Lý luận - phê bình

Thao thức với phần đời chiến trận

Nguyễn Bích Thu 06/12/2025 18:20

Có thể nói cuộc kháng chiến trường kỳ hào hùng và bi tráng của dân tộc, ở bất kỳ trạng huống nào dường như đã chi phối và tạo động lực cho đội ngũ văn nghệ sĩ, những người cầm bút suy nghĩ và sáng tạo. Ta hiểu vì sao ngay trong cuộc sống thời bình, trong đời sống dân sự, những hình ảnh của ngày hôm qua vẫn khiến con người luôn “thao thức với phần đời chiến trận”.

Như vậy, từ thực tế đời sống nói chung và văn chương nghệ thuật nói riêng của một đất nước hơn một lần chống giặc ngoại xâm như Việt Nam, ký ức về chiến tranh vẫn không thôi ám ảnh, nhắc nhớ và thôi thúc những người cầm bút tái nhận thức và tái tạo về một thời “hoa lửa”, một thời “mưa đỏ”, những hình ảnh mang tính biểu tượng của chiến tranh trong các trang viết hôm nay. Thông qua các sáng tác của nhà văn, những nhà phê bình lại có dịp cảm thụ và tiếp nhận hình ảnh quá khứ, những vùng trời ký ức lại một lần nữa trình hiện “kép” trên các trang nghiên cứu phê bình. Không phải ngẫu nhiên mà như một sự sắp đặt, đã hội tụ những cây bút quan tâm hoặc chuyên nghiên cứu, phê bình về văn học chiến tranh và người lính, tiêu biểu là các trường hợp: Ngô Thảo với “Từ cuộc đời chiến sĩ” (1978), “Văn học và người lính” (2001), “Thao thức với phần đời chiến trận” (2009), “Dĩ vãng phía trước” (2011), “Thư chiến trường” (2011), “Bốn nhà văn nhà số 4” (2020); Bùi Việt Thắng với “Khúc bi tráng thứ tư” (2022); Nguyễn Thanh Tú với “Văn học và chiến tranh” (2019); Tôn Phương Lan với “Âm vang chiến tranh” (2019) và Lý Hoài Thu với “Văn nhân quân đội” (2015). Có thể nói, ngay từ cách đặt tên sách, các tác giả đã thể hiện đề tài, chủ đề, ý tưởng mà mình hướng tới, xoáy sâu vào “cuộc đời chiến sĩ” không chỉ ở cảm hứng mà còn ở cách thức biểu hiện. Với họ “chạy trời không khỏi ra văn học về chiến tranh”.

anh-dai-dien.png
Các công trình lý luận phê bình nhìn từ chiến tranh cho thấy ký ức chiến tranh trong văn học vẫn tiếp tục được nhận diện, đối thoại và suy ngẫm.

Trong hơn chục tập tiểu luận phê bình, nhà văn, cựu chiến binh Ngô Thảo dường như nghiêng về tìm hiểu, nghiên cứu, phê bình văn học chiến tranh và người lính. Những tập tiểu luận phê bình của ông luôn hừng hực sức sống, sắc sảo, mang tính thời sự với những nhận định, đánh giá rành rẽ, thấu đáo và thuyết phục. Điều may mắn với nhà phê bình Ngô Thảo là ông không chỉ cảm nhận tác phẩm, mà còn sống cùng với chủ thể sáng tạo là những nhà văn cùng thời. Những tâm tình, suy nghĩ về nghề, về bạn bè đồng nghiệp hay cá tính của họ trong đời riêng hay trên trang viết, ông đều dự phần, chứng kiến và sẻ chia nên các tiểu luận, bài viết của ông đáng tin cậy và có sức truyền cảm.

Theo nhà phê bình Ngô Thảo, lịch sử chiến tranh bảo vệ và xây dựng đất nước cả thế kỷ qua “chắc chắn mãi mãi là kho tàng vô tận cho các sáng tạo văn học nghệ thuật trong tương lai. Chúng ta hi vọng là nhất định sẽ có nhiều tài năng lớn, có những tác phẩm lớn ghi lại một cách chân thực và xúc động về những năm tháng hầu như chỉ có trong một đời người, mà hoàn thành được một sự nghiệp nhiều ngàn đời mơ ước” (Lặng lẽ những đời văn, NXB Hội Nhà văn, 2021). Chính từ điều đó, ông có ý thức ghi chép rồi hình thành mảng tư liệu chuyện đời, chuyện văn của các nhà văn mặc áo lính, những người từ chiến sĩ viết văn trở thành nhà văn chiến sĩ. Tập ghi chép mang tính hồi ức “Dĩ vãng phía trước” (2011) ra đời, tiếp đó là tập tư liệu văn học hệ thống và chuyên sâu hơn về “Bốn nhà văn nhà số 4” (Nguyễn Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Thu Bồn, NXB Hội Nhà văn, 2020). Vì vậy không ngoa khi nói rằng cả đời văn của Ngô Thảo là “hành trình đi nhặt dĩ vãng, vun vén cho mai sau” (chữ của Văn Thành Lê). Xin chia sẻ với tác giả Ngô Thảo, có thể nói những nhà văn hiện diện trong tập sách này “tác phẩm của họ đã từng làm giàu có đời sống tinh thần của cả dân tộc, đã lần lượt thành người thiên cổ. Họ trọn đời là những người lính, từ đời lính, vì người lính mà viết văn, làm thơ; họ là sản phẩm của một thời đất nước có chiến tranh, từ cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc đó đã sản sinh ra một loạt nhân vật đặc biệt với lý tưởng vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”. Từ cái nhìn khái quát ấy, Ngô Thảo nhận ra trong cuộc hành quân gian lao và vĩ đại của các nhà văn áo lính đã có những người thành danh, nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật: Nguyễn Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu và Thu Bồn. Đây là cuốn tư liệu có đầy đủ tiểu sử và ảnh chân dung cùng những tiểu luận của ông về đời văn và những cống hiến mang đặc trưng phong cách của từng nhà văn mà ông đã đồng hành cùng họ trong một thời gian dài.

Với Nguyễn Thi, Ngô Thảo phát hiện hành trình từ “người tạc tượng các anh hùng” trở thành nhà văn anh hùng Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi. Đọc văn Nguyễn Khải, nhà phê bình nhận ra tính vấn đề của một ngòi bút viết cho hôm nay nhưng không dừng lại ở tính kịp thời mà vẫn tiềm ẩn trong nhà văn một người có “tầm nhìn xa” về thời cuộc và lịch sử dân tộc. Với Nguyễn Minh Châu, Ngô Thảo nhận thấy sự tương đồng và chuyển đổi trong sáng tác của nhà văn từ hai bài viết có nhan đề gần như trùng hợp: bài trước là phê bình tiểu thuyết “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu, bài sau là cái nhìn sâu sắc và đầy tiếc thương về một tài năng chưa đi hết cung đường sáng tạo của mình, dẫu đã có những truyện ngắn viết về người lính, về những góc khuất đời thường trong chiến tranh từng gây xôn xao dư luận của một “người mở đường tinh anh”.

Với Thu Bồn - người dường như gắn bó với Ngô Thảo hơn cả, có số phận đặc biệt vừa mạnh mẽ vừa yếu đuối, chân thành mà bất hạnh, tài năng mà thiệt thòi. Ông đã được nhà phê bình dành cho những lời đẹp đẽ: “người ta thường ví nhà văn nhà thơ lớn với cây đại thụ, nhưng sự nghiệp sáng tác đồ sộ của Thu Bồn gợi người đọc liên tưởng đến một cánh rừng nguyên sinh bởi sự phóng khoáng, hoang dã gắn với núi rừng Tây Nguyên đầy bí ẩn và kỳ lạ” (tr. 440). Với những cuốn sách phê bình kể trên, Ngô Thảo xứng đáng là nhà phê bình hàng đầu về văn học chiến tranh và người lính.

Tiếp theo Ngô Thảo là những nhà nghiên cứu phê bình văn học thế hệ thứ hai, có ý thức quan tâm đến mảng đề tài chiến tranh và nhà văn trong quân ngũ. Bùi Việt Thắng, Tôn Phương Lan, Lý Hoài Thu, Nguyễn Thanh Tú đều là các nhà phê bình văn học Việt Nam hiện đại trên nhiều bình diện như thể loại, tác gia, tác phẩm hay lý luận văn học. Trong quá trình đọc và viết, họ có những ngã rẽ riêng nhưng gặp nhau ở “tuyến đường” văn học chiến tranh. Bùi Việt Thắng nổi bật ở mảng phê bình trực chiến. Ông dường như đọc gần hết các tiểu thuyết viết về chiến tranh do cơ duyên gắn bó với văn học lực lượng vũ trang từ rất sớm, ngay từ đầu những năm tám mươi của thế kỷ XX. Dễ nhận ra vì sao ông cho ra mắt tập sách bao quát và chuyên sâu “Khúc bi tráng thứ tư”. Là một nhà phê bình đã có “thương hiệu”, các bài viết của ông như “Một cách viết về chiến tranh”, “Hồi ức chiến tranh như là ký ức lương thiện về quá khứ anh hùng”, “Sự trở lại của đề tài chiến tranh cách mạng”, “Sắc thái nữ quyền trong trang sách về chiến tranh”, “Những bản anh hùng ca bằng ngôn ngữ nghệ thuật về Điện Biên Phủ” thường ra đời đúng dịp kỷ niệm một sự kiện lớn nào đó và ông luôn đáp ứng yêu cầu thời sự và mong đợi của công chúng. Là người đọc nhiều nên ông nhanh nhạy tiếp cận các sáng tác mới viết về chiến tranh như Nguyễn Trọng Luân với “Rừng đói”, Hồ Sĩ Hậu với tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa”, Nguyễn Hùng Sơn với tiểu thuyết “Nằm ngất mây trắng”, Đặng Ngọc Hưng với “Hùng binh” (tiểu thuyết lịch sử), Dương Thiên Lý với “Vị tướng thành Nam”, bên cạnh các nhà văn quen thuộc như Chu Lai, Ma Văn Kháng, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Trí Huân, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Trọng Tân, Lê Hoài Nam… Nếu các bài viết của Bùi Việt Thắng thường ngắn gọn, khái quát thì “Văn học và chiến tranh” của Nguyễn Thanh Tú lại là các tiểu luận dài hơi, khẳng định thành tựu và đổi mới của tiểu thuyết chiến tranh qua bình diện thi pháp: “Tiểu thuyết sử thi giai đoạn 1945 - 1975 nhìn từ hôm nay”, “Tiểu thuyết sử thi từ 1975 đến cuối thế kỷ XX - những trăn trở tìm tòi”, “Đổi mới tiểu thuyết sử thi những năm đầu thế kỷ XXI”, “Không gian tâm linh - một nét đổi mới của tiểu thuyết đề tài chiến tranh”, “Đổi mới mô hình không gian trong tiểu thuyết sử thi”. Về thơ, ông cũng nghiêng về thể trường ca và tiếp cận từ thi pháp thể loại với các bài: “Trường ca sử thi đương đại từ góc nhìn văn hóa”, “Trường ca sử thi - những tìm tòi đổi mới”, “Thơ về người lính trên tạp chí Văn nghệ Quân đội”.

Hai cuốn sách của Tôn Phương Lan và Lý Hoài Thu đều hướng đến văn học chiến tranh, nhưng trong khi Tôn Phương Lan tập trung vào đề tài chiến tranh và người lính qua các hiện tượng thể loại, tác giả, tác phẩm thì Lý Hoài Thu quan tâm đến chủ thể viết là những nhà văn quân đội, để “nghiên cứu sâu các sáng tác của họ, tìm ở đó những cái mới mẻ sâu sắc để định danh cá tính sáng tạo” của mỗi văn nhân.

Nhà phê bình Tôn Phương Lan đã từng bước tiến vào đề tài chiến tranh bằng cái nhìn biện chứng cùng nhãn quan nghiên cứu chuyên sâu, cho thấy sự vận động và đổi mới đáng kể của tiểu thuyết viết về chiến tranh qua chùm bài “Một cách nhận diện sự vận động của tiểu thuyết sử thi”, “Bước chuyển quan trọng của tiểu thuyết sau 1975”, “Những thành tựu của tiểu thuyết chiến tranh”, “Mấy suy nghĩ về đề tài chiến tranh - vấn đề và hiện tượng”, “Nhà văn thế hệ mặc áo lính và đề tài chiến tranh”. Từ đó bà chọn ra những chân dung nhà văn tiêu biểu: “Di cảo Nguyễn Minh Châu và cái nhìn ngược sáng”, “Chiến tranh vẫn âm vang qua Xuân Thiều”, “Nguyễn Trọng Oánh - nhà văn đi từ chiến tranh”, “Nhà văn cầm súng liệt sĩ Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi”, “Liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý - nhà văn, người mẹ anh hùng”, “Anh Đức - nhà văn cách mạng và kháng chiến”, “Văn Lê viết từ trải nghiệm”, “Trầm Hương trong vòng xoáy chiến tranh”.

Với “Văn nhân quân đội”, Lý Hoài Thu như một “người bạn của các nhà văn quân đội”, không chỉ thân thiết trong đời thường mà còn là bạn tri âm trong từng tác phẩm của họ. Người viết dường như chạm tới phẩm tính, cái làm nên căn cước của mỗi nhà văn khi nhắc đến sáng tác của họ. Đó là: “Không gian Trường Sơn và giai điệu tình yêu trong thơ Phạm Tiến Duật”; là phát hiện tinh tế “Cây như là sinh mệnh thứ hai trong thơ Hữu Thỉnh”,“Lưu Quang Vũ - Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi”, “Trần Anh Thái - một cái tôi trường ca mang đầy thương tích” không chỉ viết về những người ở bên này cuộc chiến, mà còn viết về cả những nhân vật bên kia cuộc chiến:

“Xác quân thù xác bạn gục vào nhau
Kẻ thất trận dưới chân đồi lê bước
kéo hoàng hôn rã rời
Kẻ thắng trận hai tay ôm mặt khóc
Thương tích tạc vào gió thổi ngàn sau.”

Có thể nói, những cuốn sách lý luận phê bình của Ngô Thảo, Bùi Việt Thắng, Nguyễn Thanh Tú, Tôn Phương Lan và Lý Hoài Thu cho thấy quá khứ chiến tranh trong văn học không chỉ là gợi nhớ một cuộc chiến đã qua. Thực tế, không ít người muốn lãng quên thậm chí phủ nhận quá khứ. Nhưng phần đông công chúng và độc giả hiện nay vẫn mong chờ những tác phẩm văn học nghệ thuật thể hiện chân thực, khách quan, xúc động và nhân bản cuộc chiến đấu sinh tử của người lính như tiểu thuyết“Mưa đỏ” của Chu Lai, “Khúc ca người lính” của Nguyễn Trọng Tân, “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” của Nguyễn Một. Hơn bao giờ hết, cả nhà văn và người đọc mong muốn những tác phẩm đáp ứng “tầm đón đợi” của công chúng, giúp họ đối diện và tái nhận thức đa chiều về chiến tranh với những hào hùng, bi tráng, vinh quang và với cả những mất mát, chấn thương mà chiến tranh để lại. Chính những ám ảnh chiến tranh ấy đã âm thầm thẩm thấu vào ký ức của nhiều thế hệ, tác động đến quá trình sáng tạo và tiếp nhận của đội ngũ nhà văn đương đại, trong đó có sự góp mặt quan trọng của những cây bút nghiên cứu, lý luận và phê bình./.

Bài liên quan
  • Những lưu dấu văn hóa về Hà Nội qua ngôn từ văn chương
    Ngay từ nền văn học Việt Nam trung đại, những trước tác về miền đất thiêng (đất thánh) Đông Đô - Thăng Long - Hà Nội đã được ghi khắc trong sử văn: “Chiếu dời đô” (thế kỷ XI) của Lý Công Uẩn, “Thượng kinh ký sự” (thế kỷ XVIII) của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, “Vũ trung tùy bút” (thế kỷ XIX) của Phạm Đình Hổ, “Long Thành cầm giả ca” (thế kỷ XIX) của Nguyễn Du, “Thăng Long thành hoài cổ” (thế kỷ XIX) của Bà Huyện Thanh Quan.
(0) Bình luận
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Văn học với sứ mệnh bồi đắp hệ giá trị văn hóa và con người Hà Nội
    Văn học không chỉ phản ánh hiện thực mà còn góp phần lưu giữ ký ức dân tộc, kiến tạo hệ giá trị văn hóa và bồi đắp nhân cách con người. Trong bối cảnh đất nước và Thủ đô Hà Nội bước vào giai đoạn phát triển mới, sứ mệnh ấy càng trở nên quan trọng, đòi hỏi văn học tiếp tục đồng hành cùng đời sống, phát huy sức mạnh mềm của văn hóa và góp phần xây dựng hình ảnh người Hà Nội thanh lịch, văn minh trên nền tảng truyền thống và tinh thần sáng tạo.
  • Chương trình “Khúc quân hành” 2026: Hành trình một thập kỷ nghĩa tình tri ân
    Sáng 18/7, đoàn công tác Chương trình "Khúc quân hành” lần thứ X - năm 2026 do Tạp chí Người Hà Nội tổ chức nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026) đã đến viếng, dâng hoa, dâng hương tri ân các anh hùng, liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Đông Khê (Cao Bằng). Mở đầu chuỗi hoạt động, tại xã Đông Khê đoàn đã trao 150 suất quà tặng các thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách.
  • Học sinh Hà Nội mang về 7 tấm huy chương tại các kỳ thi Olympic quốc tế năm 2026
    Kỳ thi Olympic quốc tế năm 2026 đã ghi dấu ấn đậm nét của giáo dục Thủ đô khi các học sinh Hà Nội đóng góp tới 7 huy chương vào thành tích chung của các đội tuyển quốc gia. Với tổng cộng 4 Huy chương Vàng, 2 Huy chương Bạc và 1 Huy chương Đồng ở các bộ môn Toán học, Vật lí, Hóa học và Sinh học, kết quả này một lần nữa khẳng định vị thế dẫn đầu cùng chất lượng giáo dục mũi nhọn của Hà Nội.
  • Hà Nội quy định về dịch vụ chăm sóc người cao tuổi và khuyến khích sử dụng người lao động cao tuổi
    Nghị quyết đặc thù của Hà Nội theo Luật Thủ đô 2026 ưu đãi toàn diện cho các cơ sở chăm sóc người cao tuổi công lập và tư nhân về đất đai, nguồn vốn, đào tạo nhân lực và chuyển đổi số. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp sử dụng lao động lớn tuổi được hỗ trợ mạnh mẽ về lãi suất, mặt bằng và chi phí bảo hiểm tai nạn. Người cao tuổi khởi nghiệp hoặc có chuyên môn cao cũng được tạo điều kiện tiếp cận các chương trình đổi mới sáng tạo và hạ tầng nghiên cứu để tiếp tục cống hiến...
Đừng bỏ lỡ
  • Khai mạc tuần phim kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
    Tối 21/7, tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia (Hà Nội), Bộ VHTTDL tổ chức Lễ khai mạc Tuần phim Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026). Tuần phim sẽ diễn ra từ ngày 21 – 28/7/2026 tại hơn 190 cụm rạp trên toàn quốc.
  • Đưa Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam trở thành biểu tượng hội tụ bản sắc văn hóa dân tộc
    Việc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam được chuyển giao về thành phố Hà Nội quản lý không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với thiết chế văn hóa đặc biệt này mà còn tạo thêm động lực để Thủ đô hiện thực hóa mục tiêu đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển. Đó là định hướng được nhấn mạnh trong Thông báo số 573-TB/TU ngày 16/7/2026 của Văn phòng Thành ủy về kết luận của đồng chí Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy tại buổi làm việc với Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.
  • Khởi động Cuộc thi sáng tác Ca khúc và Logo về phường Mường Thanh năm 2026
    Ban tổ chức mong muốn thu hút, khuyến khích đội ngũ nhạc sĩ, họa sĩ chuyên nghiệp lẫn không chuyên trên toàn quốc đóng góp tài năng, trí tuệ. Từ đó, địa phương sẽ lựa chọn được một biểu trưng chính thức cùng những ca khúc tiêu biểu mang tính khái quát cao, phản ánh chân thực bản sắc độc đáo và dòng chảy phát triển của phường.
  • Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam
    Các nhà khoa học, chuyên gia và nhà quản lý... trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm cùng các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại TP Huế.
  • Hà Nội hỗ trợ mức cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể
    Theo nghị quyết mới được thông qua, phạm vi và đối tượng áp dụng được điều chỉnh hướng tới các chủ thể di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố, bao gồm Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, các câu lạc bộ, nhóm thực hành, nghệ nhân và người thực hành di sản. Đáng chú ý, Hà Nội quyết định giữ nguyên mức hỗ trợ rất cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể.
  • Phường Tây Hồ dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hà Nội
    Sáng 21/7, đoàn đại biểu Đảng ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Tây Hồ do đồng chí Nguyễn Đình Khuyến – Thành ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường làm trưởng đoàn đã đến đặt hoa, dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hà Nội.
  • Cảnh báo mạo danh Trung tâm Phục vụ hành chính công Hà Nội lừa đảo người hưởng lương hưu
    Khi nghi ngờ có dấu hiệu giả mạo hoặc phát hiện hành vi lợi dụng danh nghĩa Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội để lừa đảo, người dân cần phản ánh ngay qua Tổng đài 024 1022 (nhánh phím 7) hoặc thông báo cho cơ quan Công an nơi gần nhất để được hướng dẫn, xử lý theo quy định của pháp luật...
  • Vì sao The IELTS Workshop được hàng ngàn học viên lựa chọn để chinh phục IELTS?
    The IELTS Workshop được hàng ngàn học viên lựa để chinh phục IELTS là bởi đội ngũ giảng viên sở hữu khả năng ngoại ngữ xuất sắc, kỹ năng sư phạm giỏi.
  • Bệnh viện Tim Hà Nội: Dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên
    Hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026), mới đây, trong khuôn khổ chuyến công tác khám bệnh, tư vấn sức khỏe và trao quà cho các cựu chiến binh, người có công với cách mạng tại tỉnh Tuyên Quang, PGS.TS.BS Nguyễn Sinh Hiền - Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội cùng đoàn công tác của Bệnh viện đã đến dâng hương, tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên (tỉnh Tuyên Quang).
  • Mùa thu Hà Nội trong tôi đầy nhung nhớ
    Mùa thu luôn là nguồn cảm hứng bất tận để các nhà thơ họa nên trước mắt người đọc một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp thông qua ngôn ngữ của thơ ca. Nếu như với nhà thơ Hữu Thỉnh khoảnh khắc "sang thu" đến với thi sĩ thật bất ngờ thông qua mùi thơm nồng nàn của hương ổi: "Bỗng nhận ra hương ổi,...". Thì với Anh Thơ, mùa thu của tác giả lại là: "Gió heo may nổi bờ tre buồn xao xác...", mùa thu của tác giả bắt đầu từ cái se lạnh đặc trưng của làng quê Bắc bộ giản dị, và đầy hấp dẫn.
Thao thức với phần đời chiến trận
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO