Lý luận - phê bình

Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn 16/03/2026 20:39

Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).

Cuộc đời và sự nghiệp văn chương Nam Cao từ đó đã trở thành biểu tượng của một vùng văn hóa, văn học, nghệ thuật; thành điểm đến trong tâm thức nhiều thế hệ độc giả cũng như du khách trong và ngoài nước.

anh-1.jpg
Nhà văn Nam Cao (Ảnh tư liệu).

Trên cả hai phương diện văn hóa du lịch và du lịch văn hóa, có thể nhận diện, khái quát các đặc điểm và nhấn mạnh thực thể biểu tượng “điểm đến” - địa điểm, địa danh, danh tích, danh thắng, danh nhân, danh tài, danh tộc Nam Cao - Vũ Đại - Cao Đà - Lý Nhân. Nói cách khác, đây là mối quan hệ giữa tiềm năng và hiện thực, giữa sản phẩm du lịch và du khách, giữa việc kiến tạo vị thế giá trị địa danh và khả năng hấp dẫn, lan tỏa bốn phương. Với trường hợp Nam Cao, quá trình tích hợp, kết tinh, chuyển tải và chuyển hóa các giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm qua các phương tiện truyền thông đã dần trở thành tiềm năng, tiềm lực và sản phẩm du lịch gắn với địa danh cụ thể. Đó cũng là sự tổng hợp những giá trị bắt nguồn từ chính quê sinh, từ tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp nhà văn, từ khả năng tái tạo hình ảnh cảnh quan, con người và đời sống quê hương trong tác phẩm.

Về phía độc giả, diễn ra khả năng tiếp nhận theo cách “ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”, khơi gợi hình dung, tưởng tượng về một không gian làng Vũ Đại với bến đò và “cái lò gạch cũ”, với nghề dệt vải, với ngôi nhà nguyên mẫu Bá Kiến thuở trước; với ngôi nhà, lối ngõ, nấm mộ và Nhà lưu niệm Nam Cao hôm nay; với những nhân vật Chí Phèo, Bá Kiến, lão Hạc, Tự Lãng, Thị Nở, Binh Chức, Dì Hảo, Lang Rận, Trạch Văn Đoành… - chủ nhân chốn làng quê một thời. Trên tư cách độc giả chuyển hóa thành chủ thể du khách “kép”, mỗi người có cách tiếp nhận riêng, khơi gợi sự hiếu kỳ và niềm trân trọng để mong ước một lần đến thăm quê hương nhà văn. Độc giả - du khách mong muốn “tận mục sở thị” để biết vì sao làng quê bình dị ấy đã sinh thành, nuôi dưỡng nên nhà văn Nam Cao, và cội nguồn những con người, cảnh vật kia đã được chuyển hóa như thế nào trong tác phẩm của ông.

Nam Cao sáng tác và chính tác phẩm đã làm nên tên tuổi Nam Cao, định vị vùng quê Nam Cao, đồng thời đưa quê hương ấy vào lịch sử văn học, vào bản đồ điểm đến của du khách và vào đối tượng nghiên cứu của du lịch học. Ngoài hệ thống nhân vật, cảnh quan quê hương trong văn Nam Cao cũng khơi gợi trí tưởng tượng và vẫy gọi du khách phương xa. Này đây là ấn tượng về cái lò gạch cũ hoang hoải đầu đồng cuối bãi trong “Chí Phèo”; khung cảnh một sớm quê thật quê, một anh Chí Phèo như thức, như tỉnh, như chiêm cảm, như quán chiếu, hay giây lát đốn ngộ thực tại sự sống của mọi chúng sinh: “Hắn sợ rượu cũng như những người ốm sợ cơm”; “Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy... Chao ôi là buồn!”…; này đây là cảnh đi tàu thủy, cập mạn đò, đò màn, “bến màn” (“Đi đứng chớ có vội vàng,/ Đứt dây đò màn rơi tõm xuống sống”) qua lời thầy hiệu trưởng trường tư khổ nói với nhà giáo văn sĩ Điền trong “Sống mòn”…

Từng trang văn gắn với cảnh quê, con người và đời sống như thế đã và đang tiếp tục cuốn hút độc giả – du khách bốn phương về với quê hương Nam Cao. Chính những trang văn ấy đã làm nên tên tuổi nhà văn, định hình quê hương xứ sở và thương hiệu cho một vùng văn hóa du lịch và du lịch văn hóa.

Bên cạnh sức sống nội tại của dòng chủ lưu tác phẩm Nam Cao đến với công chúng bạn đọc còn có những dòng tiếp nhận bồi đắp, mở rộng qua ký ức, hồi ức của người thân trong gia đình, làng xóm, bạn văn, giới nghiên cứu, phê bình và dịch thuật.

Trước hết là ký ức của những người thân thiết, gắn bó, ân tình, đồng cam cộng khổ như bà Trần Thị Sen - vợ nhà văn. Tiếp nối là những ghi chép, góp nhặt, đan kết tư liệu cũ mới của Trần Thị Hồng - con gái nhà văn (sinh năm 1938, khi cha mất đã 14 tuổi)…

Mở rộng hơn là tiếng nói giữa giới nhà văn. Chẳng hạn, Tô Hoài kể về tình bạn thắm thiết với Nam Cao, đã in báo từ những năm 1954-1956, trong đó có những quan sát, kiểm chứng, lý giải từ góc độ người cùng giới sáng tác, cùng thời, cùng trong sinh quyển văn hóa - xã hội giữa mùa thực dân, phong kiến: “Nhà anh là một nhà trung nông lép vế. Truyện Chí Phèo in ở Hà Nội, chính là cái chuyện anh Chí Phèo thật đã giết một tên tổng lý cường hào thật đã xảy ra mười mấy năm về trước ở làng anh; vì chuyện ấy mà cường hào dọa đánh và kiện anh, triệt đường anh về làng”... Những chi tiết này cũng được bà Trần Thị Sen cảm nhận, xác nhận, ghi nhận trong hồi ức.
Bên cạnh đó còn có nhiều trang viết của những người cùng thế hệ, cùng nghề nghiệp, bạn văn, bạn đời từng trực tiếp gặp gỡ, hiểu biết, góp phần làm sáng tỏ và tôn vinh chân dung nhà văn Nam Cao như Nguyên Hồng, Kim Lân, Như Phong, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Lê Văn Trương, Nguyễn Huy Tưởng, Chu Văn, Phạm Lê Văn…

toan-canh-khong-gian-phia-ngoai-cua-nha-tuong-niem-nha-van-dddd.jpg
Nhà lưu niệm nhà văn Nam Cao tại xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình.

Sau này, nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã dụng công điền dã, sưu tầm, kết nối tài liệu như Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Phong Lê, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Thang Ngọc Pho, Trần Quang Vinh, Đỗ Đình Thọ, Hoàng Cao… nhằm dựng lại chân dung Nam Cao cũng như mối quan hệ giữa cuộc đời và tác phẩm, đặc trưng sáng tạo và tâm lý sáng tạo văn học, vai trò tác giả, khả năng kiến tạo văn hóa văn học và du lịch vùng.

Theo một hướng tiếp nhận khác, tác phẩm Nam Cao được chuyển thể, chuyển đổi loại hình, tái cấu trúc thành phim như “Làng Vũ Đại ngày ấy” (1982) của đạo diễn Phạm Văn Khoa, chuyển thể từ ba tác phẩm “Sống mòn”, “Lão Hạc” và “Chí Phèo”; phim “Cậu Vàng” (2021) của đạo diễn Trần Vũ Thủy, chuyển thể từ truyện ngắn “Lão Hạc”; cùng nhiều phim tư liệu, hoạt hình, truyện tranh khác.
Nhà văn Kim Lân trong vai lão Hạc từng nhấn mạnh mối quan hệ giữa người đóng phim với nhân vật truyện và nhân vật phim, giữa hiệu ứng nhân vật và toàn cảnh phim với sự tiếp nhận của khán giả và đời sống xã hội: “Bây giờ ở đâu có những tay ba gai ba đồ sừng sỏ đầu gấu người ta gọi nó là thằng Chí Phèo, thậm chí có cả con Chí Phèo nữa, người ta tránh xa không muốn dây vào… Nhân vật của Nam Cao qua điện ảnh đã đi vào đời sống, đã thành những mẫu người của cuộc sống: Chí Phèo (Bùi Cường), Thị Nở (Đức Lưu), giáo Thứ (Hữu Mười), lão Hạc (Kim Lân). Những nhân vật ấy của Nam Cao thật sự vẫn đang sống giữa cuộc sống của đất nước mình ngày hôm nay”…

Khi được phiên diễn, tổng hợp, phổ cập và đại chúng hóa qua các ngành nghệ thuật khác, đặc biệt là điện ảnh, tên tuổi Nam Cao cùng tác phẩm và làng quê càng có sức lan tỏa như một phương thức quảng bá hữu hiệu cho du lịch. Tiếng vang tác phẩm, tên tuổi và quê hương Nam Cao như một điển hình vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ đã vươn tầm quốc gia và thời đại.

Trong điều kiện giao lưu văn hóa, văn học phát triển, nhiều học giả Việt Nam đã chú trọng nghiên cứu so sánh, đặt tác phẩm Nam Cao trong tương quan văn học thế giới. Có thể kể đến các công trình như Đào Tuấn Ảnh với “Tsekov và Nam Cao - một sáng tác hiện thực kiểu mới”; Phạm Tú Châu với “Đôi điều so sánh giữa Chí Phèo và AQ”; Trần Ngọc Dung với “Gặp gỡ giữa M. Gorki và Nam Cao” (1992)…

Mở rộng hơn, kể từ khi nhiều truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao được dịch ra các thứ tiếng Anh, Hàn, Nga, Nhật, Pháp, Trung…, tác phẩm của ông đã vươn tầm quốc tế, hội nhập nền học thuật khu vực Đông Á và thế giới hiện đại. Theo nhà Việt Nam học N.I. Niculin, các tác phẩm như “Đôi mắt” (1955), “Trăng sáng”, “Cười” (1962), “Chí Phèo” (1963) từng được xuất bản tại Liên Xô trong “Tủ sách văn học Việt Nam”; đồng thời, Maia Casen (1930–1987) đã tuyển dịch một số truyện sang tiếng Ukraine từ thập niên 1970…
Ở tầm địa phương, vùng miền cũng như quốc gia, chính tên tuổi Nam Cao và khả năng lan tỏa tác phẩm của ông đã kết tinh thành giá trị tinh thần, thành biểu tượng di sản văn hóa, thành đối tượng và tiềm lực của hoạt động du lịch. Khác với nhiều loại hình du lịch khác (tâm linh, tham quan di tích lịch sử, sinh thái, nghỉ dưỡng, mạo hiểm, ẩm thực…), có thể nhấn mạnh tính đặc trưng của nguồn lực quê hương Nam Cao chính là tổng thể di sản tác phẩm lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội.

Vùng quê chiêm trũng ấy nhờ có Nam Cao trở thành biểu tượng, địa điểm văn hóa và điểm đến mang ý nghĩa “kiến tạo vùng” của du lịch văn học. Làng Đại Hoàng xưa (làng Vũ Đại trong nguyên tác của Nam Cao) thuộc tổng Cao Đà, huyện Nam Xang, phủ Lý Nhân (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình) cùng câu chuyện diên cách làng xã cũng là vấn đề đáng thảo luận trong tiến trình hình thành bản sắc văn hóa vùng.

anh-3.jpg
Phim “Làng Vũ Đại ngày ấy” (1982) chuyển thể từ các tác phẩm “Chí Phèo”, “Lão Hạc”, “Sống mòn” của nhà văn Nam Cao.

Một mai, hy vọng trên quê hương Nam Cao sẽ có nhà bảo tàng chuyên đề, có trung tâm lưu trữ tác phẩm và phục vụ nghiên cứu, có quy hoạch các địa điểm di tích gắn với cuộc đời và sáng tác của ông. Đến nơi đây, du khách có thể thưởng thức phim tư liệu và trích đoạn chuyển thể, tiếp cận tác phẩm và công trình nghiên cứu, nghe giới thiệu sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa cuộc đời tác giả và nhân vật làng quê khúc xạ trong tác phẩm, đồng thời tận hưởng ngọn gió đồng quê và cảm nhận toàn cảnh hình ảnh quê hương của một nhà văn xuất sắc trong nền văn học dân tộc./.

Bài liên quan
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
(0) Bình luận
  • Bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt
    Trường ca “Thần Nông chân đất” của nhà thơ Phùng Trung Tập (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 12 chương, với 184 trang. Tác phẩm tái hiện và ngợi ca lao động nông nghiệp như nền tảng sinh tồn của cộng đồng Việt, đồng thời đưa người nông dân lên tầm biểu tượng văn hóa - lịch sử - những “Thần Nông chân đất” đã mở cõi, dựng làng, giữ nước và truyền sinh khí cho non sông qua hàng nghìn năm. Đây là bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt Nam trong chiều dài lịch sử dân tộc.
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Festival Thăng Long - Hà Nội 2026 tạo dấu ấn trong đời sống văn hóa Thủ đô
    Tối 20/9, Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage Flow” chính thức bế mạc sau 10 ngày diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động, thu hút đông đảo người dân, du khách và cộng đồng sáng tạo, tạo dấu ấn trong đời sống văn hóa của Thủ đô.
  • “Thanh âm Gốm”- cách cảm nhận mới về di sản làng nghề
    Trong khuôn khổ Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026, tối 19/9, chương trình biểu diễn nghệ thuật “Thanh âm Gốm” diễn ra tại Làng gốm Bát Tràng đưa công chúng đến với một cách cảm nhận mới về di sản làng nghề, khi gốm không chỉ được nhìn ngắm qua hình dáng, màu men mà còn được lắng nghe qua âm thanh, chuyển động và nghệ thuật trình diễn đương đại.
  • Lan tỏa giá trị của nghệ thuật truyền thống tới công chúng Thủ đô
    Tối 18/9/2026, trong khuôn khổ chuỗi hoạt động của Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề “Hà Nội - Dòng chảy di sản”, Bảo tàng Hà Nội tổ chức chương trình nghệ thuật truyền thống “Âm nhạc và Di sản” nhằm tôn vinh những giá trị đặc sắc của nghệ thuật sân khấu truyền thống Việt Nam, đồng thời lan tỏa tình yêu di sản đến đông đảo công chúng.
  • Phường Chương Mỹ tổ chức các hoạt động ý nghĩa cho thiếu nhi dịp Tết Trung thu
    Đảng ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Chương Mỹ (Hà Nôi) sẽ tổ chức chương trình “Đêm hội Trăng rằm năm 2026” vào tối 22/9 (tức ngày 12/8 năm Bính Ngọ), tại Sân vận động trung tâm phường. Đây là hoạt động nhằm tạo không khí vui tươi, phấn khởi, mang đến cho các em thiếu nhi một mùa Trung thu vui tươi, an toàn, ý nghĩa, đồng thời thể hiện sự quan tâm, chăm lo của cấp ủy, chính quyền và toàn xã hội đối với trẻ em trên địa bàn.
  • [Podcast] Nguồn lực phát triển Thủ đô
    Trên cơ sở kế thừa, bổ sung một số quy định của Luật Thủ đô năm 2024, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục phân cấp cho thành phố trong lĩnh vực tài chính để đảm bảo Thủ đô có đủ thẩm quyền, công cụ cơ chế, chính sách tài chính đột phá, vượt trội và tạo nguồn lực, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực như tài chính, đất đai, tài sản công, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, để thực hiện mục tiêu phát triển Thủ đô. Đồng thời, luật cũng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, cải thiện chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp và đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Đừng bỏ lỡ
  • Đề xuất Ngày Văn hóa Việt Nam 2026 được nghỉ 1 ngày, không hoán đổi làm bù
    Nhằm bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu tôn vinh, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc với yêu cầu duy trì sự phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn then chốt cuối năm, Bộ Nội vụ đã trình Thủ tướng Chính phủ Tờ trình số 10137/TTr-BNV để bổ sung và điều chỉnh phương án nghỉ Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026. Điểm thay đổi so với Tờ trình số 10033/TTr-BNV ban hành ngày 11/9/2026 trước đó là việc không áp dụng phương án hoán đổi ngày làm việc để tạo thành kỳ nghỉ kéo dài.
  • Kể những câu chuyện lịch sử bằng ngôn ngữ sân khấu cải lương
    Tối 20/9, tại sân khấu Nhà Bát Giác bên hồ Hoàn Kiếm, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” đã đưa khán giả đi qua nhiều lát cắt của âm nhạc Việt Nam: Từ những giai điệu về làng quê, đất nước đến câu vọng cổ phương Nam, từ ký ức lịch sử đến Hà Nội hôm nay. Không đóng khung trong một màu sắc, chương trình lựa chọn nhiều hình thức biểu diễn, tạo nên một không gian nghệ thuật có sự chuyển động liên tục nhưng vẫn giữ được những giá trị văn hóa đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
  • [Video] Hanoi Jazztival 2026 - "mở đường" cho thị trường sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô
    Sau 3 ngày diễn ra với nhiều hoạt động phong phú, đặc sắc, sôi nổi, Liên hoan Nhạc Jazz quốc tế Hà Nội 2026 với chủ đề “Jazz Hà Nội - Giai điệu không biên giới” đã chính thức khép lại với chương trình đêm bế mạc tối 19/9 tại Nhà Bát Giác trên phố đi bộ hồ Gươm.
  • Khai mạc Liên hoan phim Tài liệu Châu Âu - Việt Nam lần thứ 16 tại Hà Nội
    LHP Tài liệu châu Âu – Việt Nam lần thứ 16 có sự tham gia của 9 thành viên EUNIC gồm: Phái đoàn Wallonie – Bruxelles tại Việt Nam; Hội đồng Anh; Đại sứ quán Áo; Đại sứ quán Tây Ban Nha; Đại sứ quán Italia; Đại sứ quán Thụy Điển, Đại sứ quán Phần Lan, Đại sứ quán Na Uy, Viện Văn hóa Pháp và Việt Nam.
  • Hanoi Jazztival 2026: “Âm nhạc không biên giới” tỏa sáng giữa lòng Hà Nội
    Tiếp tục chuỗi hoạt động của Liên hoan nhạc Jazz quốc tế Hà Nội 2026 (Hanoi Jazztival 2026), tối 18/9 tại Vườn Âm nhạc - Nhà hát Lớn Hà Nội, các ban nhạc của Việt Nam và Hoa Kỳ, Hàn Quốc đã đem đến cho khán giả những phần trình diễn hấp dẫn trong đêm nhạc “Jazz Without Borders - Âm nhạc không biên giới”.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Màu của gió (Kỳ 2)
    ⁠Gói bưu phẩm nhân viên bưu điện chuyển đến nhà tôi là cuốn tiểu thuyết có tên: Màu của gió, của tác giả Lam Thùy. Bức tranh trang trí bìa vẽ theo trường phái lập thể khá hiện đại, nhìn bắt mắt. Tôi mở Facebook, vào trang của Thùy, nhắn tin hộp thư messenger: “Cảm ơn em đã tặng sách. Tôi rất vui vì em vẫn tâm huyết với văn chương. Em đang ở đâu?”...
  • Phát huy nguồn lực, vai trò của công nghiệp văn hóa gắn với phát triển kinh tế - xã hội
    Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương làm việc với các cơ quan, đơn vị về phát huy nguồn lực văn hóa và trao đổi những kết quả đạt được, hạn chế, điểm nghẽn, đề xuất các giải pháp nâng cao đóng góp của văn hóa vào tăng trưởng kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
  • 13 tác phẩm xuất sắc được trao giải tại cuộc thi phim ngắn “Hiền tài hôm nay”
    Trải qua chặng đường tìm kiếm sôi nổi từ hơn 200 tác phẩm dự thi, 23 phim ngắn xuất sắc thuộc các loại hình tài liệu, phim truyện ngắn và hoạt hình đã tiến vào Vòng Chung khảo. Các tác phẩm không chỉ thể hiện sự phong phú về thế hệ sáng tác, cách kể chuyện cùng ngôn ngữ thể hiện hiện đại mà còn mở rộng góc nhìn về chủ đề “hiền tài”.
  • Hà Nội tiếp thu ý kiến Nhân dân về quy hoạch Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng
    Ngày 17/9, Sở Xây dựng Hà Nội tổ chức hội nghị lấy ý kiến Nhân dân về Quy hoạch phân khu sông Hồng, Đồ án quy hoạch tỷ lệ 1/5.000 và hướng tuyến giao thông tỷ lệ 1/500 thuộc dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng.
  • [Podcast] Người Hà Nội thanh lịch, văn minh
    Trong dòng chảy nghìn năm của Thăng Long - Hà Nội, có những giá trị được lưu giữ trong các di tích, những mái đình, làng nghề; cũng có những giá trị hiện diện trong chính đời sống thường ngày. Khi nói về Hà Nội, bên cạnh một thành phố với hơn nghìn năm văn hiến, người ta còn nhớ đến một nếp sống được hun đúc qua nhiều thế hệ: thanh lịch, tinh tế, trọng nghĩa tình.
Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO