Lý luận - phê bình

Từ một câu chuyện của chiến tranh

Nhà thơ Lê Thành Nghị 10:38 17/04/2026

Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.

Điều này, tự nó mang trong mình vô vàn những điều mà lịch sử có thể phải tạm thời bước qua hoặc lãng quên, để lại những “bí mật” giữa các mối quan hệ. Có những lầm lẫn trở thành bi kịch cá nhân, có những câu chuyện tình lãng mạn nhưng đẫm nước mắt. Tiểu thuyết “Chuyện tình thời hậu chiến” của Thế Đức kể lại một trường hợp éo le như thế.

anh-bia-sach.jpg

Trong số hàng vạn con người bước ra từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, trường hợp của nữ chiến sĩ Anh Trâm có thể xem là đặc biệt. Chị là một quân y dũng cảm, từng tham gia nhiều trận chiến ác liệt, nhưng khi trở về hậu phương lại mang theo đứa con gái sinh ra giữa bom đạn - kết quả của mối tình lãng mạn với Đoàn, một trung đoàn trưởng trẻ tuổi, tài năng và đầy triển vọng. Tình cảnh “lỡ làng” bất đắc dĩ ấy khiến chị phải đối diện với không ít khó khăn, nghi ngại và định kiến. Đối với một số người, đó là chuyện không thể chấp nhận được trong bối cảnh mọi người đều phải dốc toàn bộ sức lực cho cuộc chiến đang vào giai đoạn quyết liệt.

Nhưng chiến tranh không cho phép con người chỉ nghĩ đến hạnh phúc riêng. Anh Trâm và con gái vẫn tiếp tục sống qua chiến tranh và nhiều năm sau hòa bình trong tình trạng mất liên lạc với Đoàn. Mãi đến khi Phương Anh (con gái Anh Trâm) tình cờ gặp gỡ và yêu Huy (con trai nuôi của Đoàn), những mối liên hệ tưởng như đã đứt gãy mới dần được nối lại. Từ mối tình của đôi trẻ, những hiểu lầm trong quá khứ dần được tháo gỡ, dẫn tới cuộc đoàn tụ đầy xúc động giữa những người đồng đội từng một thời sống chết bên nhau nơi chiến trường.

Đó là cốt truyện có thể tóm lược của cuốn tiểu thuyết gần 400 trang. Tuy nhiên, điều đáng chú ý không chỉ nằm ở câu chuyện, mà còn ở vốn hiểu biết sâu sắc về con người trong chiến tranh, thái độ chính trị rõ ràng trước những biến động của thời cuộc, cùng một lựa chọn đạo đức giàu tính nhân văn về số phận và hạnh phúc con người trong chiến tranh; đồng thời gợi mở quan niệm thẩm mỹ của tác giả về thể loại tiểu thuyết trong quá trình sáng tạo.

Bối cảnh mà Thế Đức lựa chọn cho câu chuyện là thời điểm sau khi Hiệp định Paris được ký kết. Sau nhiều năm bom đạn, hòa bình dường như một niềm ước ao cháy bỏng của biết bao con người. “Trong tâm sự thầm kín của họ, ai ai cũng chắc mẩm một điều, thế là họ đã được sống…, đang chờ đợi một ngày không xa nữa sẽ được trở về với quê hương, với gia đình…” (tr.142). Nhưng về phía các chiến sĩ Giải phóng, tâm trạng vui mừng ấy nhanh chóng được xác định: “Chiến trường miền Nam mở ra một chương mới cho những chiến sĩ giải phóng…, không để quân đội Sài Gòn tiếp tục tái chiếm” (tr.79). Những cuộc đụng độ giành đất, giành dân vẫn xảy ra. Với ý đồ “tràn ngập lãnh thổ”, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã lợi dụng triệt để yếu tố này, đẩy mạnh và liên tục hành quân lấn chiếm đất đai, dân số, thuộc vùng đất do Quân Giải phóng quản lý (tr.167). Những đơn vị quân đội Giải phóng vẫn hết sức cảnh giác, căng sức bảo vệ từng tấc đất đã từng phải đổi bằng biết bao xương máu. Đó cũng là thời điểm đất nước đang chuẩn bị cho những trận đánh lớn, mở ra cơ hội kết thúc chiến tranh vài năm sau đó.

Bức tranh chiến trường trong thời điểm đặc biệt sau Hiệp định Paris được Thế Đức dành nhiều trang viết, miêu tả kỹ các tình huống như thể với ý định làm nền cho câu chuyện của những nhân vật văn học của cuốn tiểu thuyết. Ở đây, thái độ chính trị của tác giả được thể hiện rất rõ ràng, minh bạch: Hiệp định Paris dù đã được ký kết, tuy nhiên những hành động quân sự lấn chiếm của phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa là không thể chấp nhận được; hòa bình vẫn cần phải được bảo vệ bằng súng đạn.

Bám sát bối cảnh lịch sử của buổi giao thời ấy, nhà văn dựng lên một tập thể cán bộ, chiến sĩ đầy tinh thần lạc quan yêu đời nhưng cũng hết sức cảnh giác trước những diễn biến mau lẹ của thời cuộc. Họ là những con người đang sống và chiến đấu trong những khu rừng trùng điệp, nơi từng chịu nhiều thảm họa do chất độc da cam mà quân đội Hoa Kỳ rải xuống. Gian khổ, ác liệt của chiến tranh không làm con người trở nên khô cứng mà ngược lại, càng làm họ lạc quan, vui sống, càng gắn bó và yêu thương nhau như những người ruột thịt. Từ các nữ y tá như Kim Hoa, Bích Liên, Anh Trâm đến các cán bộ chỉ huy như Chính ủy, Trung đoàn trưởng hay trung đội trưởng Đoàn đều hiện lên với vẻ gần gũi, chân thành. Họ quan tâm đến nhau, yêu quý nhau như cha con, anh em trong một gia đình. Chính trong bầu không khí đầm ấm ấy, mối tình giữa Anh Trâm và Đoàn nảy nở và lớn lên giữa lửa đạn, trong sự cảm thông và bảo vệ của đồng đội.

Tuy nhiên, chiến tranh không bao giờ “dừng lại” ở các số phận cá nhân. Cuộc tình lãng mạn giữa Anh Trâm và Đoàn bị cuốn vào vòng xoáy của chiến tranh. Phải hơn 20 năm sau ngày hòa bình lập lại, họ mới có thể tìm lại nhau, trước khi mọi việc tưởng như đã trở thành một bi kịch đau xót.

Kể lại câu chuyện “lỡ làng” của một cô gái trẻ trong hoàn cảnh bom đạn, tác giả đặt ra một vấn đề đạo đức đáng suy nghĩ. Ai cũng hiểu chiến tranh không phải là nơi dành cho những tình cảm cá nhân, nhưng cũng hiểu con người không phải sắt đá. Ai cũng hiểu kỷ luật quân sự là điều bất khả xâm phạm, nhưng cũng hiểu người ra trận có thể ngã xuống bất cứ lúc nào. Ai cũng hiểu bản năng là ngọn lửa thiêu đốt tuổi trẻ, nhưng cũng hiểu “lằn ranh đỏ” của lý trí là điều mỗi quân nhân phải chấp nhận. Con người bước vào cuộc chiến khốc liệt với ý chí sắt đá, không gì lay chuyển nổi của lý tưởng giải phóng đất nước khỏi họa xâm lăng. Nhưng con người vẫn là những cá thể xã hội sống động. Và có lẽ, may mắn thay, con người chưa kịp bị chiến tranh biến thành những “rô-bốt” lạnh lẽo nên vẫn có những vui buồn, vẫn có thể có những vi phạm, những sai lầm trong nhiều lĩnh vực, kể cả trong những tình cảm riêng tư.

Dường như Thế Đức đã suy nghĩ rất nhiều về những “mặt đối lập” này. Và cuối cùng anh lựa chọn đứng về phía con người, những người trẻ tuổi đang đối mặt với bom đạn và những hoàn cảnh éo le của số phận. Để làm rõ lựa chọn ấy, tác giả dựng lên một tập thể những cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 150 công khai hoặc im lặng ngấm ngầm bày tỏ sự cảm thông với đôi trai tài gái sắc. Không những thế, ngòi bút của Thế Đức còn tinh quái “diễu nhại” với ý đồ phê phán thái độ khắt khe, máy móc của nhân vật Lại Trúc Chắt (trưởng trạm an dưỡng) - người đã tỏ ra gay gắt với Anh Trâm khi mẹ con chị được chuyển về đơn vị ông quản lý.

Có thể nói, đây là trang viết ấm áp, nhân hậu của một ngòi bút biết nương nhẹ trước số phận mong manh của hạnh phúc con người, sẵn sàng bênh vực những con người yếu thế khi họ rơi vào hoàn cảnh oái oăm. Đằng sau trang viết ấy là một quan niệm nhân văn trong sáng, một thái độ chân thành, một tình cảm nhân hậu bắt nguồn từ truyền thống nhân đạo của dân tộc.

Câu chuyện trong “Chuyện tình thời hậu chiến” kéo dài từ những năm cuối cùng của chiến tranh đến vài chục năm đầu của thời bình. Không gian truyện cũng mở rộng từ chiến trường sang đời sống hòa bình. Tuy nhiên, ký ức chiến tranh vẫn in đậm trong tâm hồn các nhân vật. Họ đã sống và yêu thương nhau trong bom đạn, trước ranh giới sống chết. Bởi vậy khi bước vào đời sống hòa bình, họ vẫn giữ nguyên những tình cảm chân thành và gắn bó ấy.
Đọc “Chuyện tình thời hậu chiến”, người đọc dễ dàng bắt gặp những con người trong sáng, giàu nghĩa tình. Họ vẫn quen che chở, quan tâm và yêu quý nhau như trong những năm tháng chiến tranh. Các nhân vật của Thế Đức đi lại, nói năng và hành động một cách bình dị, tạo nên cảm giác chân thực cho trang viết. Đó cũng là một trong những ưu điểm của cuốn tiểu thuyết.

Nhưng để giữ được tính chân thực ấy trong suốt gần 400 trang viết, nếu cần một góp ý với tác giả, có lẽ nhà văn nên giản dị hơn, đời thường hơn khi đặt tên cho nhân vật của mình. Những cái tên như Anh Trâm, Kim Hoa, Bích Liên, Phương Anh, Nam Sơn… nghe rất lãng mạn, nhưng cũng khá “tiểu thuyết”, khá “sa lông”. Với tác giả, hẳn vẫn còn nhiều lựa chọn khác gần gũi, đời thường hơn, thậm chí “nhà quê” một chút. Biết đâu, từ đó lại tăng thêm thiện cảm với người đọc, làm đậm thêm tính chân thực nghệ thuật của trang viết, và đơn giản hơn: hợp với hoàn cảnh bom đạn, chiến tranh.

Câu chuyện Thế Đức kể lại, như chúng ta thấy, khá éo le và dị biệt. Những tình tiết như vậy, về phương diện tiểu thuyết, rất dễ gây hứng thú và xúc cảm cho người đọc bởi sự bất ngờ, kịch tính của chúng. Nhưng từ đó cũng dễ sa vào những ngẫu nhiên khó lường của các tình huống. Khá nhiều ngẫu nhiên như vậy có thể bắt gặp trong tiểu thuyết “Chuyện tình thời hậu chiến” của Thế Đức. Chẳng hạn, tình tiết Phương Anh yêu Huy, và qua mối tình của đôi trẻ này, mẹ của Phương Anh mới gặp lại Đoàn (bố nuôi của Huy). Từ đó, Phương Anh nhận ra bố nuôi của Huy chính là bố đẻ của mình, cũng là người yêu năm xưa của mẹ, người đã mất liên lạc từ lâu. Hoặc khi mẹ con Anh Trâm về trại an dưỡng của Lại Trúc Chắt, bị anh ta đưa ra kiểm điểm, thi hành kỷ luật, bỗng nhiên lại gặp Trung đoàn trưởng năm xưa (bố nuôi của Anh Trâm) và được che chở…

Tuy vậy, ngoài những ngẫu nhiên mang tính vô thức ấy, “Chuyện tình thời hậu chiến” vẫn là một tiểu thuyết dễ đọc, dễ đồng cảm, cho dù đôi khi tác giả cố ý xáo trộn thời gian, vận dụng bút pháp đồng hiện để kéo quá khứ về trước hiện tại.

Từ nội dung của cuốn tiểu thuyết này có thể thấy đề tài chiến tranh và người lính đã được nhìn nhận cởi mở hơn trong quan niệm sáng tác, đang dần vượt qua sự phản ánh một chiều để đem đến cho người đọc một góc nhìn đa diện hơn về con người trong văn học./.

Bài liên quan
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
(0) Bình luận
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
  • Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
    Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
  • Ngô Thanh Vân, vẻ đẹp kỳ diệu của nỗi buồn
    Người xưa rất coi trọng phần nội tâm (tình) trong thơ. Không có văn bản văn học nào thể hiện cái tôi cá nhân rõ như thơ. Nói như nhà văn Trịnh Bích Ngân: “Thơ không chịu được sự che đậy... Dũng cảm phơi bày. Chân thành phơi bày”.
  • Thao thức với phần đời chiến trận
    Có thể nói cuộc kháng chiến trường kỳ hào hùng và bi tráng của dân tộc, ở bất kỳ trạng huống nào dường như đã chi phối và tạo động lực cho đội ngũ văn nghệ sĩ, những người cầm bút suy nghĩ và sáng tạo. Ta hiểu vì sao ngay trong cuộc sống thời bình, trong đời sống dân sự, những hình ảnh của ngày hôm qua vẫn khiến con người luôn “thao thức với phần đời chiến trận”.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Đưa ẩm thực Hà Nội hòa vào dòng chảy công nghiệp văn hóa Thủ đô
    Chương trình hành động số 08-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, đã xác lập một tầm nhìn mới để ẩm thực Hà Nội đóng góp xứng đáng, hòa vào dòng chảy phát triển của công nghiệp văn hóa, định vị thương hiệu Thủ đô trên bản đồ toàn cầu.
  • Văn hóa dân gian cần được xem như một nguồn lực phát triển đất nước
    Từ thực tế di sản văn hóa truyền thống của dân tộc, GS.TS Lê Hồng Lý – Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam cho rằng, chúng ta cần xem xét văn hóa dân gian như một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc, đúng với định hướng phát triển văn hóa Việt Nam mà Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra.
  • Sáng rõ lý luận và thực tiễn phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
    Sáng 15/4, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (Bộ VH-TT&DL) tổ chức Hội thảo Khoa học quốc gia “Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Lý luận và thực tiễn tiếp cận từ Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị” nhằm làm sáng rõ hơn các nội dung lớn, vấn đề cốt lõi mà Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra.
  • Hà Nội phân luồng giao thông dịp nghỉ lễ 30/4 và 1/5 năm 2026
    Sở Xây dựng thành phố Hà Nội vừa ban hành thông báo hướng dẫn phân luồng, tổ chức giao thông nhằm phục vụ nhu cầu đi lại của người dân trong dịp nghỉ Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và Quốc tế Lao động 30/4-1/5/2026.
  • Hà Nội hành lập Ban Chỉ đạo Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông
    Ban Chỉ đạo Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông thành phố Hà Nội năm 2026 chịu trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị thực hiện đúng Quy chế thi tốt nghiệp trung học phổ thông và các văn bản hướng dẫn hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Đừng bỏ lỡ
Từ một câu chuyện của chiến tranh
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO