Lý luận - phê bình

Thao thức với phần đời chiến trận

Nguyễn Bích Thu 06/12/2025 18:20

Có thể nói cuộc kháng chiến trường kỳ hào hùng và bi tráng của dân tộc, ở bất kỳ trạng huống nào dường như đã chi phối và tạo động lực cho đội ngũ văn nghệ sĩ, những người cầm bút suy nghĩ và sáng tạo. Ta hiểu vì sao ngay trong cuộc sống thời bình, trong đời sống dân sự, những hình ảnh của ngày hôm qua vẫn khiến con người luôn “thao thức với phần đời chiến trận”.

Như vậy, từ thực tế đời sống nói chung và văn chương nghệ thuật nói riêng của một đất nước hơn một lần chống giặc ngoại xâm như Việt Nam, ký ức về chiến tranh vẫn không thôi ám ảnh, nhắc nhớ và thôi thúc những người cầm bút tái nhận thức và tái tạo về một thời “hoa lửa”, một thời “mưa đỏ”, những hình ảnh mang tính biểu tượng của chiến tranh trong các trang viết hôm nay. Thông qua các sáng tác của nhà văn, những nhà phê bình lại có dịp cảm thụ và tiếp nhận hình ảnh quá khứ, những vùng trời ký ức lại một lần nữa trình hiện “kép” trên các trang nghiên cứu phê bình. Không phải ngẫu nhiên mà như một sự sắp đặt, đã hội tụ những cây bút quan tâm hoặc chuyên nghiên cứu, phê bình về văn học chiến tranh và người lính, tiêu biểu là các trường hợp: Ngô Thảo với “Từ cuộc đời chiến sĩ” (1978), “Văn học và người lính” (2001), “Thao thức với phần đời chiến trận” (2009), “Dĩ vãng phía trước” (2011), “Thư chiến trường” (2011), “Bốn nhà văn nhà số 4” (2020); Bùi Việt Thắng với “Khúc bi tráng thứ tư” (2022); Nguyễn Thanh Tú với “Văn học và chiến tranh” (2019); Tôn Phương Lan với “Âm vang chiến tranh” (2019) và Lý Hoài Thu với “Văn nhân quân đội” (2015). Có thể nói, ngay từ cách đặt tên sách, các tác giả đã thể hiện đề tài, chủ đề, ý tưởng mà mình hướng tới, xoáy sâu vào “cuộc đời chiến sĩ” không chỉ ở cảm hứng mà còn ở cách thức biểu hiện. Với họ “chạy trời không khỏi ra văn học về chiến tranh”.

anh-dai-dien.png
Các công trình lý luận phê bình nhìn từ chiến tranh cho thấy ký ức chiến tranh trong văn học vẫn tiếp tục được nhận diện, đối thoại và suy ngẫm.

Trong hơn chục tập tiểu luận phê bình, nhà văn, cựu chiến binh Ngô Thảo dường như nghiêng về tìm hiểu, nghiên cứu, phê bình văn học chiến tranh và người lính. Những tập tiểu luận phê bình của ông luôn hừng hực sức sống, sắc sảo, mang tính thời sự với những nhận định, đánh giá rành rẽ, thấu đáo và thuyết phục. Điều may mắn với nhà phê bình Ngô Thảo là ông không chỉ cảm nhận tác phẩm, mà còn sống cùng với chủ thể sáng tạo là những nhà văn cùng thời. Những tâm tình, suy nghĩ về nghề, về bạn bè đồng nghiệp hay cá tính của họ trong đời riêng hay trên trang viết, ông đều dự phần, chứng kiến và sẻ chia nên các tiểu luận, bài viết của ông đáng tin cậy và có sức truyền cảm.

Theo nhà phê bình Ngô Thảo, lịch sử chiến tranh bảo vệ và xây dựng đất nước cả thế kỷ qua “chắc chắn mãi mãi là kho tàng vô tận cho các sáng tạo văn học nghệ thuật trong tương lai. Chúng ta hi vọng là nhất định sẽ có nhiều tài năng lớn, có những tác phẩm lớn ghi lại một cách chân thực và xúc động về những năm tháng hầu như chỉ có trong một đời người, mà hoàn thành được một sự nghiệp nhiều ngàn đời mơ ước” (Lặng lẽ những đời văn, NXB Hội Nhà văn, 2021). Chính từ điều đó, ông có ý thức ghi chép rồi hình thành mảng tư liệu chuyện đời, chuyện văn của các nhà văn mặc áo lính, những người từ chiến sĩ viết văn trở thành nhà văn chiến sĩ. Tập ghi chép mang tính hồi ức “Dĩ vãng phía trước” (2011) ra đời, tiếp đó là tập tư liệu văn học hệ thống và chuyên sâu hơn về “Bốn nhà văn nhà số 4” (Nguyễn Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Thu Bồn, NXB Hội Nhà văn, 2020). Vì vậy không ngoa khi nói rằng cả đời văn của Ngô Thảo là “hành trình đi nhặt dĩ vãng, vun vén cho mai sau” (chữ của Văn Thành Lê). Xin chia sẻ với tác giả Ngô Thảo, có thể nói những nhà văn hiện diện trong tập sách này “tác phẩm của họ đã từng làm giàu có đời sống tinh thần của cả dân tộc, đã lần lượt thành người thiên cổ. Họ trọn đời là những người lính, từ đời lính, vì người lính mà viết văn, làm thơ; họ là sản phẩm của một thời đất nước có chiến tranh, từ cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc đó đã sản sinh ra một loạt nhân vật đặc biệt với lý tưởng vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”. Từ cái nhìn khái quát ấy, Ngô Thảo nhận ra trong cuộc hành quân gian lao và vĩ đại của các nhà văn áo lính đã có những người thành danh, nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật: Nguyễn Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu và Thu Bồn. Đây là cuốn tư liệu có đầy đủ tiểu sử và ảnh chân dung cùng những tiểu luận của ông về đời văn và những cống hiến mang đặc trưng phong cách của từng nhà văn mà ông đã đồng hành cùng họ trong một thời gian dài.

Với Nguyễn Thi, Ngô Thảo phát hiện hành trình từ “người tạc tượng các anh hùng” trở thành nhà văn anh hùng Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi. Đọc văn Nguyễn Khải, nhà phê bình nhận ra tính vấn đề của một ngòi bút viết cho hôm nay nhưng không dừng lại ở tính kịp thời mà vẫn tiềm ẩn trong nhà văn một người có “tầm nhìn xa” về thời cuộc và lịch sử dân tộc. Với Nguyễn Minh Châu, Ngô Thảo nhận thấy sự tương đồng và chuyển đổi trong sáng tác của nhà văn từ hai bài viết có nhan đề gần như trùng hợp: bài trước là phê bình tiểu thuyết “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu, bài sau là cái nhìn sâu sắc và đầy tiếc thương về một tài năng chưa đi hết cung đường sáng tạo của mình, dẫu đã có những truyện ngắn viết về người lính, về những góc khuất đời thường trong chiến tranh từng gây xôn xao dư luận của một “người mở đường tinh anh”.

Với Thu Bồn - người dường như gắn bó với Ngô Thảo hơn cả, có số phận đặc biệt vừa mạnh mẽ vừa yếu đuối, chân thành mà bất hạnh, tài năng mà thiệt thòi. Ông đã được nhà phê bình dành cho những lời đẹp đẽ: “người ta thường ví nhà văn nhà thơ lớn với cây đại thụ, nhưng sự nghiệp sáng tác đồ sộ của Thu Bồn gợi người đọc liên tưởng đến một cánh rừng nguyên sinh bởi sự phóng khoáng, hoang dã gắn với núi rừng Tây Nguyên đầy bí ẩn và kỳ lạ” (tr. 440). Với những cuốn sách phê bình kể trên, Ngô Thảo xứng đáng là nhà phê bình hàng đầu về văn học chiến tranh và người lính.

Tiếp theo Ngô Thảo là những nhà nghiên cứu phê bình văn học thế hệ thứ hai, có ý thức quan tâm đến mảng đề tài chiến tranh và nhà văn trong quân ngũ. Bùi Việt Thắng, Tôn Phương Lan, Lý Hoài Thu, Nguyễn Thanh Tú đều là các nhà phê bình văn học Việt Nam hiện đại trên nhiều bình diện như thể loại, tác gia, tác phẩm hay lý luận văn học. Trong quá trình đọc và viết, họ có những ngã rẽ riêng nhưng gặp nhau ở “tuyến đường” văn học chiến tranh. Bùi Việt Thắng nổi bật ở mảng phê bình trực chiến. Ông dường như đọc gần hết các tiểu thuyết viết về chiến tranh do cơ duyên gắn bó với văn học lực lượng vũ trang từ rất sớm, ngay từ đầu những năm tám mươi của thế kỷ XX. Dễ nhận ra vì sao ông cho ra mắt tập sách bao quát và chuyên sâu “Khúc bi tráng thứ tư”. Là một nhà phê bình đã có “thương hiệu”, các bài viết của ông như “Một cách viết về chiến tranh”, “Hồi ức chiến tranh như là ký ức lương thiện về quá khứ anh hùng”, “Sự trở lại của đề tài chiến tranh cách mạng”, “Sắc thái nữ quyền trong trang sách về chiến tranh”, “Những bản anh hùng ca bằng ngôn ngữ nghệ thuật về Điện Biên Phủ” thường ra đời đúng dịp kỷ niệm một sự kiện lớn nào đó và ông luôn đáp ứng yêu cầu thời sự và mong đợi của công chúng. Là người đọc nhiều nên ông nhanh nhạy tiếp cận các sáng tác mới viết về chiến tranh như Nguyễn Trọng Luân với “Rừng đói”, Hồ Sĩ Hậu với tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa”, Nguyễn Hùng Sơn với tiểu thuyết “Nằm ngất mây trắng”, Đặng Ngọc Hưng với “Hùng binh” (tiểu thuyết lịch sử), Dương Thiên Lý với “Vị tướng thành Nam”, bên cạnh các nhà văn quen thuộc như Chu Lai, Ma Văn Kháng, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Trí Huân, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Trọng Tân, Lê Hoài Nam… Nếu các bài viết của Bùi Việt Thắng thường ngắn gọn, khái quát thì “Văn học và chiến tranh” của Nguyễn Thanh Tú lại là các tiểu luận dài hơi, khẳng định thành tựu và đổi mới của tiểu thuyết chiến tranh qua bình diện thi pháp: “Tiểu thuyết sử thi giai đoạn 1945 - 1975 nhìn từ hôm nay”, “Tiểu thuyết sử thi từ 1975 đến cuối thế kỷ XX - những trăn trở tìm tòi”, “Đổi mới tiểu thuyết sử thi những năm đầu thế kỷ XXI”, “Không gian tâm linh - một nét đổi mới của tiểu thuyết đề tài chiến tranh”, “Đổi mới mô hình không gian trong tiểu thuyết sử thi”. Về thơ, ông cũng nghiêng về thể trường ca và tiếp cận từ thi pháp thể loại với các bài: “Trường ca sử thi đương đại từ góc nhìn văn hóa”, “Trường ca sử thi - những tìm tòi đổi mới”, “Thơ về người lính trên tạp chí Văn nghệ Quân đội”.

Hai cuốn sách của Tôn Phương Lan và Lý Hoài Thu đều hướng đến văn học chiến tranh, nhưng trong khi Tôn Phương Lan tập trung vào đề tài chiến tranh và người lính qua các hiện tượng thể loại, tác giả, tác phẩm thì Lý Hoài Thu quan tâm đến chủ thể viết là những nhà văn quân đội, để “nghiên cứu sâu các sáng tác của họ, tìm ở đó những cái mới mẻ sâu sắc để định danh cá tính sáng tạo” của mỗi văn nhân.

Nhà phê bình Tôn Phương Lan đã từng bước tiến vào đề tài chiến tranh bằng cái nhìn biện chứng cùng nhãn quan nghiên cứu chuyên sâu, cho thấy sự vận động và đổi mới đáng kể của tiểu thuyết viết về chiến tranh qua chùm bài “Một cách nhận diện sự vận động của tiểu thuyết sử thi”, “Bước chuyển quan trọng của tiểu thuyết sau 1975”, “Những thành tựu của tiểu thuyết chiến tranh”, “Mấy suy nghĩ về đề tài chiến tranh - vấn đề và hiện tượng”, “Nhà văn thế hệ mặc áo lính và đề tài chiến tranh”. Từ đó bà chọn ra những chân dung nhà văn tiêu biểu: “Di cảo Nguyễn Minh Châu và cái nhìn ngược sáng”, “Chiến tranh vẫn âm vang qua Xuân Thiều”, “Nguyễn Trọng Oánh - nhà văn đi từ chiến tranh”, “Nhà văn cầm súng liệt sĩ Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi”, “Liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý - nhà văn, người mẹ anh hùng”, “Anh Đức - nhà văn cách mạng và kháng chiến”, “Văn Lê viết từ trải nghiệm”, “Trầm Hương trong vòng xoáy chiến tranh”.

Với “Văn nhân quân đội”, Lý Hoài Thu như một “người bạn của các nhà văn quân đội”, không chỉ thân thiết trong đời thường mà còn là bạn tri âm trong từng tác phẩm của họ. Người viết dường như chạm tới phẩm tính, cái làm nên căn cước của mỗi nhà văn khi nhắc đến sáng tác của họ. Đó là: “Không gian Trường Sơn và giai điệu tình yêu trong thơ Phạm Tiến Duật”; là phát hiện tinh tế “Cây như là sinh mệnh thứ hai trong thơ Hữu Thỉnh”,“Lưu Quang Vũ - Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi”, “Trần Anh Thái - một cái tôi trường ca mang đầy thương tích” không chỉ viết về những người ở bên này cuộc chiến, mà còn viết về cả những nhân vật bên kia cuộc chiến:

“Xác quân thù xác bạn gục vào nhau
Kẻ thất trận dưới chân đồi lê bước
kéo hoàng hôn rã rời
Kẻ thắng trận hai tay ôm mặt khóc
Thương tích tạc vào gió thổi ngàn sau.”

Có thể nói, những cuốn sách lý luận phê bình của Ngô Thảo, Bùi Việt Thắng, Nguyễn Thanh Tú, Tôn Phương Lan và Lý Hoài Thu cho thấy quá khứ chiến tranh trong văn học không chỉ là gợi nhớ một cuộc chiến đã qua. Thực tế, không ít người muốn lãng quên thậm chí phủ nhận quá khứ. Nhưng phần đông công chúng và độc giả hiện nay vẫn mong chờ những tác phẩm văn học nghệ thuật thể hiện chân thực, khách quan, xúc động và nhân bản cuộc chiến đấu sinh tử của người lính như tiểu thuyết“Mưa đỏ” của Chu Lai, “Khúc ca người lính” của Nguyễn Trọng Tân, “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” của Nguyễn Một. Hơn bao giờ hết, cả nhà văn và người đọc mong muốn những tác phẩm đáp ứng “tầm đón đợi” của công chúng, giúp họ đối diện và tái nhận thức đa chiều về chiến tranh với những hào hùng, bi tráng, vinh quang và với cả những mất mát, chấn thương mà chiến tranh để lại. Chính những ám ảnh chiến tranh ấy đã âm thầm thẩm thấu vào ký ức của nhiều thế hệ, tác động đến quá trình sáng tạo và tiếp nhận của đội ngũ nhà văn đương đại, trong đó có sự góp mặt quan trọng của những cây bút nghiên cứu, lý luận và phê bình./.

Bài liên quan
  • Những lưu dấu văn hóa về Hà Nội qua ngôn từ văn chương
    Ngay từ nền văn học Việt Nam trung đại, những trước tác về miền đất thiêng (đất thánh) Đông Đô - Thăng Long - Hà Nội đã được ghi khắc trong sử văn: “Chiếu dời đô” (thế kỷ XI) của Lý Công Uẩn, “Thượng kinh ký sự” (thế kỷ XVIII) của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, “Vũ trung tùy bút” (thế kỷ XIX) của Phạm Đình Hổ, “Long Thành cầm giả ca” (thế kỷ XIX) của Nguyễn Du, “Thăng Long thành hoài cổ” (thế kỷ XIX) của Bà Huyện Thanh Quan.
(0) Bình luận
  • Bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt
    Trường ca “Thần Nông chân đất” của nhà thơ Phùng Trung Tập (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 12 chương, với 184 trang. Tác phẩm tái hiện và ngợi ca lao động nông nghiệp như nền tảng sinh tồn của cộng đồng Việt, đồng thời đưa người nông dân lên tầm biểu tượng văn hóa - lịch sử - những “Thần Nông chân đất” đã mở cõi, dựng làng, giữ nước và truyền sinh khí cho non sông qua hàng nghìn năm. Đây là bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt Nam trong chiều dài lịch sử dân tộc.
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Từ những trang sách đến không gian văn hóa tri thức của Thủ đô
    Thành ủy Hà Nội ban hành Chương trình hành động số 16-CTr/TU ngày 24/8/2026 thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới. Đây không chỉ là định hướng phát triển một lĩnh vực thuộc đời sống tư tưởng, văn hóa, mà còn đặt ra yêu cầu xây dựng hệ sinh thái xuất bản, thư viện và văn hóa đọc hiện đại, qua đó bồi đắp đời sống tinh thần, khơi mở tri thức và góp phần làm sâu sắc thêm bản sắc văn hóa Thăng Long – Hà Nội.
  • Bảo tàng Hà Nội hòa dòng chảy sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa
    Là thiết chế văn hóa quan trọng của Thủ đô, cùng với việc lưu giữ và phát huy giá trị di sản, Bảo tàng Hà Nội đã, đang trở thành điểm đến của các sự kiện văn hóa nghệ thuật góp phần phát triển công nghiệp văn hóa Hà Nội trong thời kỳ mới. Đáng chú ý, Bảo tàng Hà Nội sẽ là nơi gặp gỡ giữa di sản, nghệ thuật, sáng tạo và cộng đồng, đưa những giá trị văn hóa của Thủ đô đến gần hơn với công chúng qua các hoạt động thuộc Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026 vào tháng 9 này.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Vòng xoáy yêu thương (Kỳ 2)
    Thành ơi, bố về! Thằng bé lên ba, mũm mĩm trắng trẻo, xinh xắn như một nụ hồng, lẫm chẫm chạy ra đã thấy mẹ nó lọt trong vòng tay của bố...
  • Triển khai hệ thống khám, chữa bệnh từ xa kết nối từ Sở Y tế Hà Nội đến trạm y tế tuyến xã, phường
    Nhằm giảm áp lực quá tải cho tuyến trên và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu, Hà Nội triển khai xây dựng hệ thống khám, chữa bệnh từ xa (Telehealth) kết nối toàn diện từ Sở Y tế đến 126 trạm y tế cơ sở. Mạng lưới ứng dụng công nghệ hiện đại, chuẩn hóa dữ liệu y tế giúp đưa đội ngũ chuyên gia đầu ngành hỗ trợ trực tiếp cho tuyến dưới theo thời gian thực.
  • Trưng bày, triển lãm ảnh và sản phẩm đặc trưng Việt Nam – Nhật Bản
    Ngày 5/9, tại Nhà hát Sông Hương (TP Huế) trong khuôn khổ Diễn đàn hợp tác địa phương Việt – Nhật năm 2026 đã diễn ra khai mạc Không gian trưng bày, triển lãm ảnh và sản phẩm đặc trưng Việt Nam – Nhật Bản. Đến tham dự có ông Hà Văn Tuấn - Phó Chủ tịch UBND TP Huế cùng đại diện lãnh đạo các sở, ngành.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội lấy ý kiến người dân về điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
    Hà Nội chuẩn bị lấy ý kiến người dân, chuyên gia và các cơ quan liên quan về điều chỉnh tổng thể quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở.
  • Nhà thơ Cao Ngọc Thắng: Cần mẫn cày ải trên cánh đồng chữ…
    Tôi biết Cao Ngọc Thắng khá sớm, quãng những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Lần đầu tôi gặp ông tại 58 Quán Sứ, Hà Nội, trụ sở của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Khi ấy, ông mới vào cuộc đời làm báo, còn tôi cũng vậy. Cao Ngọc Thắng nguyên là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đóng chân ở Xuân Hòa (Vĩnh Phú cũ), còn tôi thì nguyên là kỹ sư canh nông ở mãi vùng biên giới Tây Nam, Bảy Núi, An Giang. Vì những duyên do khác nhau, cả hai đều bỏ nghề chuyên môn, chọn Thủ đô để theo nghề báo chuyên nghiệp.
  • “Những lớp phù sa” kể chuyện văn hóa Bắc Bộ trên sân khấu đương đại
    Từ hình tượng một giọt nước bắt đầu hành trình theo dòng sông Hồng, “Những lớp phù sa” mở ra câu chuyện về đất, người và những lớp ký ức văn hóa Bắc Bộ. Kết hợp múa dân gian đương đại với âm nhạc truyền thống, nghệ thuật thị giác và công nghệ đa phương tiện, chương trình hướng tới một cách kể mới về những giá trị văn hóa đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
  • "Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai" 2026: Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai
    Lễ hội mang chủ đề "Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai", dự kiến chính thức diễn ra từ ngày 01/10 đến ngày 04/10/2026 tại không gian Hoàng thành Thăng Long. Sự kiện quy tụ nhiều hoạt động phong phú như Lễ hội âm nhạc “Hòa nhạc năm châu”, Làng Văn hóa Thế giới, Lễ hội đường phố “Sắc màu năm châu”, Lễ hội “Ẩm thực năm châu”, chương trình chiếu phim, cùng khu vực trải nghiệm sáng tạo từ di sản với Festival Games Quốc tế...
  • [Podcast] Tản văn: Quán cóc
    Gọi là “quán trà/ quán cóc” theo thói quen chứ thực ra hầu hết là các hàng trà chén ngồi ghé đầu hè, đầu ngách, nép bên cột điện, gốc cây..., chứ chẳng có lều có quán gì! Không nhẽ gọi là “quán trà - không quán”!
  • Trao giải cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”
    Vào 19h30, ngày 4/9 tại Thái Học, Văn Miếu – Quốc Tử Giám sẽ diễn ra Đêm Chung kết và Lễ trao giải Cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”.
  • Chương trình nghệ thuật “Giai điệu Tổ quốc” lan tỏa tình yêu quê hương, đất nước
    Tối 31/8, tại xã Bát Tràng, Nhà hát Cải lương Hà Nội tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề "Giai điệu Tổ Quốc", chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2026).
  • Cận cảnh lăng mộ vị vua thứ 6 triều Nguyễn trị vì 130 ngày
    Trị vì được 130 ngày thì mất, vị vua thứ 6 triều Nguyễn có lăng mộ nằm giữa rừng thông khá khiêm tốn nhưng vẫn đảm bảo tính uy nghiêm về khu lăng mộ của một bậc hoàng đế.
  • Người dân thích thú với "bữa tiệc" ánh sáng quanh hồ Hoàn Kiếm
    Trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, hồ Gươm là một trong những điểm đến thu hút đông đảo người dân và du khách với không gian cảnh quan được chỉnh trang, khoác lên diện mạo mới cùng hệ thống chiếu sáng nghệ thuật hiện đại, giàu tính thẩm mỹ.
  • Nhiều tiết mục xiếc đặc sắc trong kỳ nghỉ lễ 2/9 bên hồ Hoàn Kiếm
    Tối 30/8, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” tiếp tục diễn ra tại Nhà Bát giác (Hoàn Kiếm, Hà Nội). Chương trình mang đến cho khán giả nhiều tiết mục xiếc, tạp kỹ, ảo thuật đặc sắc tạo nên những phút giây thư giãn, đồng thời mở ra một cách tiếp cận nghệ thuật gần gũi đối với khán giả nhỏ tuổi.
Thao thức với phần đời chiến trận
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO