Lý luận - phê bình

Ngô Thanh Vân, vẻ đẹp kỳ diệu của nỗi buồn

Ngô Đức Hành 07/12/2025 07:51

Người xưa rất coi trọng phần nội tâm (tình) trong thơ. Không có văn bản văn học nào thể hiện cái tôi cá nhân rõ như thơ. Nói như nhà văn Trịnh Bích Ngân: “Thơ không chịu được sự che đậy... Dũng cảm phơi bày. Chân thành phơi bày”.

1 Các nhà lý luận phê bình văn học từng nói, nhà thơ hơn ai hết giàu có về nỗi buồn, sự cô đơn. Nhưng rốt cuộc, bài thơ về nỗi buồn được viết bằng ngôn ngữ nào? “Bức tranh” thơ về nỗi buồn chắc chắn khác “bức tranh thơ” về hạnh phúc, không phải ở phía đối lập.

“Vân không” (Nxb Hội Nhà văn, III/2025), của nhà thơ Ngô Thanh Vân gồm 66 bài thơ, thực sự là những nốt, những giai điệu trong “bản nhạc” tâm hồn của chị. Cầm tập thơ trên tay, tôi như được nghe tiếng nói nội cảm của nhà thơ, qua nhân vật trữ tình “tôi”, “em”...

bia-tap-tho-van-khong.jpg
Bìa tập thơ Vân không

Ngô Thanh Vân là người kín đáo, chỉnh chu. Tôi chỉ mới gặp chị không quá một lần, chưa thể biết nhiều về cuộc sống riêng tư hay cá tính... Thế nhưng, đọc “Vân không”, tôi nhận ra chị sở hữu những giọt nước mắt đẹp, được giấu kín, ngoài đời không thể thấy.
“Ngày em”, “Tôi đã vắng tôi”, “Lạc giữa nhân gian”... là những bài thơ trong “Vân không” khiến tôi bối rối.

“Cánh đồng tôi ngày chỏng chơ gốc rạ/ bốn bề gió thốc cồn cào/ chẳng biết nương vào đâu để neo lại chút niềm kiêu hãnh/ mà không để má mình mằn mặn/ môi mím chặt môi ghìm cơn nấc/ ngoài kia tiếng bấc câu chì” (Cánh đồng tôi).
Khổ đầu của bài thơ mở ra một “cánh cửa tâm hồn” hoang hoải.

“Tôi đã vắng tôi chưa mà trống rỗng/ đèn vào đêm phố ngả sang ngày/ mình hoang lạnh hay lòng cô độc/ đời có bao giờ như giấc mơ” (Tôi đã vắng tôi). “Ta lạc giữa nhân gian từ kiếp trước/ nên long đong lận đận mãi đến giờ/ tìm một lối cho riêng mình đâu dễ/ giữa biển đời ai biết được nông sâu” (Lạc giữa nhân gian).

Đây cũng là hai khổ thơ đầu - “khởi tứ” của bài “Tôi đã vắng tôi” và “Lạc giữa nhân gian” của Ngô Thanh Vân.

Tôi cứ phân vân mãi, sao Ngô Thanh Vân lại sắp xếp các bài thơ tự sự này ngay từ những trang đầu tập thơ?

“Thơ khởi phát từ lòng người” (Lê Quý Đôn). Và chính tác giả “Vân đài loại ngữ” - tác phẩm viết bằng chữ Hán năm 1773 đã khẳng định: “Làm thơ có ba điểm chính: Một là tình, hai là hợp cảnh, ba là sự. Tình là người, cảnh là trời, sự là hợp cả trời đất mà quán thông”.
Người xưa rất coi trọng phần nội tâm (tình) trong thơ. Không có văn bản văn học nào thể hiện cái tôi cá nhân rõ như thơ. Nói như nhà văn Trịnh Bích Ngân: “Thơ không chịu được sự che đậy... Dũng cảm phơi bày. Chân thành phơi bày”. “người đàn bà đi qua cô đơn/ tự biết an yên giữa lạnh lùng dâu bể/ thừa kiêu hãnh/ nhoẻn cười/ trước tị hiềm xỉa xói/ thương những tâm hồn chưa thấm trọn bao dung” (Đi qua cô đơn).

Đừng bao giờ đánh giá thấp sức mạnh và sự quyến rũ của cô đơn. Với người làm thơ, cô đơn chính là sự kích thích vùng sáng tạo ngôn ngữ, như những giọt cà phê tích tụ thành cảm hứng - phút thăng hoa bất định của trạng thái ngoài ý thức. Nói cách khác, đó là sự sáng tạo khởi phát từ vô thức.

“người cũng đừng trách mùa gió chướng/ gió cũng có những ngày khó ở/ như em” (Trên những tầng mây).

Hãy để ý các thi ảnh trong phép so sánh “gió” và “em”. Đến các hiện tượng tự nhiên như mưa, gió, bão, dông… còn khó hiểu, huống chi những ngày “khó ở” của “em”. Không có gì khó dự báo bằng cảm xúc. Những lời độc thoại dù là “Trên những tầng mây” của Ngô Thanh Vân cũng như những “nốt nhạc” vọng ra từ đáy lòng chị.
Sylvan Saul Barnet (1926–2016), nhà phê bình văn học người Mỹ, từng nói: “Thơ là nhu cầu tâm sự với chính mình những lúc cô đơn. Cho nên đọc thơ là nghe trộm nhà thơ đang nói với chính mình”.
Đọc “Vân không” của Ngô Thanh Vân, tôi thấy vang lên, nhói lên câu nói này. Và tôi nhận ra vẻ đẹp kỳ diệu của nỗi buồn trong thơ chị.

2 Ngô Thanh Vân là nhà thơ thế hệ 8X “đời đầu”. Với con người, đó là giai đoạn “đỉnh” của sức khỏe, kinh nghiệm sống, sáng tạo... Nhưng với văn chương, “đường văn” còn dài lắm, còn trẻ lắm.
Ngô Thanh Vân bước vào thi đàn từ rất sớm, đã xuất bản 5 tập thơ trong số 9 tác phẩm. Đọc thơ chị (và cả hai tập tản văn đã xuất bản), tôi nhận ra: hình như chị chỉ viết cho mình để ghi nhớ một tâm trạng, một kỷ niệm, một nỗi buồn, một nỗi đau, một tổn thương...
Ngô Thanh Vân, gốc Nghệ, sinh ra và lớn lên ở Gia Lai, trước sáp nhập “thuần” phố núi. Chị yêu Tây Nguyên. Đọc thơ, văn của Ngô Thanh Vân mới thấy chị giàu cảm xúc về Tây Nguyên và những cảm xúc ấy luôn bất ngờ. Suy cho cùng, giấu kín cảm xúc cũng là một phẩm chất thi sĩ.

“đêm phố thị mênh mang màn mưa mỏng/ đi loanh quanh đã chạm phải lối về/ vai em mỏng đêm cứ dài thăm thẳm/ rẽ lối nào để đừng lạc bến mê?” (Đêm phố thị).

“Khát những chân trời/ tôi bay qua rộng dài bao la bát ngát/ rợn ngợp vực sâu khe suối/ âm u thăm thẳm rừng già”; “chúng ta tự do trên đôi cánh/ sải những đường bay không định sẵn/ ríu rít gọi mặt trời” (Lời hát những đám mây).

Trong “Vân không”, không có bài thơ nào lấy tên địa danh Tây Nguyên (chỉ có chữ “bazan” xuất hiện một lần), nhưng chỉ với nắng, gió, mây… trong nhiều bài thơ, ta đã thấy bóng dáng vùng đất nơi chị sống và yêu. Hiện thực cuộc sống đi vào thơ Ngô Thanh Vân luôn pha màu hư ảo của thi ca, mở ra không gian sương khói, ẩn dụ kép, chuyên chở nhiều tầng cảm xúc.

Ngô Thanh Vân là người sống nội tâm. “Vân không” là lấp lánh trữ tình, xác tín bản thể. Trong tập thơ, chị dành cho con hai bài: “Bàn tay con” và “Nói với con”; dành cho mẹ một bài: “Mẹ”. Đó là tất cả bình yên, bao dung, cứu rỗi và hy vọng của một nhà thơ truân chuyên.

Khi làm thơ, Ngô Thanh Vân không “tuyên ngôn” nữ quyền, nhưng tính giới trong thơ chị cất lên vẻ đẹp tinh tế, trắc ẩn, chân thành.
“cảm ơn mẹ đã cưu mang/ và yêu thương những nhỡ nhàng rủi may/ rượu chưa kịp uống đã say/ con chưa kịp nói đã cay mắt rồi” (Mẹ).

“đất bazan thăm thẳm núi đồi/ nâng từng bước chân con vững chãi/ đèo cao suối sâu đừng ngần ngại/ trải nghiệm nào cũng gặt hái thành công” (Nói với con).

Những bài thơ viết về mẹ và con của Ngô Thanh Vân xúc động bởi sự chân thành. Nếu không có chân thành, sẽ không có thơ, đơn giản vậy thôi.

Ngoài một số ít bài lục bát, đọc “Vân không” có thể thấy Ngô Thanh Vân không chú trọng vần điệu. Thơ chị được viết từ cảm xúc đã ủ trong tâm hồn, từ đâu đó ngôn ngữ được đánh thức, nhạc điệu được khơi dậy, và câu chữ hiện lên.

Không chỉ thế, “Vân không” cho thấy Ngô Thanh Vân là nhà thơ nữ có khả năng nhìn thấy cái thi vị trong sự thường nhật, làm cho “không thể” thành “có thể”, cho cái chưa hề có trở nên hiện hữu trong ngôn ngữ thi ca.

Tôi thường suy nghĩ về “Thanh Vân” - tên nhà thơ, và “Vân không” - tên tập thơ. Khi bố mẹ đặt tên cho con, thường gửi gắm một niềm tin, một ước vọng. Trong Hán - Việt, “vân” là mây, “thanh vân” là mây lành. Và nữa, khi cầm tập “Vân không”, tôi nghĩ đến triết lý “không” - một giá trị cốt lõi trong Phật giáo.

“Dịu dàng nở một đóa mây/ vô thường thả xuống làm ngày em sinh/ trời cho một chút vô tình/ ban thêm chữ nghĩa để mình thong dong” (Ngày em).

Bài thơ không ghi thời gian nhưng người đọc có quyền nghĩ rằng Ngô Thanh Vân sáng tác vào một lần sinh nhật nào đó, như một xác tín của lòng mình.

Trong tập “Vân không” có nhiều bài thơ về mây và khoảng trời: “Thinh không nhẹ bẫng vần mây”, “Trên những tầng mây”, “Trả lại tháng ngày vời vợi xanh”, “Lời hát những đám mây”, “Lục bát trên trời”, “Rồi anh cũng như mây trời lồng lộng”, “Mây trắng”. Hẳn đó không phải là tình cờ. Đó là không gian của ý niệm thi ca. Không ngẫu nhiên mà trong tập còn có hai bài thơ mang tên “Rỗng” và ba bài về “Má hồng”.

“lui một nhịp/ hình như mình đang tiến/ thênh thang dài rộng mỗi cung đường/ Vân không nhẹ bẫng vầng mây ấm/ dịu trôi đôi ước vọng tinh khôi” (Thinh không nhẹ bẫng vần mây).

Ngô Thanh Vân - đám “mây lành” hiện diện giữa đời thực mong manh, dễ vỡ. Đọc “Vân không”, ta nhận ra những góc buồn trong ngòi bút nữ. Thơ chị có nhiều đớn đau, hụt hẫng, mất mát, cam chịu. Nỗi buồn dù thảng thốt vẫn tạo nên vẻ đẹp run rẩy, kín đáo, dẫu là mảnh vỡ, vẫn còn đó nguyên khôi./.

Bài liên quan
  • Phát huy vai trò của văn nghệ sĩ Thủ đô trong phát triển công nghiệp văn hóa
    Hà Nội - Thủ đô tự nhiên của lưu vực sông Hồng, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước từ ngàn xưa đã là nơi hội tụ và đào luyện nhân tài. Phần lớn danh nhân Việt Nam từng sống, làm việc, sáng tạo ở Thăng Long - Hà Nội, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc. Ở mảnh đất hội tụ tinh hoa văn hóa bốn phương ấy, con người Thăng Long mang trong mình nét tài hoa, đa tài, đa nghệ, thấm đẫm bản sắc trí tuệ và tinh thần sáng tạo. Trong đó, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ - những người sinh ra, lớn lên
(0) Bình luận
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Tản văn: Nơi gió được sinh ra
    Gió không về với nhân gian mà dạo chơi nữa. Trưa, nắng gắt gao nở một nụ cười bí hiểm. Yên gió, hàng cây đứng lặng ngả bóng vào nhau. Lá rơm rớm giọt sầu gục xuống. Phố thấp thoáng những bóng người chạy trốn, bịt kín khuôn mặt. Từng luồng bụi vẫn bay lơ lửng trên không trung, biến hình mờ ảo bám vào nóc nhà, khe cửa, vấn vít hàng quán, vỉa hè, lối người qua lại. Tôi chạy vội về với cánh đồng trong cơn mơ, gió yên lặng ngả xuống vai mình.
  • Nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà: “Kỷ nguyên số mở ra nhiều cơ hội cho hoạt hình Việt Nam”
    Mùa phim hè 2026 chứng kiến sự áp đảo của các bộ phim hoạt hình ngoại tại phòng vé Việt Nam, trong khi hoạt hình Việt tạm thời vắng bóng sau những tín hiệu khởi sắc của năm 2025. Phải chăng đây là một bước chững lại đáng lo ngại hay chỉ là khoảng lặng cần thiết để chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới? Phóng viên Tạp chí Người Hà Nội đã có cuộc trao đổi với nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà - Trường Phòng Kịch bản, Hãng phim hoạt hình Việt Nam về thực trạng, cơ hội cũng như nhưng triển vọng của hoạt hình Việt Nam trong kỷ nguyên số.
  • Xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong thời kỳ hội nhập
    Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và khát vọng phát triển đất nước ngày càng mạnh mẽ, việc xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội không chỉ là nhiệm vụ bảo tồn những giá trị truyền thống mà còn là quá trình nuôi dưỡng sức sáng tạo, nâng cao năng lực tiếp nhận văn hóa của cộng đồng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ. Để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển bền vững, cần đồng thời củng cố các chủ thể sáng tạo, hoàn thiện thiết chế văn hóa và tạo dựng môi trường thuận lợi cho các giá trị văn hóa lan tỏa trong đời sống đương đại.
  • Ở phố Khương Trung có mẹ Oanh
    Tôi gặp lại P. trong một quán cà phê nhỏ vào một chiều Hà Nội bảng lảng sương giăng, khi cậu có chuyến công tác từ phương Nam ra. P. là đứa em, cũng là người đã chung lưng đấu cật với tôi suốt sáu năm trời trong một căn gác trọ nằm sâu nơi ngõ ngách Khương Trung. Đã lâu lắm rồi hai đứa mới có dịp ngồi lại, khuấy nhẹ ly cà phê, nhìn dòng người hối hả ngược xuôi qua lớp cửa kính. Giữa những câu chuyện không đầu không cuối về áp lực cơm áo gạo tiền, P. bỗng lặng đi một chút rồi hỏi: “Anh ơi, anh có nhớ mẹ Oanh không?”.
  • CleanHanoi - Dịch vụ vệ sinh công nghiệp
    CleanHanoi triển khai vệ sinh cho căn hộ, biệt thự, văn phòng, cửa hàng, công trình sau xây dựng và nhiều loại hình không gian tại Hà Nội.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội hỗ trợ mức cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể
    Theo nghị quyết mới được thông qua, phạm vi và đối tượng áp dụng được điều chỉnh hướng tới các chủ thể di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố, bao gồm Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, các câu lạc bộ, nhóm thực hành, nghệ nhân và người thực hành di sản. Đáng chú ý, Hà Nội quyết định giữ nguyên mức hỗ trợ rất cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể.
  • Đánh thức bảo tàng bằng ứng dụng nghệ thuật liên ngành
    Hệ thống bảo tàng đang đứng trước những yêu cầu thay đổi theo hướng đa dạng, linh hoạt và hấp dẫn hơn trong cách tổ chức trưng bày nhằm thu hút du khách. Theo đó, bên cạnh các tư liệu, hiện vật, sự kết hợp giữa công nghệ, nghệ thuật sắp đặt và các yếu tố liên ngành đóng vai trò quan trọng, mang đến cho khách tham quan một hành trình thấu hiểu quá khứ theo nhiều cách khác nhau.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Xây dựng Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam thành tổ hợp du lịch đẳng cấp quốc tế
    Sau khi chính thức được chuyển giao về UBND thành phố Hà Nội quản lý vào tháng 6/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn. Từ một điểm đến phụ thuộc vào ngân sách, nơi đây được định hướng trở thành tổ hợp văn hóa, du lịch và giải trí mang tầm vóc quốc tế, đóng vai trò hạt nhân trong cực tăng trưởng phía Tây của Thủ đô. Chiều ngày 10/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã chủ trì buổi làm việc để định hình dòng chảy phát triển mới cho quần thể di sản này.
  • Ra mắt không gian nghệ thuật quy tụ 3 loại hình di sản xẩm, ca trù và múa rối nước
    Không gian văn hóa CADAO Collective chính thức ra mắt tại số 66 Tô Ngọc Vân (phường Tây Hồ, Hà Nội) với chương trình nghệ thuật đặc biệt quy tụ 3 loại hình di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội gồm xẩm, ca trù và múa rối nước.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII: Tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ
    Sáng 10/7, tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA) đã diễn ra Lễ khai mạc Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII - năm 2026. Sự kiện góp phần tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ, đồng thời phản ánh những xu hướng mới của mỹ thuật đương đại Việt Nam.
  • [Infographic] 12 nhiệm vụ trọng tâm tháo gỡ điểm nghẽn về chuyển đổi số
    Thành phố Hà Nội triển khai chiến dịch 100 ngày nhằm tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn lớn trong chuyển đổi số. Trọng tâm là hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung, bảo đảm "đúng, đủ, sạch, sống", chia sẻ và tái sử dụng.
  • Hà Nội hỗ trợ tiền ăn bán trú tiểu học với hai mức 40.000 đồng và 28.000 đồng
    Bước vào năm học 2026 - 2027, thành phố Hà Nội áp dụng cơ chế hỗ trợ chi phí ăn bán trú cho học sinh tiểu học với hai hạn mức cụ thể tùy thuộc vào đối tượng thụ hưởng. Nhóm học sinh được ưu tiên theo quy định sẽ nhận mức hỗ trợ trọn gói là 40.000 đồng mỗi ngày, trong khi các em học sinh còn lại được ngân sách đồng hành san sẻ với mức 28.000 đồng mỗi ngày.
  • Phường Tùng Thiện lan tỏa đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”
    Hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026), Đảng bộ, chính quyền phường Tùng Thiện (TP Hà Nội) tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực nhằm tri ân người có công, thân nhân người có công với cách mạng… Qua đó lan tỏa đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, đền ơn đáp nghĩa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam nói chung và người Hà Nội thanh lịch, văn minh nói riêng.
Ngô Thanh Vân, vẻ đẹp kỳ diệu của nỗi buồn
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO