có người em gái rỡ ràng nhặt hoa” khiến thiên nhiên trở thành chiếc gương phản chiếu tâm hồn, khơi dậy khát vọng và nỗi nhớ.

Giọng điệu thơ Nguyễn Thanh Kim đa dạng: khi tha thiết trữ tình, khi triết luận sâu lắng, lúc mạnh mẽ ngân vang trong những trang viết về chiến tranh và lịch sử. Chính sự đan xen ấy giúp thơ ông không khô cứng mà giàu tính đối thoại giữa cá nhân và cộng đồng. Đặc biệt trong nhiều bài, ông cũng sử dụng nhạc điệu linh hoạt, có khi nhịp ngắn, dồn dập như tiếng gọi khẩn thiết (Sững, Luyến đợi); có khi ngân nga, khoan thai như điệu ru:“ Trước nhà dùng dắng ngõ trưa/ Bóng em đi sớm về trưa mơ mòng/ Rặng xoan hoa tím bập bùng/ Ngó trông khói bếp rưng rưng ngoài vườn/ Có gì nhớ có gì thương/ Có chi vấn vít mà lương vương hoài/ Tạnh cơn mưa ấy hoai hoai/ Ruộng ải men đất thơm ngoài đồng ta” (Khói bếp). Cái đẹp của thơ ông là vẻ đẹp trong trẻo, không cầu kỳ gọt giũa nhưng đằm thắm, có độ ngân lâu, để từ đó, ta nghe được tiếng thì thầm của thời gian, ký ức và trái tim thi sĩ luôn hướng về sự sống và tình người.

Giá trị nhân văn trong thơ Nguyễn Thanh Kim hiện lên rõ ở cách ông luôn hướng thơ ca về phía ánh sáng của sự sống, của niềm tin và lòng nhân ái. Dù viết về chiến tranh, mất mát hay những cơn bão lũ khắc nghiệt, giọng thơ ông không rơi vào bi lụy mà vẫn giữ tinh thần sẻ chia, khơi dậy sức mạnh tình người (Bình yên cho mỗi căn nhà). Trong những bài thơ về mẹ, về quê hương, ông gieo vào lòng người đọc nỗi nhớ thương sâu nặng, đồng thời khẳng định giá trị bền lâu của gia đình và cội nguồn (“Nguyện cầu”, “Nhớ mẹ”). Thơ ông giàu tính triết lý, là những chiêm nghiệm kết tinh từ trải nghiệm: sự ngắn ngủi của đời người, nỗi chênh vênh của kiếp người và khát vọng tìm kiếm bình yên: “Đi qua cuộc đời nẻo khuất/ Biết bao lầy thụt dòng đời/ Ngang trái thường tình ta gặp/ Biết bao kiếp nạn nổi trôi/ Ta lưu thiên đường đã mất/ Ta yên phận người lưu đầy/ Ta nối cuộc người chia cắt/ Thức ròng cho những vẫn xoay” (Ta). Từ đó, thơ Nguyễn Thanh Kim như một lời nhắc: hãy trân trọng từng mùa, từng khoảnh khắc, từng con người đi ngang đời ta bởi tất cả đều là “nhịp xuân” - nhịp điệu vĩnh hằng của tình yêu, ký ức và sự sống. Chính tinh thần nhân văn ấy tạo nên sức lay động của thơ ông: không chỉ để đọc, mà để chiêm nghiệm và sống cùng./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
  • Ngô Thanh Vân, vẻ đẹp kỳ diệu của nỗi buồn
    Người xưa rất coi trọng phần nội tâm (tình) trong thơ. Không có văn bản văn học nào thể hiện cái tôi cá nhân rõ như thơ. Nói như nhà văn Trịnh Bích Ngân: “Thơ không chịu được sự che đậy... Dũng cảm phơi bày. Chân thành phơi bày”.
  • Thao thức với phần đời chiến trận
    Có thể nói cuộc kháng chiến trường kỳ hào hùng và bi tráng của dân tộc, ở bất kỳ trạng huống nào dường như đã chi phối và tạo động lực cho đội ngũ văn nghệ sĩ, những người cầm bút suy nghĩ và sáng tạo. Ta hiểu vì sao ngay trong cuộc sống thời bình, trong đời sống dân sự, những hình ảnh của ngày hôm qua vẫn khiến con người luôn “thao thức với phần đời chiến trận”.
  • Phát huy vai trò của văn nghệ sĩ Thủ đô trong phát triển công nghiệp văn hóa
    Hà Nội - Thủ đô tự nhiên của lưu vực sông Hồng, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước từ ngàn xưa đã là nơi hội tụ và đào luyện nhân tài. Phần lớn danh nhân Việt Nam từng sống, làm việc, sáng tạo ở Thăng Long - Hà Nội, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc. Ở mảnh đất hội tụ tinh hoa văn hóa bốn phương ấy, con người Thăng Long mang trong mình nét tài hoa, đa tài, đa nghệ, thấm đẫm bản sắc trí tuệ và tinh thần sáng tạo. Trong đó, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ - những người sinh ra, lớn lên
  • Xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong bối cảnh hội nhập
    Xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng không chỉ là nhiệm vụ cấp thiết của các cấp, các ngành mà còn là sứ mệnh đặc biệt của đội ngũ văn nghệ sĩ Thủ đô. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, việc xác định rõ những trọng tâm trong xây dựng hệ giá trị văn hóa là hết sức cần thiết.
  • Những lưu dấu văn hóa về Hà Nội qua ngôn từ văn chương
    Ngay từ nền văn học Việt Nam trung đại, những trước tác về miền đất thiêng (đất thánh) Đông Đô - Thăng Long - Hà Nội đã được ghi khắc trong sử văn: “Chiếu dời đô” (thế kỷ XI) của Lý Công Uẩn, “Thượng kinh ký sự” (thế kỷ XVIII) của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, “Vũ trung tùy bút” (thế kỷ XIX) của Phạm Đình Hổ, “Long Thành cầm giả ca” (thế kỷ XIX) của Nguyễn Du, “Thăng Long thành hoài cổ” (thế kỷ XIX) của Bà Huyện Thanh Quan.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO