Lý luận - phê bình

Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn 16/03/2026 20:39

Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).

Cuộc đời và sự nghiệp văn chương Nam Cao từ đó đã trở thành biểu tượng của một vùng văn hóa, văn học, nghệ thuật; thành điểm đến trong tâm thức nhiều thế hệ độc giả cũng như du khách trong và ngoài nước.

anh-1.jpg
Nhà văn Nam Cao (Ảnh tư liệu).

Trên cả hai phương diện văn hóa du lịch và du lịch văn hóa, có thể nhận diện, khái quát các đặc điểm và nhấn mạnh thực thể biểu tượng “điểm đến” - địa điểm, địa danh, danh tích, danh thắng, danh nhân, danh tài, danh tộc Nam Cao - Vũ Đại - Cao Đà - Lý Nhân. Nói cách khác, đây là mối quan hệ giữa tiềm năng và hiện thực, giữa sản phẩm du lịch và du khách, giữa việc kiến tạo vị thế giá trị địa danh và khả năng hấp dẫn, lan tỏa bốn phương. Với trường hợp Nam Cao, quá trình tích hợp, kết tinh, chuyển tải và chuyển hóa các giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm qua các phương tiện truyền thông đã dần trở thành tiềm năng, tiềm lực và sản phẩm du lịch gắn với địa danh cụ thể. Đó cũng là sự tổng hợp những giá trị bắt nguồn từ chính quê sinh, từ tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp nhà văn, từ khả năng tái tạo hình ảnh cảnh quan, con người và đời sống quê hương trong tác phẩm.

Về phía độc giả, diễn ra khả năng tiếp nhận theo cách “ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”, khơi gợi hình dung, tưởng tượng về một không gian làng Vũ Đại với bến đò và “cái lò gạch cũ”, với nghề dệt vải, với ngôi nhà nguyên mẫu Bá Kiến thuở trước; với ngôi nhà, lối ngõ, nấm mộ và Nhà lưu niệm Nam Cao hôm nay; với những nhân vật Chí Phèo, Bá Kiến, lão Hạc, Tự Lãng, Thị Nở, Binh Chức, Dì Hảo, Lang Rận, Trạch Văn Đoành… - chủ nhân chốn làng quê một thời. Trên tư cách độc giả chuyển hóa thành chủ thể du khách “kép”, mỗi người có cách tiếp nhận riêng, khơi gợi sự hiếu kỳ và niềm trân trọng để mong ước một lần đến thăm quê hương nhà văn. Độc giả - du khách mong muốn “tận mục sở thị” để biết vì sao làng quê bình dị ấy đã sinh thành, nuôi dưỡng nên nhà văn Nam Cao, và cội nguồn những con người, cảnh vật kia đã được chuyển hóa như thế nào trong tác phẩm của ông.

Nam Cao sáng tác và chính tác phẩm đã làm nên tên tuổi Nam Cao, định vị vùng quê Nam Cao, đồng thời đưa quê hương ấy vào lịch sử văn học, vào bản đồ điểm đến của du khách và vào đối tượng nghiên cứu của du lịch học. Ngoài hệ thống nhân vật, cảnh quan quê hương trong văn Nam Cao cũng khơi gợi trí tưởng tượng và vẫy gọi du khách phương xa. Này đây là ấn tượng về cái lò gạch cũ hoang hoải đầu đồng cuối bãi trong “Chí Phèo”; khung cảnh một sớm quê thật quê, một anh Chí Phèo như thức, như tỉnh, như chiêm cảm, như quán chiếu, hay giây lát đốn ngộ thực tại sự sống của mọi chúng sinh: “Hắn sợ rượu cũng như những người ốm sợ cơm”; “Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy... Chao ôi là buồn!”…; này đây là cảnh đi tàu thủy, cập mạn đò, đò màn, “bến màn” (“Đi đứng chớ có vội vàng,/ Đứt dây đò màn rơi tõm xuống sống”) qua lời thầy hiệu trưởng trường tư khổ nói với nhà giáo văn sĩ Điền trong “Sống mòn”…

Từng trang văn gắn với cảnh quê, con người và đời sống như thế đã và đang tiếp tục cuốn hút độc giả – du khách bốn phương về với quê hương Nam Cao. Chính những trang văn ấy đã làm nên tên tuổi nhà văn, định hình quê hương xứ sở và thương hiệu cho một vùng văn hóa du lịch và du lịch văn hóa.

Bên cạnh sức sống nội tại của dòng chủ lưu tác phẩm Nam Cao đến với công chúng bạn đọc còn có những dòng tiếp nhận bồi đắp, mở rộng qua ký ức, hồi ức của người thân trong gia đình, làng xóm, bạn văn, giới nghiên cứu, phê bình và dịch thuật.

Trước hết là ký ức của những người thân thiết, gắn bó, ân tình, đồng cam cộng khổ như bà Trần Thị Sen - vợ nhà văn. Tiếp nối là những ghi chép, góp nhặt, đan kết tư liệu cũ mới của Trần Thị Hồng - con gái nhà văn (sinh năm 1938, khi cha mất đã 14 tuổi)…

Mở rộng hơn là tiếng nói giữa giới nhà văn. Chẳng hạn, Tô Hoài kể về tình bạn thắm thiết với Nam Cao, đã in báo từ những năm 1954-1956, trong đó có những quan sát, kiểm chứng, lý giải từ góc độ người cùng giới sáng tác, cùng thời, cùng trong sinh quyển văn hóa - xã hội giữa mùa thực dân, phong kiến: “Nhà anh là một nhà trung nông lép vế. Truyện Chí Phèo in ở Hà Nội, chính là cái chuyện anh Chí Phèo thật đã giết một tên tổng lý cường hào thật đã xảy ra mười mấy năm về trước ở làng anh; vì chuyện ấy mà cường hào dọa đánh và kiện anh, triệt đường anh về làng”... Những chi tiết này cũng được bà Trần Thị Sen cảm nhận, xác nhận, ghi nhận trong hồi ức.
Bên cạnh đó còn có nhiều trang viết của những người cùng thế hệ, cùng nghề nghiệp, bạn văn, bạn đời từng trực tiếp gặp gỡ, hiểu biết, góp phần làm sáng tỏ và tôn vinh chân dung nhà văn Nam Cao như Nguyên Hồng, Kim Lân, Như Phong, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Lê Văn Trương, Nguyễn Huy Tưởng, Chu Văn, Phạm Lê Văn…

toan-canh-khong-gian-phia-ngoai-cua-nha-tuong-niem-nha-van-dddd.jpg
Nhà lưu niệm nhà văn Nam Cao tại xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình.

Sau này, nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã dụng công điền dã, sưu tầm, kết nối tài liệu như Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Phong Lê, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Thang Ngọc Pho, Trần Quang Vinh, Đỗ Đình Thọ, Hoàng Cao… nhằm dựng lại chân dung Nam Cao cũng như mối quan hệ giữa cuộc đời và tác phẩm, đặc trưng sáng tạo và tâm lý sáng tạo văn học, vai trò tác giả, khả năng kiến tạo văn hóa văn học và du lịch vùng.

Theo một hướng tiếp nhận khác, tác phẩm Nam Cao được chuyển thể, chuyển đổi loại hình, tái cấu trúc thành phim như “Làng Vũ Đại ngày ấy” (1982) của đạo diễn Phạm Văn Khoa, chuyển thể từ ba tác phẩm “Sống mòn”, “Lão Hạc” và “Chí Phèo”; phim “Cậu Vàng” (2021) của đạo diễn Trần Vũ Thủy, chuyển thể từ truyện ngắn “Lão Hạc”; cùng nhiều phim tư liệu, hoạt hình, truyện tranh khác.
Nhà văn Kim Lân trong vai lão Hạc từng nhấn mạnh mối quan hệ giữa người đóng phim với nhân vật truyện và nhân vật phim, giữa hiệu ứng nhân vật và toàn cảnh phim với sự tiếp nhận của khán giả và đời sống xã hội: “Bây giờ ở đâu có những tay ba gai ba đồ sừng sỏ đầu gấu người ta gọi nó là thằng Chí Phèo, thậm chí có cả con Chí Phèo nữa, người ta tránh xa không muốn dây vào… Nhân vật của Nam Cao qua điện ảnh đã đi vào đời sống, đã thành những mẫu người của cuộc sống: Chí Phèo (Bùi Cường), Thị Nở (Đức Lưu), giáo Thứ (Hữu Mười), lão Hạc (Kim Lân). Những nhân vật ấy của Nam Cao thật sự vẫn đang sống giữa cuộc sống của đất nước mình ngày hôm nay”…

Khi được phiên diễn, tổng hợp, phổ cập và đại chúng hóa qua các ngành nghệ thuật khác, đặc biệt là điện ảnh, tên tuổi Nam Cao cùng tác phẩm và làng quê càng có sức lan tỏa như một phương thức quảng bá hữu hiệu cho du lịch. Tiếng vang tác phẩm, tên tuổi và quê hương Nam Cao như một điển hình vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ đã vươn tầm quốc gia và thời đại.

Trong điều kiện giao lưu văn hóa, văn học phát triển, nhiều học giả Việt Nam đã chú trọng nghiên cứu so sánh, đặt tác phẩm Nam Cao trong tương quan văn học thế giới. Có thể kể đến các công trình như Đào Tuấn Ảnh với “Tsekov và Nam Cao - một sáng tác hiện thực kiểu mới”; Phạm Tú Châu với “Đôi điều so sánh giữa Chí Phèo và AQ”; Trần Ngọc Dung với “Gặp gỡ giữa M. Gorki và Nam Cao” (1992)…

Mở rộng hơn, kể từ khi nhiều truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao được dịch ra các thứ tiếng Anh, Hàn, Nga, Nhật, Pháp, Trung…, tác phẩm của ông đã vươn tầm quốc tế, hội nhập nền học thuật khu vực Đông Á và thế giới hiện đại. Theo nhà Việt Nam học N.I. Niculin, các tác phẩm như “Đôi mắt” (1955), “Trăng sáng”, “Cười” (1962), “Chí Phèo” (1963) từng được xuất bản tại Liên Xô trong “Tủ sách văn học Việt Nam”; đồng thời, Maia Casen (1930–1987) đã tuyển dịch một số truyện sang tiếng Ukraine từ thập niên 1970…
Ở tầm địa phương, vùng miền cũng như quốc gia, chính tên tuổi Nam Cao và khả năng lan tỏa tác phẩm của ông đã kết tinh thành giá trị tinh thần, thành biểu tượng di sản văn hóa, thành đối tượng và tiềm lực của hoạt động du lịch. Khác với nhiều loại hình du lịch khác (tâm linh, tham quan di tích lịch sử, sinh thái, nghỉ dưỡng, mạo hiểm, ẩm thực…), có thể nhấn mạnh tính đặc trưng của nguồn lực quê hương Nam Cao chính là tổng thể di sản tác phẩm lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội.

Vùng quê chiêm trũng ấy nhờ có Nam Cao trở thành biểu tượng, địa điểm văn hóa và điểm đến mang ý nghĩa “kiến tạo vùng” của du lịch văn học. Làng Đại Hoàng xưa (làng Vũ Đại trong nguyên tác của Nam Cao) thuộc tổng Cao Đà, huyện Nam Xang, phủ Lý Nhân (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình) cùng câu chuyện diên cách làng xã cũng là vấn đề đáng thảo luận trong tiến trình hình thành bản sắc văn hóa vùng.

anh-3.jpg
Phim “Làng Vũ Đại ngày ấy” (1982) chuyển thể từ các tác phẩm “Chí Phèo”, “Lão Hạc”, “Sống mòn” của nhà văn Nam Cao.

Một mai, hy vọng trên quê hương Nam Cao sẽ có nhà bảo tàng chuyên đề, có trung tâm lưu trữ tác phẩm và phục vụ nghiên cứu, có quy hoạch các địa điểm di tích gắn với cuộc đời và sáng tác của ông. Đến nơi đây, du khách có thể thưởng thức phim tư liệu và trích đoạn chuyển thể, tiếp cận tác phẩm và công trình nghiên cứu, nghe giới thiệu sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa cuộc đời tác giả và nhân vật làng quê khúc xạ trong tác phẩm, đồng thời tận hưởng ngọn gió đồng quê và cảm nhận toàn cảnh hình ảnh quê hương của một nhà văn xuất sắc trong nền văn học dân tộc./.

Bài liên quan
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
(0) Bình luận
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Phát huy vai trò của văn nghệ sĩ Thủ đô: Khơi dậy nguồn lực sáng tạo cho phát triển công nghiệp văn hóa
    Trong nền kinh tế sáng tạo, tài năng và sức sáng tạo của con người chính là nguồn vốn quan trọng nhất. Đối với Hà Nội, đội ngũ văn nghệ sĩ không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn giữ vai trò trung tâm trong quá trình hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị. Khơi dậy, phát huy và tạo điều kiện để nguồn lực sáng tạo ấy phát triển sẽ là “chìa khóa” để Hà Nội khai thác hiệu quả tiềm năng văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế của một trung tâm sáng tạo trong kỷ nguyên mới.
  • Khơi nguồn sáng tạo v ăn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân, chung sức phát triển Thủ đô Hà Nội
    Chiều 29/7, Thành ủy Hà Nội tổ chức gặp mặt đại biểu văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân tiêu biểu trên địa bàn thành phố. Đây là dịp để lãnh đạo thành phố lắng nghe những hiến kế về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp văn hóa và phát huy nguồn lực con người, góp phần tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh, bền vững của Thủ đô.
  • Tạo dựng bản sắc kiến trúc Hà Nội: Giữ hồn cốt Thủ đô, kiến tạo diện mạo cho tương lai
    Kiến trúc không chỉ định hình diện mạo đô thị mà còn lưu giữ ký ức, phản ánh bản sắc văn hóa và trình độ phát triển của mỗi thời đại. Đối với Hà Nội - thành phố ngàn năm văn hiến, việc kiến tạo những công trình mới hài hòa với không gian lịch sử, đồng thời phát huy vai trò của đội ngũ kiến trúc sư trong bảo tồn và sáng tạo, là yêu cầu quan trọng để xây dựng Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại", đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới.
  • Phường Nghĩa Đô: Quyết liệt tổng kiểm tra an toàn PCCC các cơ sở năng lượng, nhà chung cư và cơ sở hóa chất năm 2026
    Nhằm chủ động phòng ngừa, kiên quyết không để xảy ra cháy nổ lớn và bảo vệ an toàn tuyệt đối tính mạng, tài sản của nhân dân, UBND phường Nghĩa Đô vừa ban hành Kế hoạch số 276/KH-UBND. Theo đó, từ nay đến trước ngày 25/11/2026, phường Nghĩa Đô sẽ ra quân kiểm tra định kỳ và đột xuất đối với 100% cơ sở năng lượng, nhà chung cư (bao gồm nhà tập thể, nhà đa năng/hỗn hợp) và cơ sở hóa chất trên toàn địa bàn, đặc biệt dứt điểm kiểm tra toàn bộ các cơ sở nhà chung cư.
  • Vingroup tặng 50% giá vẻ show "Đất nước thiên hùng ca" - Tri ân người có công, người cao tuổi và học sinh, sinh viên
    Nhằm tri ân người có công với đất nước, động viên người cao tuổi và lan tỏa lòng tự hào dân tộc tới học sinh, sinh viên, Tập đoàn Vingroup đã triển khai tặng 50% giá vé chương trình nghệ thuật “Đất Nước Thiên Hùng Ca” cho các khán giả trên từ ngày 10/07//2026 đến ngày 31/08/2026. Đây là hoạt động đặc biệt ý nghĩa, tôn vinh các ngày trọng đại của dân tộc như Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7) và Cách mạng Tháng 8.
Đừng bỏ lỡ
  • [Podcast] Tản văn: Một ly tỉnh và nhớ
    Người ta có muôn vàn cách để quên một điều gì đó nhưng để nhớ về kỷ niệm thì lại chẳng có nhiều. Tôi hay chọn buổi sáng thứ Bảy trong tuần để được thư thả về phố núi quê hương, ngồi đợi giọt đắng của đất đai, mưa nắng điểm từng nhịp xuống chiếc ly sứ như đợi thời gian mở cánh cửa diệu kì của mình.
  • Phường Bồ Đề ra mắt mô hình "Không gian văn hoá công đoàn": Kết nối tri thức, lan toả văn hoá đọc
    Chào mừng kỷ niệm 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 – 28/7/2026), vừa qua, Công đoàn phường Bồ Đề phối hợp với Công đoàn Trường THCS Ngọc Thụy và Công đoàn Trường Tiểu học Ái Mộ B tổ chức Lễ ra mắt Mô hình “Không gian văn hóa công đoàn”.
  • Triển khai xây dựng, quảng bá thương hiệu Quốc gia “Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam”
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND TP Huế triển khai Đề án xây dựng, quảng bá thương hiệu Quốc gia "Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam".
  • [Podcast] Canh dải khoai - Đặc sản trứ danh xứ Đoài
    Trải qua thăng trầm thời gian, người Hà Nội vẫn luôn biết gìn giữ những món ăn truyền thống từ công thức gia truyền, đồng thời họ còn nâng niu những giá trị văn hóa được gửi gắm trong từng món ăn, từ cách chọn nguyên liệu, chế biến đến cách thưởng thức. Và canh dải khoai là một món ăn như thế.
  • Kiệt tác opera “La Traviata” của Ý chuẩn bị công chiếu tại Hà Nội
    Trong hai đêm 30 và 31/7/2026, Nhà hát Hồ Gươm, khán giả yêu nghệ thuật hàn lâm tại Hà Nội sẽ được hòa mình vào không gian âm nhạc đỉnh cao với sự xuất hiện của vở opera kinh điển “La Traviata”.
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Từ giai điệu "Hà Nội mùa thu" đến sức sống của một không gian văn hóa cộng đồng
    Trong không gian Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội), chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 26/7 không chỉ mang đến những giai điệu Jazz đặc sắc mà còn mở ra một cách cảm nhận mới về Hà Nội. Điểm nhấn của chương trình là ca khúc “Hà Nội mùa thu” của nhạc sĩ Vũ Thanh đã đưa hình ảnh Thủ đô hiện lên bằng vẻ đẹp tinh tế, giàu chiều sâu văn hóa, qua đó khẳng định vai trò của nghệ thuật trong việc kiến tạo không gian văn hóa cộng đồng và lan tỏa những giá trị bền vững của thành phố.
  • Phát động cuộc thi sáng tác thơ, âm nhạc, nhiếp ảnh hướng tới Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương
    Cuộc thi là cơ hội khuyến khích đội ngũ văn nghệ sĩ và các tầng lớp Nhân dân phát huy sáng tạo, tìm kiếm những nhân tố mới nhằm bổ sung nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của tỉnh.
  • Đặc sắc chương trình nghệ thuật Bún Bò Huế “Huyền tích Vân Cù và bản giao hưởng Hương Ngự”
    Các nghệ nhân, đầu bếp và chuyên gia ẩm thực đến từ 3 miền Bắc - Trung – Nam chế biến 300 tô Bún bò Huế cùng một lúc theo quy trình truyền thống đã lập Kỷ lục Việt Nam.
  • Phát động Cuộc thi "Sáng tạo IP văn hóa từ di sản Phở Hà Nội"
    Cuộc thi "Sáng tạo IP văn hóa từ di sản Phở Hà Nội" đánh dấu bước chuyển mình trong cách tiếp cận di sản, giúp lan tỏa các giá trị truyền thống, kích cầu du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa. Đồng thời, đây cũng là khởi đầu quan trọng giúp thành phố chuẩn bị các nguồn lực tư liệu cần thiết, phục vụ thành phố xây dựng hồ sơ khoa học trình UNESCO ghi danh Phở.
Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO