Lý luận - phê bình

Từ một câu chuyện của chiến tranh

Nhà thơ Lê Thành Nghị 10:38 17/04/2026

Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.

Điều này, tự nó mang trong mình vô vàn những điều mà lịch sử có thể phải tạm thời bước qua hoặc lãng quên, để lại những “bí mật” giữa các mối quan hệ. Có những lầm lẫn trở thành bi kịch cá nhân, có những câu chuyện tình lãng mạn nhưng đẫm nước mắt. Tiểu thuyết “Chuyện tình thời hậu chiến” của Thế Đức kể lại một trường hợp éo le như thế.

anh-bia-sach.jpg

Trong số hàng vạn con người bước ra từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, trường hợp của nữ chiến sĩ Anh Trâm có thể xem là đặc biệt. Chị là một quân y dũng cảm, từng tham gia nhiều trận chiến ác liệt, nhưng khi trở về hậu phương lại mang theo đứa con gái sinh ra giữa bom đạn - kết quả của mối tình lãng mạn với Đoàn, một trung đoàn trưởng trẻ tuổi, tài năng và đầy triển vọng. Tình cảnh “lỡ làng” bất đắc dĩ ấy khiến chị phải đối diện với không ít khó khăn, nghi ngại và định kiến. Đối với một số người, đó là chuyện không thể chấp nhận được trong bối cảnh mọi người đều phải dốc toàn bộ sức lực cho cuộc chiến đang vào giai đoạn quyết liệt.

Nhưng chiến tranh không cho phép con người chỉ nghĩ đến hạnh phúc riêng. Anh Trâm và con gái vẫn tiếp tục sống qua chiến tranh và nhiều năm sau hòa bình trong tình trạng mất liên lạc với Đoàn. Mãi đến khi Phương Anh (con gái Anh Trâm) tình cờ gặp gỡ và yêu Huy (con trai nuôi của Đoàn), những mối liên hệ tưởng như đã đứt gãy mới dần được nối lại. Từ mối tình của đôi trẻ, những hiểu lầm trong quá khứ dần được tháo gỡ, dẫn tới cuộc đoàn tụ đầy xúc động giữa những người đồng đội từng một thời sống chết bên nhau nơi chiến trường.

Đó là cốt truyện có thể tóm lược của cuốn tiểu thuyết gần 400 trang. Tuy nhiên, điều đáng chú ý không chỉ nằm ở câu chuyện, mà còn ở vốn hiểu biết sâu sắc về con người trong chiến tranh, thái độ chính trị rõ ràng trước những biến động của thời cuộc, cùng một lựa chọn đạo đức giàu tính nhân văn về số phận và hạnh phúc con người trong chiến tranh; đồng thời gợi mở quan niệm thẩm mỹ của tác giả về thể loại tiểu thuyết trong quá trình sáng tạo.

Bối cảnh mà Thế Đức lựa chọn cho câu chuyện là thời điểm sau khi Hiệp định Paris được ký kết. Sau nhiều năm bom đạn, hòa bình dường như một niềm ước ao cháy bỏng của biết bao con người. “Trong tâm sự thầm kín của họ, ai ai cũng chắc mẩm một điều, thế là họ đã được sống…, đang chờ đợi một ngày không xa nữa sẽ được trở về với quê hương, với gia đình…” (tr.142). Nhưng về phía các chiến sĩ Giải phóng, tâm trạng vui mừng ấy nhanh chóng được xác định: “Chiến trường miền Nam mở ra một chương mới cho những chiến sĩ giải phóng…, không để quân đội Sài Gòn tiếp tục tái chiếm” (tr.79). Những cuộc đụng độ giành đất, giành dân vẫn xảy ra. Với ý đồ “tràn ngập lãnh thổ”, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã lợi dụng triệt để yếu tố này, đẩy mạnh và liên tục hành quân lấn chiếm đất đai, dân số, thuộc vùng đất do Quân Giải phóng quản lý (tr.167). Những đơn vị quân đội Giải phóng vẫn hết sức cảnh giác, căng sức bảo vệ từng tấc đất đã từng phải đổi bằng biết bao xương máu. Đó cũng là thời điểm đất nước đang chuẩn bị cho những trận đánh lớn, mở ra cơ hội kết thúc chiến tranh vài năm sau đó.

Bức tranh chiến trường trong thời điểm đặc biệt sau Hiệp định Paris được Thế Đức dành nhiều trang viết, miêu tả kỹ các tình huống như thể với ý định làm nền cho câu chuyện của những nhân vật văn học của cuốn tiểu thuyết. Ở đây, thái độ chính trị của tác giả được thể hiện rất rõ ràng, minh bạch: Hiệp định Paris dù đã được ký kết, tuy nhiên những hành động quân sự lấn chiếm của phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa là không thể chấp nhận được; hòa bình vẫn cần phải được bảo vệ bằng súng đạn.

Bám sát bối cảnh lịch sử của buổi giao thời ấy, nhà văn dựng lên một tập thể cán bộ, chiến sĩ đầy tinh thần lạc quan yêu đời nhưng cũng hết sức cảnh giác trước những diễn biến mau lẹ của thời cuộc. Họ là những con người đang sống và chiến đấu trong những khu rừng trùng điệp, nơi từng chịu nhiều thảm họa do chất độc da cam mà quân đội Hoa Kỳ rải xuống. Gian khổ, ác liệt của chiến tranh không làm con người trở nên khô cứng mà ngược lại, càng làm họ lạc quan, vui sống, càng gắn bó và yêu thương nhau như những người ruột thịt. Từ các nữ y tá như Kim Hoa, Bích Liên, Anh Trâm đến các cán bộ chỉ huy như Chính ủy, Trung đoàn trưởng hay trung đội trưởng Đoàn đều hiện lên với vẻ gần gũi, chân thành. Họ quan tâm đến nhau, yêu quý nhau như cha con, anh em trong một gia đình. Chính trong bầu không khí đầm ấm ấy, mối tình giữa Anh Trâm và Đoàn nảy nở và lớn lên giữa lửa đạn, trong sự cảm thông và bảo vệ của đồng đội.

Tuy nhiên, chiến tranh không bao giờ “dừng lại” ở các số phận cá nhân. Cuộc tình lãng mạn giữa Anh Trâm và Đoàn bị cuốn vào vòng xoáy của chiến tranh. Phải hơn 20 năm sau ngày hòa bình lập lại, họ mới có thể tìm lại nhau, trước khi mọi việc tưởng như đã trở thành một bi kịch đau xót.

Kể lại câu chuyện “lỡ làng” của một cô gái trẻ trong hoàn cảnh bom đạn, tác giả đặt ra một vấn đề đạo đức đáng suy nghĩ. Ai cũng hiểu chiến tranh không phải là nơi dành cho những tình cảm cá nhân, nhưng cũng hiểu con người không phải sắt đá. Ai cũng hiểu kỷ luật quân sự là điều bất khả xâm phạm, nhưng cũng hiểu người ra trận có thể ngã xuống bất cứ lúc nào. Ai cũng hiểu bản năng là ngọn lửa thiêu đốt tuổi trẻ, nhưng cũng hiểu “lằn ranh đỏ” của lý trí là điều mỗi quân nhân phải chấp nhận. Con người bước vào cuộc chiến khốc liệt với ý chí sắt đá, không gì lay chuyển nổi của lý tưởng giải phóng đất nước khỏi họa xâm lăng. Nhưng con người vẫn là những cá thể xã hội sống động. Và có lẽ, may mắn thay, con người chưa kịp bị chiến tranh biến thành những “rô-bốt” lạnh lẽo nên vẫn có những vui buồn, vẫn có thể có những vi phạm, những sai lầm trong nhiều lĩnh vực, kể cả trong những tình cảm riêng tư.

Dường như Thế Đức đã suy nghĩ rất nhiều về những “mặt đối lập” này. Và cuối cùng anh lựa chọn đứng về phía con người, những người trẻ tuổi đang đối mặt với bom đạn và những hoàn cảnh éo le của số phận. Để làm rõ lựa chọn ấy, tác giả dựng lên một tập thể những cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 150 công khai hoặc im lặng ngấm ngầm bày tỏ sự cảm thông với đôi trai tài gái sắc. Không những thế, ngòi bút của Thế Đức còn tinh quái “diễu nhại” với ý đồ phê phán thái độ khắt khe, máy móc của nhân vật Lại Trúc Chắt (trưởng trạm an dưỡng) - người đã tỏ ra gay gắt với Anh Trâm khi mẹ con chị được chuyển về đơn vị ông quản lý.

Có thể nói, đây là trang viết ấm áp, nhân hậu của một ngòi bút biết nương nhẹ trước số phận mong manh của hạnh phúc con người, sẵn sàng bênh vực những con người yếu thế khi họ rơi vào hoàn cảnh oái oăm. Đằng sau trang viết ấy là một quan niệm nhân văn trong sáng, một thái độ chân thành, một tình cảm nhân hậu bắt nguồn từ truyền thống nhân đạo của dân tộc.

Câu chuyện trong “Chuyện tình thời hậu chiến” kéo dài từ những năm cuối cùng của chiến tranh đến vài chục năm đầu của thời bình. Không gian truyện cũng mở rộng từ chiến trường sang đời sống hòa bình. Tuy nhiên, ký ức chiến tranh vẫn in đậm trong tâm hồn các nhân vật. Họ đã sống và yêu thương nhau trong bom đạn, trước ranh giới sống chết. Bởi vậy khi bước vào đời sống hòa bình, họ vẫn giữ nguyên những tình cảm chân thành và gắn bó ấy.
Đọc “Chuyện tình thời hậu chiến”, người đọc dễ dàng bắt gặp những con người trong sáng, giàu nghĩa tình. Họ vẫn quen che chở, quan tâm và yêu quý nhau như trong những năm tháng chiến tranh. Các nhân vật của Thế Đức đi lại, nói năng và hành động một cách bình dị, tạo nên cảm giác chân thực cho trang viết. Đó cũng là một trong những ưu điểm của cuốn tiểu thuyết.

Nhưng để giữ được tính chân thực ấy trong suốt gần 400 trang viết, nếu cần một góp ý với tác giả, có lẽ nhà văn nên giản dị hơn, đời thường hơn khi đặt tên cho nhân vật của mình. Những cái tên như Anh Trâm, Kim Hoa, Bích Liên, Phương Anh, Nam Sơn… nghe rất lãng mạn, nhưng cũng khá “tiểu thuyết”, khá “sa lông”. Với tác giả, hẳn vẫn còn nhiều lựa chọn khác gần gũi, đời thường hơn, thậm chí “nhà quê” một chút. Biết đâu, từ đó lại tăng thêm thiện cảm với người đọc, làm đậm thêm tính chân thực nghệ thuật của trang viết, và đơn giản hơn: hợp với hoàn cảnh bom đạn, chiến tranh.

Câu chuyện Thế Đức kể lại, như chúng ta thấy, khá éo le và dị biệt. Những tình tiết như vậy, về phương diện tiểu thuyết, rất dễ gây hứng thú và xúc cảm cho người đọc bởi sự bất ngờ, kịch tính của chúng. Nhưng từ đó cũng dễ sa vào những ngẫu nhiên khó lường của các tình huống. Khá nhiều ngẫu nhiên như vậy có thể bắt gặp trong tiểu thuyết “Chuyện tình thời hậu chiến” của Thế Đức. Chẳng hạn, tình tiết Phương Anh yêu Huy, và qua mối tình của đôi trẻ này, mẹ của Phương Anh mới gặp lại Đoàn (bố nuôi của Huy). Từ đó, Phương Anh nhận ra bố nuôi của Huy chính là bố đẻ của mình, cũng là người yêu năm xưa của mẹ, người đã mất liên lạc từ lâu. Hoặc khi mẹ con Anh Trâm về trại an dưỡng của Lại Trúc Chắt, bị anh ta đưa ra kiểm điểm, thi hành kỷ luật, bỗng nhiên lại gặp Trung đoàn trưởng năm xưa (bố nuôi của Anh Trâm) và được che chở…

Tuy vậy, ngoài những ngẫu nhiên mang tính vô thức ấy, “Chuyện tình thời hậu chiến” vẫn là một tiểu thuyết dễ đọc, dễ đồng cảm, cho dù đôi khi tác giả cố ý xáo trộn thời gian, vận dụng bút pháp đồng hiện để kéo quá khứ về trước hiện tại.

Từ nội dung của cuốn tiểu thuyết này có thể thấy đề tài chiến tranh và người lính đã được nhìn nhận cởi mở hơn trong quan niệm sáng tác, đang dần vượt qua sự phản ánh một chiều để đem đến cho người đọc một góc nhìn đa diện hơn về con người trong văn học./.

Bài liên quan
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
(0) Bình luận
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Tản văn: Nơi gió được sinh ra
    Gió không về với nhân gian mà dạo chơi nữa. Trưa, nắng gắt gao nở một nụ cười bí hiểm. Yên gió, hàng cây đứng lặng ngả bóng vào nhau. Lá rơm rớm giọt sầu gục xuống. Phố thấp thoáng những bóng người chạy trốn, bịt kín khuôn mặt. Từng luồng bụi vẫn bay lơ lửng trên không trung, biến hình mờ ảo bám vào nóc nhà, khe cửa, vấn vít hàng quán, vỉa hè, lối người qua lại. Tôi chạy vội về với cánh đồng trong cơn mơ, gió yên lặng ngả xuống vai mình.
  • Nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà: “Kỷ nguyên số mở ra nhiều cơ hội cho hoạt hình Việt Nam”
    Mùa phim hè 2026 chứng kiến sự áp đảo của các bộ phim hoạt hình ngoại tại phòng vé Việt Nam, trong khi hoạt hình Việt tạm thời vắng bóng sau những tín hiệu khởi sắc của năm 2025. Phải chăng đây là một bước chững lại đáng lo ngại hay chỉ là khoảng lặng cần thiết để chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới? Phóng viên Tạp chí Người Hà Nội đã có cuộc trao đổi với nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà - Trường Phòng Kịch bản, Hãng phim hoạt hình Việt Nam về thực trạng, cơ hội cũng như nhưng triển vọng của hoạt hình Việt Nam trong kỷ nguyên số.
  • Xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong thời kỳ hội nhập
    Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và khát vọng phát triển đất nước ngày càng mạnh mẽ, việc xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội không chỉ là nhiệm vụ bảo tồn những giá trị truyền thống mà còn là quá trình nuôi dưỡng sức sáng tạo, nâng cao năng lực tiếp nhận văn hóa của cộng đồng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ. Để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển bền vững, cần đồng thời củng cố các chủ thể sáng tạo, hoàn thiện thiết chế văn hóa và tạo dựng môi trường thuận lợi cho các giá trị văn hóa lan tỏa trong đời sống đương đại.
  • Phát động cuộc thi ảnh "Người cao tuổi Tây Hồ chung tay xây dựng phường sáng - xanh - sạch - đẹp"
    Chiều 16/7, Hội Người cao tuổi phường Tây Hồ tổ chức Hội nghị Công bố và trao quyết định thành lập các Chi hội Người cao tuổi tại các Tổ dân phố (TDP), Phát động phong trào đua “Toàn dân chung tay bảo về môi trường – vì thủ đô xanh – sạch –đẹp và Cuộc thi ảnh "Người cao tuổi Tây Hồ chung tay xây dựng phường sáng - xanh - sạch - đẹp".
  • Phường Hồng Hà nâng cao nhận thức pháp luật về đê điều, phòng, chống thiên tai
    Nhằm bảo vệ an toàn hệ thống đê điều, bảo đảm khả năng thoát lũ và phòng ngừa thiên tai, UBND phường Hồng Hà (TP Hà Nội) đề nghị các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và toàn thể Nhân dân trên địa bàn nâng cao nhận thức pháp luật về đê điều, phòng, chống thiên tai.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội hỗ trợ mức cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể
    Theo nghị quyết mới được thông qua, phạm vi và đối tượng áp dụng được điều chỉnh hướng tới các chủ thể di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố, bao gồm Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, các câu lạc bộ, nhóm thực hành, nghệ nhân và người thực hành di sản. Đáng chú ý, Hà Nội quyết định giữ nguyên mức hỗ trợ rất cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể.
  • Đánh thức bảo tàng bằng ứng dụng nghệ thuật liên ngành
    Hệ thống bảo tàng đang đứng trước những yêu cầu thay đổi theo hướng đa dạng, linh hoạt và hấp dẫn hơn trong cách tổ chức trưng bày nhằm thu hút du khách. Theo đó, bên cạnh các tư liệu, hiện vật, sự kết hợp giữa công nghệ, nghệ thuật sắp đặt và các yếu tố liên ngành đóng vai trò quan trọng, mang đến cho khách tham quan một hành trình thấu hiểu quá khứ theo nhiều cách khác nhau.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Xây dựng Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam thành tổ hợp du lịch đẳng cấp quốc tế
    Sau khi chính thức được chuyển giao về UBND thành phố Hà Nội quản lý vào tháng 6/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn. Từ một điểm đến phụ thuộc vào ngân sách, nơi đây được định hướng trở thành tổ hợp văn hóa, du lịch và giải trí mang tầm vóc quốc tế, đóng vai trò hạt nhân trong cực tăng trưởng phía Tây của Thủ đô. Chiều ngày 10/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã chủ trì buổi làm việc để định hình dòng chảy phát triển mới cho quần thể di sản này.
  • Ra mắt không gian nghệ thuật quy tụ 3 loại hình di sản xẩm, ca trù và múa rối nước
    Không gian văn hóa CADAO Collective chính thức ra mắt tại số 66 Tô Ngọc Vân (phường Tây Hồ, Hà Nội) với chương trình nghệ thuật đặc biệt quy tụ 3 loại hình di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội gồm xẩm, ca trù và múa rối nước.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII: Tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ
    Sáng 10/7, tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA) đã diễn ra Lễ khai mạc Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII - năm 2026. Sự kiện góp phần tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ, đồng thời phản ánh những xu hướng mới của mỹ thuật đương đại Việt Nam.
  • Glow app hỗ trợ đặt dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà ở Tiền Giang
    Glow app dịch vụ massage tại nhà ở Tiền Giang mang đến phương thức đặt lịch trực tuyến, giúp người dùng chủ động thời gian, hạn chế di chuyển và tiếp cận dịch vụ chăm sóc cơ thể ngay trong không gian riêng. Mô hình này đang trở thành một lựa chọn phù hợp với nhịp sống bận rộn hiện nay.
  • Nghị quyết về chính sách hỗ trợ hoạt động của Tổ Chuyển đổi số cộng đồng trên địa bàn Thủ đô
    Nghị quyết gồm 9 điều, quy định chi tiết các chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao hiệu quả cho lực lượng nòng cốt tại cơ sở trong việc hướng dẫn người dân tiếp cận dịch vụ công và các nền tảng số. Đối tượng áp dụng là các Tổ Chuyển đổi số cộng đồng tại thôn, tổ dân phố do UBND cấp xã quyết định thành lập...
  • Hà Nội phê duyệt chủ trương đầu tư dự án "hồi sinh" sông Nhuệ
    Chiều ngày 15/7, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ năm, HĐND thành phố Hà Nội đã chính thức thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án xây dựng, tu bổ xung yếu hệ thống đê điều, nạo vét và xử lý ô nhiễm môi trường sông Nhuệ. Được triển khai theo phương thức đối tác công tư (PPP) với loại hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT), dự án có sơ bộ tổng mức đầu tư lên tới 75.115 tỷ đồng này được xác định sẽ giải quyết triệt để các "điểm nghẽn" của Thủ đô về ùn tắc giao thông, ngập úng, ô nhiễm môi trường và vi phạm trật tự đất đai... đã được chỉ rõ tại Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 25/11/2025 của Thành ủy Hà Nội.
Từ một câu chuyện của chiến tranh
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO