Lý luận - phê bình

Thơ ca về những người xả thân vì nghĩa lớn

Nhà thơ Phạm Đình Ân 08:54 15/07/2025

Nhân dân ta trải qua hàng nghìn năm chống chọi với thiên tai, giữ cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nhưng trên hết, chiến tranh chống ngoại bang xâm lược hung tàn, dai dẳng là thử thách lớn nhất đối với Tổ quốc, dân tộc.

Nhiều người vì nghĩa lớn mà phải chịu thương tật nặng nề suốt đời, hơn thế nữa, phải hy sinh cả tính mạng, gây tổn hại tinh thần và vật chất đối với gia đình, người thân. Họ mãi mãi được vinh danh trong sử sách, trong tâm khảm người dân đương thời và hậu thế. Tuy nhiên, văn chương thời trung đại chỉ nghiêng nhiều về phía khẳng định, đề cao công lao, sự nghiệp của họ khi họ còn khỏe, còn “hành đạo”. Thơ văn nói sâu về thương tật, về cái chết của họ chưa trở thành một hướng tiếp cận kiểu như đề tài thương binh liệt sĩ (TBLS) hiện nay.

untitled-2.jpg

Từ đầu thế kỷ XX, khái niệm “Thương binh Liệt sĩ” dần hình thành rõ nét, để rồi từ đó, đề tài TBLS trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), tiếp theo là cuộc chống Mỹ (1955 - 1975) được nhiều tác giả tham gia. Thơ như nỗi niềm tiếc nhớ, ghi ơn, tri ân từ một góc nhìn, một lát cắt, một khoảnh khắc về hiện thực đời sống, cho nên nội dung đề cập TBLS tập trung hơn văn xuôi. Độc giả dễ tìm ra những bài thơ tiêu biểu ở thời đoạn 1945 - 1975: “Lượm”, “Hãy nhớ lấy lời tôi”, “Người con gái Việt Nam” (Tố Hữu), “Núi Đôi” (Vũ Cao), “Mồ anh hoa nở” (Thanh Hải), “Viếng bạn” (Hoàng Lộc), “Quê hương” (Giang Nam), “Tiếng hát Quốc ca” (Huỳnh Văn Nghệ), “Nhớ máu” (Trần Mai Ninh), “Tôi khiêng anh bạn” (Quản Tập), “Viếng mồ liệt sĩ” (Hồ Tùng Mậu), “Bài ca chim Chơ Rao” (Thu Bồn), “Hoa Chanh” (Nguyễn Bao), “Một bàn chân” (Lữ Giang), “Ngã ba Đồng Lộc” (Huy Cận), “Khoảng trời hố bom” (Lâm Thị Mỹ Dạ), “Nấm mộ và cây trầm”, “Màu hoa đỏ” (Nguyễn Đức Mậu), “Sống chết quang vinh” (Nguyễn Trọng Oánh), “Sự hy sinh của một tiểu đội” (Xuân Hoàng)...

Sau 1975, do hoạt động hướng về nguồn cội, uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa sôi nổi khắp mọi miền đất nước và từ mỗi gia đình, đồng thời với việc chăm sóc thương binh, đi tìm mộ liệt sĩ, cộng với niềm tin tâm linh nổi trội mà nhiều nhà văn rất chú ý đến sáng tác về đề tài TBLS. Từ trung ương đến địa phương, ngoài các hội văn học, nghệ thuật thì một số bộ, ban, ngành… đã tổ chức cuộc vận động hoặc cuộc thi sáng tác về đề tài TBLS. Các tác giả hầu hết là người đã và đang tại ngũ hoặc từng trải qua chiến tranh. Có nhà thơ viết về liệt sĩ, sau đó lại là liệt sĩ, như Lê Anh Xuân với bài thơ nổi tiếng “Dáng đứng Việt Nam”. (Cũng có những bài viết về nhà thơ, nhà văn liệt sĩ, trong đó có liệt sĩ Lê Anh Xuân, đó là bài “Ý nghĩ bất chợt trong nghĩa trang chiều” của Diệp Minh Tuyền). Nếu khảo sát trên ấn phẩm cả nước, có thể thấy đến hàng nghìn bài thơ và nhiều trường ca hoặc truyện ngắn chỉ viết về TBLS. Nói riêng về thơ đã in sách, báo trung ương mà độc giả đã biết hoặc rất dễ tìm đọc, thì có thể tạm kể một số tác giả và tác phẩm sau: Thanh Quế với “Trưa 30-4-1975”, Hữu Thỉnh với “Phan Thiết có anh tôi”, Trần Ninh Hồ với “Viếng chồng”, Nguyễn Thái Sơn với “Thăm mộ chiều cuối năm” và “Ảnh thờ”, Ngô Thế Oanh với “Vô danh”, Nguyễn Hữu Quý với “Khát vọng Trường Sơn”, “Cơn mưa rừng chiều nay” và “Chuyện đi tìm mộ liệt sĩ”, Vũ Bình Lục với “Đám cưới một linh hồn” và “Vuốt mắt cho cánh rừng”, Lê Văn Vọng với “Viếng mộ”, Mai Nam Thắng với “Hoa loa kèn”, “Lau trắng Điện Biên”, “Rau tập tàng”, Lê Đình Cánh với “Gió đất”, “Xem nhờ ti-vi”, Dương Thuấn với “Một ngày một đêm”, Vương Cường với “Cõng bạn đi chơi”, Nguyễn Linh Khiếu với “Chiều thanh tước”, Đinh Phạm Thái với “Cái roi ngày ấy”, Trần Quang Nhật với “Mừng vợ bạn lấy chồng”. Những sự kiện lớn gây tổn thất nặng nề ở các địa danh lịch sử Đồng Lộc, Truông Bồn, Thành cổ Quảng Trị… đã lay động sâu sắc tâm can nhiều tác giả, khiến họ cho ra đời những bài thơ, trường ca nói đến TBLS có giá trị cao về tư tưởng và thẩm mỹ. Ngoài ra, hình ảnh TBLS kiên cường, quả cảm ở các mặt trận khác như biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam hay trên lãnh thổ nước bạn Lào và biển đảo cũng được tái hiện một cách chân thực và xúc động trên các trang thơ.

Tác giả Nguyễn Hà Huy đã rất đúng khi cho rằng “có một tượng đài Đồng Lộc trong thơ” (Tạp chí Hồng Lĩnh - Hà Tĩnh, số 7-2018). Viết sớm nhất về Đồng Lộc là Huy Cận, viết hay nhất sau này là Yến Thanh với bài “Cúc ơi”, Vương Trọng với bài “Lời thỉnh cầu ở Ngã ba Đồng Lộc”, Nguyễn Trọng Tạo với trường ca “Con đường của những vì sao”. Và hàng trăm thi phẩm khác. “Gặp lại các em” của Nguyễn Đình Chiến đăng trên báo Văn nghệ khoảng đầu những năm 80 thế kỷ trước là một bài thơ thuộc loại xuất sắc viết về sự hy sinh của lính trẻ ở mặt trận biên giới phía Bắc. Hình ảnh mộ gió xuất nhiều trong những thi phẩm nói về liệt sĩ không có mộ ở ngoài khơi biển đảo Tổ quốc. Bài thơ “Mộ gió” của Trịnh Công Lộc là một trong những bài thơ thuộc mô típ này được độc giả chú ý.

Số lượng thi phẩm về thương binh không nhiều nhưng có những bài đã ghi dấu ấn vào lịch sử thơ ca hiện đại như: “Người con gái Việt Nam” (Tố Hữu), “Tiếng hát Quốc ca” (Huỳnh Văn Nghệ), “Hoa chanh” (Nguyễn Bao)… Hình tượng người thương binh còn có trong những trường ca viết về chiến tranh. Do thế mạnh của thể loại ở một góc độ nhất định thì truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký, hồi ký, tản văn… đã viết nhiều về cựu chiến binh - thương binh, bù cho thơ một cách vừa vô tình vừa hữu ý.

Bên cạnh những bài thơ khai thác hình tượng mang tính biểu tượng và khái quát như núi Vọng Phu, nghĩa trang, liệt sĩ vô danh, hành trình tìm mộ hay các địa danh linh thiêng, còn có nhiều sáng tác đi vào những khía cạnh riêng tư, sâu lắng về gia đình và hạnh phúc. Hoàn cảnh hy sinh của mỗi liệt sĩ thường rất khác nhau, thi thể gửi lại cũng không ai giống ai. Vì thế, thơ viết về các anh, các chị cũng muôn hình muôn vẻ. Với liệt sĩ, người tưởng nhớ họ không chỉ là bố mẹ, vợ chồng, con cháu, mà còn là người yêu, đồng đội, bạn bè. Mỗi người sống mang một số phận riêng, nên cũng có cảm xúc riêng trong nỗi đau chung, nhất là khi đối diện với hài cốt liệt sĩ hoặc thưa chuyện với linh hồn họ. Từ đó, những tứ thơ lạ, những bài thơ hay đã ra đời. Chẳng hạn như bài thơ “Cõng bạn đi chơi” thuật lại cảnh một bạn đồng ngũ cõng liệt sĩ về quê gặp mẹ và vợ. Bài thơ như một giấc mơ đầy ám ảnh tâm linh. Bài thơ “Mừng vợ bạn lấy chồng” tạo được tứ thơ mới về liệt sĩ với cách nhìn đầy nhân ái. Bài “Cái roi ngày ấy” cho độc giả biết cái roi kỷ niệm bố mẹ ngày trước đánh con nhằm răn đe nhẹ nhàng khi con lười học, mải chơi vẫn mãi mãi còn đây mà đứa con yêu dứt ruột đẻ ra ấy nay không còn nữa. (Trường Sơn một dải xanh rì/ Đất đen đất đỏ lấy gì chôn con). Hàng nghìn gia đình có liệt sĩ mà cảnh ngộ trùng hợp như trên, đọc bài thơ có lẽ đều không cầm được nước mắt.

Từ xúc cảm tưởng nhớ, tôn vinh, tri ân, đền đáp đến suy ngẫm là một bước tiến dài của thơ viết về TBLS. Sau 1975, nhất là sau Đổi mới, thơ viết về TBLS chuyển biến mạnh về chất lượng. Nhiều tác giả và tác phẩm hơn, nhiều trường ca hơn, cách viết sáng tạo hơn. Người viết về đau thương mất mát vì nghĩa lớn không còn bị dè dặt ngòi bút. Thơ đi sâu về nhiều ngả riêng tư, đậm chất tâm linh. Âm hưởng bi tráng mang tính cộng đồng xã hội bao trùm mọi trang thơ, cả ở những trường hợp nói đến cái nhỏ nhất thuộc về gia đình, số phận một con người cụ thể.

Từ xúc cảm tưởng nhớ, tôn vinh, tri ân đến suy ngẫm là một bước tiến dài của thơ viết về TBLS. Sau 1975, đặc biệt là từ sau Đổi mới, thơ về đề tài này chuyển biến mạnh về chất lượng: nhiều tác giả, nhiều tác phẩm, nhiều trường ca hơn, cách viết cũng sáng tạo hơn. Người viết không còn dè dặt khi nói về đau thương, mất mát vì nghĩa lớn. Thơ đi sâu vào những ngả riêng tư, đậm chất tâm linh. Âm hưởng bi tráng mang tính cộng đồng xã hội bao trùm lên trang viết.

Ánh mắt người liệt sĩ vẫn mãi dõi theo chúng ta - không chỉ một ai, mà là tất cả. Đó không chỉ là niềm đau hay sự căm hờn, mà trước hết và sau cùng là tình yêu sâu nặng với đồng bào, là lẽ sống cao đẹp, là lời nhắn gửi về trách nhiệm của người ở lại - trong đó có những người cầm bút đối với những người đã ngã xuống, với nhân dân, với Tổ quốc./.

Bài liên quan
  • “Con đường tương lai ” – Hành trình trí tuệ nối dài khát vọng Việt
    Nhân dịp kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, ngày 19/6, tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội, Viện Nhân học Văn hóa, Viện Khoa học Giáo dục và Môi trường kết hợp với Sàn văn hóa Học và Đọc Việt Nam, Nhà xuất bản Thể thao và Du lịch tổ chức Hội thảo khoa học đánh giá tập 1 và định hướng tập tiếp theo của dự án sách “Con đường tương lai”.
(0) Bình luận
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
  • Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
    Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Triển lãm ảnh tư liệu “Âm vang ngày mới” tại Hoàng Thành Thăng Long
    Nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội tổ chức triển lãm ảnh tư liệu với chủ đề “Âm vang ngày mới”.
  • Dấu son trang sử hào hùng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
    Trong hai năm 1970 – 1971, những thắng lợi của chiến tranh cách mạng ba nước Đông Dương gồm Việt Nam – Lào – Campuchia đã tạo thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống đế quốc, cứu nước của Nhân dân ta đi đến ngày toàn thắng: miền Nam được giải phóng, non sông nối liền một dải.
  • Hà Nội đẹp dịu dàng mùa hoa giáng hương
    Khi những chùm hoa bằng lăng tím bắt đầu nhuộm sắc phố phường, khi nắng đầu hạ trở nên vàng hơn và ve khe khẽ gọi mùa, Hà Nội lại bước vào thời khắc chuyển mình quen thuộc. Giữa bản giao hưởng của muôn loài hoa báo hiệu mùa hè tới, giáng hương nở rộ mang theo hương thơm dịu dàng, khiến người đi đường không khỏi vấn vương.
  • Miễn phí vé tham quan Bảo tàng Hà Nội dịp 30/4, 1/5
    Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 140 năm Ngày Quốc tế Lao động, Bảo tàng Hà Nội mang đến chương trình ưu đãi đặc biệt miễn phí toàn bộ vé tham quan vào 2 ngày 30/4 và 1/5/2026, tạo cơ hội cho mọi người khám phá chiều sâu lịch sử - văn hóa Thăng Long - Hà Nội mà không tốn chi phí.
  • Từ ngày 30/4/2026, Hà Nội tiếp tục đưa thêm 52 xe buýt điện vào hoạt động
    Từ ngày 30/4, thành phố Hà Nội tiếp tục đưa thêm 52 xe buýt điện vào hoạt động trên 4 tuyến, nâng tổng số phương tiện xanh lên 797 xe. Kết quả này không chỉ vượt kế hoạch đề ra mà còn khẳng định quyết tâm xây dựng hệ thống giao thông công cộng xanh, hiện đại, bền vững
Đừng bỏ lỡ
  • Đưa tri thức, công nghệ và văn hóa thành “hạt nhân” bứt phá của Thủ đô Hà Nội
    Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tính bước ngoặt về triết lý phát triển Thủ đô Hà Nội trong thế kỷ XXI. Đứng trước thời điểm của lịch sử và thách thức thời đại, Nghị quyết số 02 đã đặt ra một chiến lược bước ngoặt thiết lập một mô hình tăng trưởng hoàn toàn mới.
  • Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ 2 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage flow”
    Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng vừa ký ban hành Kế hoạch số 173/KH-UBND ngày 28/4/2026 về tổ chức “Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II, năm 2026”. Festival nhằm bảo tồn, phát huy và lan tỏa các giá trị văn hóa đặc sắc của Thăng Long - Hà Nội và văn hóa Việt Nam, đồng thời góp phần thực hiện các Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô.
  • Triển lãm “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi”: Bồi đắp, lan tỏa Hà Nội - Thành phố Sáng tạo
    Chiều 29/4, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với Câu lạc bộ Họa sĩ màu nước Hà Nội (HWA), Ban vận động mỹ thuật và ngoại giao văn hóa tổ chức triển lãm mỹ thuật “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi” tại tầng 1 - tòa nhà 47 Hàng Dầu ( Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội).
  • Trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”
    Chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026) và 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2026), Trung tâm Văn hóa và Thư viện Hà Nội giới thiệu không gian trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”.
  • Lên chuyến tàu đoàn viên mừng 51 năm ngày thống nhất đất nước
    Khác với những chuyến tàu thông thường, xuất phát từ ga Hà Nội, chuyến tàu đoàn viên diễn ra từ 27/4 tới hết 3/5, đưa người dân và du khách trở về với những dấu mốc thiêng liêng của toàn thể dân tộc giữa lòng Thủ đô.
  • Lan tỏa niềm tự hào, kết nối giá trị văn hóa và khát vọng Việt Nam
    Tối 28/4, tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình, chương trình nghệ thuật đặc biệt “Âm vang Tổ quốc” đã diễn ra quy mô lớn, thu hút khoảng 40.000 khán giả trực tiếp cùng hàng triệu người theo dõi qua truyền hình và các nền tảng số.
  • Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 24/4/2026 về tổ chức các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026). Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu tuyên truyền sâu rộng ý nghĩa lịch sử trọng đại của sự kiện, giáo dục truyền thống yêu nước, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực xây dựng và phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Hà Nội rực rỡ cờ hoa vào những ngày tháng Tư lịch sử
    Những ngày cuối tháng 4, Hà Nội khoác lên mình diện mạo mới với cờ hoa, pano, áp phích khổ lớn, chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026). Các tuyến phố trung tâm như Tràng Tiền, Lê Duẩn, Hai Bà Trưng, đặc biệt khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm, đã được trang trí nổi bật với các biểu tượng lịch sử, khẩu hiệu lớn, mang thông điệp về một mốc son quan trọng trong lịch sử dân tộc.
  • Hà Nội phê duyệt Phương án Tái cấu trúc thủ tục hành chính lĩnh vực Văn hóa và Nghệ thuật
    UBND Thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định 530/QĐ-TTPVHCC phê duyệt phương án tái cấu trúc thủ tục hành chính trong lĩnh vực Mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm và Nghệ thuật biểu diễn thuộc phạm vi quản lý của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội. Quyết định này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc số hóa và cải thiện hiệu quả hoạt động của các thủ tục hành chính trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật tại Hà Nội.
  • Chương trình nghệ thuật “Âm vang Tổ quốc” thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa
    Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Thành phố Hà Nội trở thành điểm hẹn của những chương trình nghệ thuật đặc sắc, được đầu tư công phu, bài bản và sáng tạo bám sát tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Thơ ca về những người xả thân vì nghĩa lớn
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO