Lý luận - phê bình

Ngô Thanh Vân, vẻ đẹp kỳ diệu của nỗi buồn

Ngô Đức Hành 07/12/2025 07:51

Người xưa rất coi trọng phần nội tâm (tình) trong thơ. Không có văn bản văn học nào thể hiện cái tôi cá nhân rõ như thơ. Nói như nhà văn Trịnh Bích Ngân: “Thơ không chịu được sự che đậy... Dũng cảm phơi bày. Chân thành phơi bày”.

1 Các nhà lý luận phê bình văn học từng nói, nhà thơ hơn ai hết giàu có về nỗi buồn, sự cô đơn. Nhưng rốt cuộc, bài thơ về nỗi buồn được viết bằng ngôn ngữ nào? “Bức tranh” thơ về nỗi buồn chắc chắn khác “bức tranh thơ” về hạnh phúc, không phải ở phía đối lập.

“Vân không” (Nxb Hội Nhà văn, III/2025), của nhà thơ Ngô Thanh Vân gồm 66 bài thơ, thực sự là những nốt, những giai điệu trong “bản nhạc” tâm hồn của chị. Cầm tập thơ trên tay, tôi như được nghe tiếng nói nội cảm của nhà thơ, qua nhân vật trữ tình “tôi”, “em”...

bia-tap-tho-van-khong.jpg
Bìa tập thơ Vân không

Ngô Thanh Vân là người kín đáo, chỉnh chu. Tôi chỉ mới gặp chị không quá một lần, chưa thể biết nhiều về cuộc sống riêng tư hay cá tính... Thế nhưng, đọc “Vân không”, tôi nhận ra chị sở hữu những giọt nước mắt đẹp, được giấu kín, ngoài đời không thể thấy.
“Ngày em”, “Tôi đã vắng tôi”, “Lạc giữa nhân gian”... là những bài thơ trong “Vân không” khiến tôi bối rối.

“Cánh đồng tôi ngày chỏng chơ gốc rạ/ bốn bề gió thốc cồn cào/ chẳng biết nương vào đâu để neo lại chút niềm kiêu hãnh/ mà không để má mình mằn mặn/ môi mím chặt môi ghìm cơn nấc/ ngoài kia tiếng bấc câu chì” (Cánh đồng tôi).
Khổ đầu của bài thơ mở ra một “cánh cửa tâm hồn” hoang hoải.

“Tôi đã vắng tôi chưa mà trống rỗng/ đèn vào đêm phố ngả sang ngày/ mình hoang lạnh hay lòng cô độc/ đời có bao giờ như giấc mơ” (Tôi đã vắng tôi). “Ta lạc giữa nhân gian từ kiếp trước/ nên long đong lận đận mãi đến giờ/ tìm một lối cho riêng mình đâu dễ/ giữa biển đời ai biết được nông sâu” (Lạc giữa nhân gian).

Đây cũng là hai khổ thơ đầu - “khởi tứ” của bài “Tôi đã vắng tôi” và “Lạc giữa nhân gian” của Ngô Thanh Vân.

Tôi cứ phân vân mãi, sao Ngô Thanh Vân lại sắp xếp các bài thơ tự sự này ngay từ những trang đầu tập thơ?

“Thơ khởi phát từ lòng người” (Lê Quý Đôn). Và chính tác giả “Vân đài loại ngữ” - tác phẩm viết bằng chữ Hán năm 1773 đã khẳng định: “Làm thơ có ba điểm chính: Một là tình, hai là hợp cảnh, ba là sự. Tình là người, cảnh là trời, sự là hợp cả trời đất mà quán thông”.
Người xưa rất coi trọng phần nội tâm (tình) trong thơ. Không có văn bản văn học nào thể hiện cái tôi cá nhân rõ như thơ. Nói như nhà văn Trịnh Bích Ngân: “Thơ không chịu được sự che đậy... Dũng cảm phơi bày. Chân thành phơi bày”. “người đàn bà đi qua cô đơn/ tự biết an yên giữa lạnh lùng dâu bể/ thừa kiêu hãnh/ nhoẻn cười/ trước tị hiềm xỉa xói/ thương những tâm hồn chưa thấm trọn bao dung” (Đi qua cô đơn).

Đừng bao giờ đánh giá thấp sức mạnh và sự quyến rũ của cô đơn. Với người làm thơ, cô đơn chính là sự kích thích vùng sáng tạo ngôn ngữ, như những giọt cà phê tích tụ thành cảm hứng - phút thăng hoa bất định của trạng thái ngoài ý thức. Nói cách khác, đó là sự sáng tạo khởi phát từ vô thức.

“người cũng đừng trách mùa gió chướng/ gió cũng có những ngày khó ở/ như em” (Trên những tầng mây).

Hãy để ý các thi ảnh trong phép so sánh “gió” và “em”. Đến các hiện tượng tự nhiên như mưa, gió, bão, dông… còn khó hiểu, huống chi những ngày “khó ở” của “em”. Không có gì khó dự báo bằng cảm xúc. Những lời độc thoại dù là “Trên những tầng mây” của Ngô Thanh Vân cũng như những “nốt nhạc” vọng ra từ đáy lòng chị.
Sylvan Saul Barnet (1926–2016), nhà phê bình văn học người Mỹ, từng nói: “Thơ là nhu cầu tâm sự với chính mình những lúc cô đơn. Cho nên đọc thơ là nghe trộm nhà thơ đang nói với chính mình”.
Đọc “Vân không” của Ngô Thanh Vân, tôi thấy vang lên, nhói lên câu nói này. Và tôi nhận ra vẻ đẹp kỳ diệu của nỗi buồn trong thơ chị.

2 Ngô Thanh Vân là nhà thơ thế hệ 8X “đời đầu”. Với con người, đó là giai đoạn “đỉnh” của sức khỏe, kinh nghiệm sống, sáng tạo... Nhưng với văn chương, “đường văn” còn dài lắm, còn trẻ lắm.
Ngô Thanh Vân bước vào thi đàn từ rất sớm, đã xuất bản 5 tập thơ trong số 9 tác phẩm. Đọc thơ chị (và cả hai tập tản văn đã xuất bản), tôi nhận ra: hình như chị chỉ viết cho mình để ghi nhớ một tâm trạng, một kỷ niệm, một nỗi buồn, một nỗi đau, một tổn thương...
Ngô Thanh Vân, gốc Nghệ, sinh ra và lớn lên ở Gia Lai, trước sáp nhập “thuần” phố núi. Chị yêu Tây Nguyên. Đọc thơ, văn của Ngô Thanh Vân mới thấy chị giàu cảm xúc về Tây Nguyên và những cảm xúc ấy luôn bất ngờ. Suy cho cùng, giấu kín cảm xúc cũng là một phẩm chất thi sĩ.

“đêm phố thị mênh mang màn mưa mỏng/ đi loanh quanh đã chạm phải lối về/ vai em mỏng đêm cứ dài thăm thẳm/ rẽ lối nào để đừng lạc bến mê?” (Đêm phố thị).

“Khát những chân trời/ tôi bay qua rộng dài bao la bát ngát/ rợn ngợp vực sâu khe suối/ âm u thăm thẳm rừng già”; “chúng ta tự do trên đôi cánh/ sải những đường bay không định sẵn/ ríu rít gọi mặt trời” (Lời hát những đám mây).

Trong “Vân không”, không có bài thơ nào lấy tên địa danh Tây Nguyên (chỉ có chữ “bazan” xuất hiện một lần), nhưng chỉ với nắng, gió, mây… trong nhiều bài thơ, ta đã thấy bóng dáng vùng đất nơi chị sống và yêu. Hiện thực cuộc sống đi vào thơ Ngô Thanh Vân luôn pha màu hư ảo của thi ca, mở ra không gian sương khói, ẩn dụ kép, chuyên chở nhiều tầng cảm xúc.

Ngô Thanh Vân là người sống nội tâm. “Vân không” là lấp lánh trữ tình, xác tín bản thể. Trong tập thơ, chị dành cho con hai bài: “Bàn tay con” và “Nói với con”; dành cho mẹ một bài: “Mẹ”. Đó là tất cả bình yên, bao dung, cứu rỗi và hy vọng của một nhà thơ truân chuyên.

Khi làm thơ, Ngô Thanh Vân không “tuyên ngôn” nữ quyền, nhưng tính giới trong thơ chị cất lên vẻ đẹp tinh tế, trắc ẩn, chân thành.
“cảm ơn mẹ đã cưu mang/ và yêu thương những nhỡ nhàng rủi may/ rượu chưa kịp uống đã say/ con chưa kịp nói đã cay mắt rồi” (Mẹ).

“đất bazan thăm thẳm núi đồi/ nâng từng bước chân con vững chãi/ đèo cao suối sâu đừng ngần ngại/ trải nghiệm nào cũng gặt hái thành công” (Nói với con).

Những bài thơ viết về mẹ và con của Ngô Thanh Vân xúc động bởi sự chân thành. Nếu không có chân thành, sẽ không có thơ, đơn giản vậy thôi.

Ngoài một số ít bài lục bát, đọc “Vân không” có thể thấy Ngô Thanh Vân không chú trọng vần điệu. Thơ chị được viết từ cảm xúc đã ủ trong tâm hồn, từ đâu đó ngôn ngữ được đánh thức, nhạc điệu được khơi dậy, và câu chữ hiện lên.

Không chỉ thế, “Vân không” cho thấy Ngô Thanh Vân là nhà thơ nữ có khả năng nhìn thấy cái thi vị trong sự thường nhật, làm cho “không thể” thành “có thể”, cho cái chưa hề có trở nên hiện hữu trong ngôn ngữ thi ca.

Tôi thường suy nghĩ về “Thanh Vân” - tên nhà thơ, và “Vân không” - tên tập thơ. Khi bố mẹ đặt tên cho con, thường gửi gắm một niềm tin, một ước vọng. Trong Hán - Việt, “vân” là mây, “thanh vân” là mây lành. Và nữa, khi cầm tập “Vân không”, tôi nghĩ đến triết lý “không” - một giá trị cốt lõi trong Phật giáo.

“Dịu dàng nở một đóa mây/ vô thường thả xuống làm ngày em sinh/ trời cho một chút vô tình/ ban thêm chữ nghĩa để mình thong dong” (Ngày em).

Bài thơ không ghi thời gian nhưng người đọc có quyền nghĩ rằng Ngô Thanh Vân sáng tác vào một lần sinh nhật nào đó, như một xác tín của lòng mình.

Trong tập “Vân không” có nhiều bài thơ về mây và khoảng trời: “Thinh không nhẹ bẫng vần mây”, “Trên những tầng mây”, “Trả lại tháng ngày vời vợi xanh”, “Lời hát những đám mây”, “Lục bát trên trời”, “Rồi anh cũng như mây trời lồng lộng”, “Mây trắng”. Hẳn đó không phải là tình cờ. Đó là không gian của ý niệm thi ca. Không ngẫu nhiên mà trong tập còn có hai bài thơ mang tên “Rỗng” và ba bài về “Má hồng”.

“lui một nhịp/ hình như mình đang tiến/ thênh thang dài rộng mỗi cung đường/ Vân không nhẹ bẫng vầng mây ấm/ dịu trôi đôi ước vọng tinh khôi” (Thinh không nhẹ bẫng vần mây).

Ngô Thanh Vân - đám “mây lành” hiện diện giữa đời thực mong manh, dễ vỡ. Đọc “Vân không”, ta nhận ra những góc buồn trong ngòi bút nữ. Thơ chị có nhiều đớn đau, hụt hẫng, mất mát, cam chịu. Nỗi buồn dù thảng thốt vẫn tạo nên vẻ đẹp run rẩy, kín đáo, dẫu là mảnh vỡ, vẫn còn đó nguyên khôi./.

Bài liên quan
  • Phát huy vai trò của văn nghệ sĩ Thủ đô trong phát triển công nghiệp văn hóa
    Hà Nội - Thủ đô tự nhiên của lưu vực sông Hồng, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước từ ngàn xưa đã là nơi hội tụ và đào luyện nhân tài. Phần lớn danh nhân Việt Nam từng sống, làm việc, sáng tạo ở Thăng Long - Hà Nội, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc. Ở mảnh đất hội tụ tinh hoa văn hóa bốn phương ấy, con người Thăng Long mang trong mình nét tài hoa, đa tài, đa nghệ, thấm đẫm bản sắc trí tuệ và tinh thần sáng tạo. Trong đó, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ - những người sinh ra, lớn lên
(0) Bình luận
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Văn học với sứ mệnh bồi đắp hệ giá trị văn hóa và con người Hà Nội
    Văn học không chỉ phản ánh hiện thực mà còn góp phần lưu giữ ký ức dân tộc, kiến tạo hệ giá trị văn hóa và bồi đắp nhân cách con người. Trong bối cảnh đất nước và Thủ đô Hà Nội bước vào giai đoạn phát triển mới, sứ mệnh ấy càng trở nên quan trọng, đòi hỏi văn học tiếp tục đồng hành cùng đời sống, phát huy sức mạnh mềm của văn hóa và góp phần xây dựng hình ảnh người Hà Nội thanh lịch, văn minh trên nền tảng truyền thống và tinh thần sáng tạo.
  • Chương trình “Khúc quân hành” 2026: Hành trình một thập kỷ nghĩa tình tri ân
    Sáng 18/7, đoàn công tác Chương trình "Khúc quân hành” lần thứ X - năm 2026 do Tạp chí Người Hà Nội tổ chức nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026) đã đến viếng, dâng hoa, dâng hương tri ân các anh hùng, liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Đông Khê (Cao Bằng). Mở đầu chuỗi hoạt động, tại xã Đông Khê đoàn đã trao 150 suất quà tặng các thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách.
  • Hương cốm Mễ Trì: Níu giữ hồn quê giữa lòng phố thị
    Chủ nhà trọ của tôi lại lục đục đập nhà cũ để xây nhà mới. Nghe đâu lần này họ quyết tâm đầu tư xây hẳn một chung cư mini cao gần chục tầng liền. Người tỉnh lẻ như tôi lại phải đau đầu nghĩ tới cảnh chuyển trọ. Gần chục năm sống ở Hà Nội là cũng chừng ấy lần tôi phải cuốn gói hành lý chuyển đi. Lần thì do chủ nhà đòi mặt bằng, lần khác do an ninh bất ổn, lần nữa lại do tính chất công việc thay đổi quá xa chỗ ở cũ. Giữa những ngày loay hoay lật giở mấy trang rao vặt cho thuê phòng, tôi đáp xe ghé qua đường Đỗ Đức Dục, rẽ vào Miếu Đầm rồi nương theo lối dẫn tới phố Mễ Trì Thượng xem nhà. May mắn thay, tôi đã tìm được một chỗ ở thực sự ưng ý cho bản thân.
  • Phường Cửa Nam thăm, tặng quà Trung tâm Nuôi dưỡng và Điều dưỡng người có công số 3 Hà Nội
    Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 21/7, Đoàn công tác của phường Cửa Nam đã tới thăm hỏi, trao tặng những phần quà ý nghĩa tại Trung tâm Nuôi dưỡng và Điều dưỡng người có công số 3 Hà Nội, thể hiện truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc.
Đừng bỏ lỡ
Ngô Thanh Vân, vẻ đẹp kỳ diệu của nỗi buồn
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO