Lý luận - phê bình

Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn 16/03/2026 20:39

Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).

Cuộc đời và sự nghiệp văn chương Nam Cao từ đó đã trở thành biểu tượng của một vùng văn hóa, văn học, nghệ thuật; thành điểm đến trong tâm thức nhiều thế hệ độc giả cũng như du khách trong và ngoài nước.

anh-1.jpg
Nhà văn Nam Cao (Ảnh tư liệu).

Trên cả hai phương diện văn hóa du lịch và du lịch văn hóa, có thể nhận diện, khái quát các đặc điểm và nhấn mạnh thực thể biểu tượng “điểm đến” - địa điểm, địa danh, danh tích, danh thắng, danh nhân, danh tài, danh tộc Nam Cao - Vũ Đại - Cao Đà - Lý Nhân. Nói cách khác, đây là mối quan hệ giữa tiềm năng và hiện thực, giữa sản phẩm du lịch và du khách, giữa việc kiến tạo vị thế giá trị địa danh và khả năng hấp dẫn, lan tỏa bốn phương. Với trường hợp Nam Cao, quá trình tích hợp, kết tinh, chuyển tải và chuyển hóa các giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm qua các phương tiện truyền thông đã dần trở thành tiềm năng, tiềm lực và sản phẩm du lịch gắn với địa danh cụ thể. Đó cũng là sự tổng hợp những giá trị bắt nguồn từ chính quê sinh, từ tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp nhà văn, từ khả năng tái tạo hình ảnh cảnh quan, con người và đời sống quê hương trong tác phẩm.

Về phía độc giả, diễn ra khả năng tiếp nhận theo cách “ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”, khơi gợi hình dung, tưởng tượng về một không gian làng Vũ Đại với bến đò và “cái lò gạch cũ”, với nghề dệt vải, với ngôi nhà nguyên mẫu Bá Kiến thuở trước; với ngôi nhà, lối ngõ, nấm mộ và Nhà lưu niệm Nam Cao hôm nay; với những nhân vật Chí Phèo, Bá Kiến, lão Hạc, Tự Lãng, Thị Nở, Binh Chức, Dì Hảo, Lang Rận, Trạch Văn Đoành… - chủ nhân chốn làng quê một thời. Trên tư cách độc giả chuyển hóa thành chủ thể du khách “kép”, mỗi người có cách tiếp nhận riêng, khơi gợi sự hiếu kỳ và niềm trân trọng để mong ước một lần đến thăm quê hương nhà văn. Độc giả - du khách mong muốn “tận mục sở thị” để biết vì sao làng quê bình dị ấy đã sinh thành, nuôi dưỡng nên nhà văn Nam Cao, và cội nguồn những con người, cảnh vật kia đã được chuyển hóa như thế nào trong tác phẩm của ông.

Nam Cao sáng tác và chính tác phẩm đã làm nên tên tuổi Nam Cao, định vị vùng quê Nam Cao, đồng thời đưa quê hương ấy vào lịch sử văn học, vào bản đồ điểm đến của du khách và vào đối tượng nghiên cứu của du lịch học. Ngoài hệ thống nhân vật, cảnh quan quê hương trong văn Nam Cao cũng khơi gợi trí tưởng tượng và vẫy gọi du khách phương xa. Này đây là ấn tượng về cái lò gạch cũ hoang hoải đầu đồng cuối bãi trong “Chí Phèo”; khung cảnh một sớm quê thật quê, một anh Chí Phèo như thức, như tỉnh, như chiêm cảm, như quán chiếu, hay giây lát đốn ngộ thực tại sự sống của mọi chúng sinh: “Hắn sợ rượu cũng như những người ốm sợ cơm”; “Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy... Chao ôi là buồn!”…; này đây là cảnh đi tàu thủy, cập mạn đò, đò màn, “bến màn” (“Đi đứng chớ có vội vàng,/ Đứt dây đò màn rơi tõm xuống sống”) qua lời thầy hiệu trưởng trường tư khổ nói với nhà giáo văn sĩ Điền trong “Sống mòn”…

Từng trang văn gắn với cảnh quê, con người và đời sống như thế đã và đang tiếp tục cuốn hút độc giả – du khách bốn phương về với quê hương Nam Cao. Chính những trang văn ấy đã làm nên tên tuổi nhà văn, định hình quê hương xứ sở và thương hiệu cho một vùng văn hóa du lịch và du lịch văn hóa.

Bên cạnh sức sống nội tại của dòng chủ lưu tác phẩm Nam Cao đến với công chúng bạn đọc còn có những dòng tiếp nhận bồi đắp, mở rộng qua ký ức, hồi ức của người thân trong gia đình, làng xóm, bạn văn, giới nghiên cứu, phê bình và dịch thuật.

Trước hết là ký ức của những người thân thiết, gắn bó, ân tình, đồng cam cộng khổ như bà Trần Thị Sen - vợ nhà văn. Tiếp nối là những ghi chép, góp nhặt, đan kết tư liệu cũ mới của Trần Thị Hồng - con gái nhà văn (sinh năm 1938, khi cha mất đã 14 tuổi)…

Mở rộng hơn là tiếng nói giữa giới nhà văn. Chẳng hạn, Tô Hoài kể về tình bạn thắm thiết với Nam Cao, đã in báo từ những năm 1954-1956, trong đó có những quan sát, kiểm chứng, lý giải từ góc độ người cùng giới sáng tác, cùng thời, cùng trong sinh quyển văn hóa - xã hội giữa mùa thực dân, phong kiến: “Nhà anh là một nhà trung nông lép vế. Truyện Chí Phèo in ở Hà Nội, chính là cái chuyện anh Chí Phèo thật đã giết một tên tổng lý cường hào thật đã xảy ra mười mấy năm về trước ở làng anh; vì chuyện ấy mà cường hào dọa đánh và kiện anh, triệt đường anh về làng”... Những chi tiết này cũng được bà Trần Thị Sen cảm nhận, xác nhận, ghi nhận trong hồi ức.
Bên cạnh đó còn có nhiều trang viết của những người cùng thế hệ, cùng nghề nghiệp, bạn văn, bạn đời từng trực tiếp gặp gỡ, hiểu biết, góp phần làm sáng tỏ và tôn vinh chân dung nhà văn Nam Cao như Nguyên Hồng, Kim Lân, Như Phong, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Lê Văn Trương, Nguyễn Huy Tưởng, Chu Văn, Phạm Lê Văn…

toan-canh-khong-gian-phia-ngoai-cua-nha-tuong-niem-nha-van-dddd.jpg
Nhà lưu niệm nhà văn Nam Cao tại xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình.

Sau này, nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã dụng công điền dã, sưu tầm, kết nối tài liệu như Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Phong Lê, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Thang Ngọc Pho, Trần Quang Vinh, Đỗ Đình Thọ, Hoàng Cao… nhằm dựng lại chân dung Nam Cao cũng như mối quan hệ giữa cuộc đời và tác phẩm, đặc trưng sáng tạo và tâm lý sáng tạo văn học, vai trò tác giả, khả năng kiến tạo văn hóa văn học và du lịch vùng.

Theo một hướng tiếp nhận khác, tác phẩm Nam Cao được chuyển thể, chuyển đổi loại hình, tái cấu trúc thành phim như “Làng Vũ Đại ngày ấy” (1982) của đạo diễn Phạm Văn Khoa, chuyển thể từ ba tác phẩm “Sống mòn”, “Lão Hạc” và “Chí Phèo”; phim “Cậu Vàng” (2021) của đạo diễn Trần Vũ Thủy, chuyển thể từ truyện ngắn “Lão Hạc”; cùng nhiều phim tư liệu, hoạt hình, truyện tranh khác.
Nhà văn Kim Lân trong vai lão Hạc từng nhấn mạnh mối quan hệ giữa người đóng phim với nhân vật truyện và nhân vật phim, giữa hiệu ứng nhân vật và toàn cảnh phim với sự tiếp nhận của khán giả và đời sống xã hội: “Bây giờ ở đâu có những tay ba gai ba đồ sừng sỏ đầu gấu người ta gọi nó là thằng Chí Phèo, thậm chí có cả con Chí Phèo nữa, người ta tránh xa không muốn dây vào… Nhân vật của Nam Cao qua điện ảnh đã đi vào đời sống, đã thành những mẫu người của cuộc sống: Chí Phèo (Bùi Cường), Thị Nở (Đức Lưu), giáo Thứ (Hữu Mười), lão Hạc (Kim Lân). Những nhân vật ấy của Nam Cao thật sự vẫn đang sống giữa cuộc sống của đất nước mình ngày hôm nay”…

Khi được phiên diễn, tổng hợp, phổ cập và đại chúng hóa qua các ngành nghệ thuật khác, đặc biệt là điện ảnh, tên tuổi Nam Cao cùng tác phẩm và làng quê càng có sức lan tỏa như một phương thức quảng bá hữu hiệu cho du lịch. Tiếng vang tác phẩm, tên tuổi và quê hương Nam Cao như một điển hình vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ đã vươn tầm quốc gia và thời đại.

Trong điều kiện giao lưu văn hóa, văn học phát triển, nhiều học giả Việt Nam đã chú trọng nghiên cứu so sánh, đặt tác phẩm Nam Cao trong tương quan văn học thế giới. Có thể kể đến các công trình như Đào Tuấn Ảnh với “Tsekov và Nam Cao - một sáng tác hiện thực kiểu mới”; Phạm Tú Châu với “Đôi điều so sánh giữa Chí Phèo và AQ”; Trần Ngọc Dung với “Gặp gỡ giữa M. Gorki và Nam Cao” (1992)…

Mở rộng hơn, kể từ khi nhiều truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao được dịch ra các thứ tiếng Anh, Hàn, Nga, Nhật, Pháp, Trung…, tác phẩm của ông đã vươn tầm quốc tế, hội nhập nền học thuật khu vực Đông Á và thế giới hiện đại. Theo nhà Việt Nam học N.I. Niculin, các tác phẩm như “Đôi mắt” (1955), “Trăng sáng”, “Cười” (1962), “Chí Phèo” (1963) từng được xuất bản tại Liên Xô trong “Tủ sách văn học Việt Nam”; đồng thời, Maia Casen (1930–1987) đã tuyển dịch một số truyện sang tiếng Ukraine từ thập niên 1970…
Ở tầm địa phương, vùng miền cũng như quốc gia, chính tên tuổi Nam Cao và khả năng lan tỏa tác phẩm của ông đã kết tinh thành giá trị tinh thần, thành biểu tượng di sản văn hóa, thành đối tượng và tiềm lực của hoạt động du lịch. Khác với nhiều loại hình du lịch khác (tâm linh, tham quan di tích lịch sử, sinh thái, nghỉ dưỡng, mạo hiểm, ẩm thực…), có thể nhấn mạnh tính đặc trưng của nguồn lực quê hương Nam Cao chính là tổng thể di sản tác phẩm lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội.

Vùng quê chiêm trũng ấy nhờ có Nam Cao trở thành biểu tượng, địa điểm văn hóa và điểm đến mang ý nghĩa “kiến tạo vùng” của du lịch văn học. Làng Đại Hoàng xưa (làng Vũ Đại trong nguyên tác của Nam Cao) thuộc tổng Cao Đà, huyện Nam Xang, phủ Lý Nhân (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình) cùng câu chuyện diên cách làng xã cũng là vấn đề đáng thảo luận trong tiến trình hình thành bản sắc văn hóa vùng.

anh-3.jpg
Phim “Làng Vũ Đại ngày ấy” (1982) chuyển thể từ các tác phẩm “Chí Phèo”, “Lão Hạc”, “Sống mòn” của nhà văn Nam Cao.

Một mai, hy vọng trên quê hương Nam Cao sẽ có nhà bảo tàng chuyên đề, có trung tâm lưu trữ tác phẩm và phục vụ nghiên cứu, có quy hoạch các địa điểm di tích gắn với cuộc đời và sáng tác của ông. Đến nơi đây, du khách có thể thưởng thức phim tư liệu và trích đoạn chuyển thể, tiếp cận tác phẩm và công trình nghiên cứu, nghe giới thiệu sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa cuộc đời tác giả và nhân vật làng quê khúc xạ trong tác phẩm, đồng thời tận hưởng ngọn gió đồng quê và cảm nhận toàn cảnh hình ảnh quê hương của một nhà văn xuất sắc trong nền văn học dân tộc./.

Bài liên quan
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
(0) Bình luận
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
  • Ngày hội “Ngự Liên Thức Thủy” khẳng định Huế là trung tâm văn hóa và du lịch đặc sắc của cả nước
    “Ngự Liên Thức Thủy” là sự kết hợp giữa nghệ thuật trình diễn, âm nhạc, ánh sáng và ẩm thực từ sen để kể câu chuyện về chiều sâu văn hóa, phong vị ẩm thực và nét thanh lịch của người xứ Huế.
  • Khai mạc Tuần lễ Âm nhạc Quốc tế Huế 2026
    Đông đảo khán giả được thưởng thức, trải nghiệm chương trình nghệ thuật đa sắc màu bên dòng sông Hương trong đêm khai mạc Tuần lễ Âm nhạc Quốc tế Huế 2026.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Như là huyền thoại (Kỳ 1)
    Trong nhóm kỹ thuật được lãnh đạo Sở Địa chất quyết định cho đi khảo sát vùng đất địa đầu Tổ quốc có ba người. Nhận nhiệm vụ, xuất hành từ phố cổ Phạm Ngũ Lão, gần nhà Bác Cổ rồi đi qua cầu Long Biên là ngược chiều lên phía Bắc. Đi tới bốn ngày đường, ba chàng địa chất mới tới phố núi Hà Giang...
  • Tổ chức Liên hoan sân khấu Hà Nội mở rộng năm 2026
    Sở Văn hóa, Thể thao Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 484/KH- SVHTT ngày 3/6/2025 về việc tổ chức “Liên hoan sân khấu Hà Nội mở rộng, năm 2026”. Sự kiện này đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục, phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng vẻ vang của dân tộc và của Hà Nội ngàn năm văn hiến, đồng thời khẳng định bản lĩnh, trí tuệ cùng những đóng góp to lớn của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Thủ đô trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.
  • Công an thành phố Hà Nội tổ chức Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc năm 2026
    Nhằm lan tỏa tình yêu quê hương, đất nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, Công an thành phố Hà Nội đã chính thức phát động cuộc thi "Đại sứ Văn hóa đọc năm 2026" với chủ đề đầy cảm hứng mang tên “Sách và Ước mơ vươn xa”.
  • Trưng bày “Tết Đoan ngọ xưa và nay” tại Khu di sản Hoàng thành Thăng Long
    Nhân dịp tết Đoan ngọ năm 2026, với mục tiêu cao đẹp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc nói chung và văn hóa phi vật thể cung đình Thăng Long nói riêng, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội đã trang trọng tổ chức trưng bày chuyên đề với tên gọi “Tết Đoan ngọ xưa và nay”.
  • Khởi động cuộc vận động sáng tác âm nhạc chủ đề "50 năm Thành phố Hồ Chí Minh - Rạng rỡ tên Người"
    Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vừa chính thức thông tin về việc tổ chức Cuộc vận động sáng tác ca khúc và bài bản đờn ca tài tử, vọng cổ với chủ đề “50 năm Thành phố Hồ Chí Minh - Rạng rỡ tên Người”.
  • Tôn vinh di sản, lan tỏa thương hiệu “Huế - Kinh đô Áo dài”
    Tuần lễ Áo dài Huế 2026 với chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, du lịch đặc sắc trải dài trên nhiều không gian di sản, danh thắng và địa điểm văn hóa tiêu biểu của TP Huế sẽ diễn ra từ ngày 3 - 10/7.
  • [Podcast] Tản văn: Những hàng thông lặng im
    Những hàng thông đã lặng im từ lâu lắm. Như từ hóa thạch, như từ lòng đất, như từ đại dương, những đại dương san hô mà loài người đã vô tình quên lãng. Thông như là sự hóa thạch của những trầm tích ấy. Những trầm tích mà hôm nay, ngày mai, bất cứ khi nào có thể lại sẽ reo ca trong lòng bạn. Này hỡi em yêu! Và đó là một sự nhiệm màu!
  • Ra mắt bộ sách kỹ năng giúp cha mẹ thấu hiểu và đồng hành cùng con
    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật vừa ra mắt bạn đọc ba bộ sách: “Kỹ năng sinh tồn thông minh của trẻ”, “Tâm lý thiếu niên” và “Kỹ năng làm cha mẹ”. Mỗi bộ sách mang đến những kiến thức thiết thực, góp phần bồi đắp nhân cách, kỹ năng sống và xây dựng môi trường gia đình hạnh phúc.
Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO