Lý luận - phê bình

Ngô Thanh Vân, vẻ đẹp kỳ diệu của nỗi buồn

Ngô Đức Hành 07/12/2025 07:51

Người xưa rất coi trọng phần nội tâm (tình) trong thơ. Không có văn bản văn học nào thể hiện cái tôi cá nhân rõ như thơ. Nói như nhà văn Trịnh Bích Ngân: “Thơ không chịu được sự che đậy... Dũng cảm phơi bày. Chân thành phơi bày”.

1 Các nhà lý luận phê bình văn học từng nói, nhà thơ hơn ai hết giàu có về nỗi buồn, sự cô đơn. Nhưng rốt cuộc, bài thơ về nỗi buồn được viết bằng ngôn ngữ nào? “Bức tranh” thơ về nỗi buồn chắc chắn khác “bức tranh thơ” về hạnh phúc, không phải ở phía đối lập.

“Vân không” (Nxb Hội Nhà văn, III/2025), của nhà thơ Ngô Thanh Vân gồm 66 bài thơ, thực sự là những nốt, những giai điệu trong “bản nhạc” tâm hồn của chị. Cầm tập thơ trên tay, tôi như được nghe tiếng nói nội cảm của nhà thơ, qua nhân vật trữ tình “tôi”, “em”...

bia-tap-tho-van-khong.jpg
Bìa tập thơ Vân không

Ngô Thanh Vân là người kín đáo, chỉnh chu. Tôi chỉ mới gặp chị không quá một lần, chưa thể biết nhiều về cuộc sống riêng tư hay cá tính... Thế nhưng, đọc “Vân không”, tôi nhận ra chị sở hữu những giọt nước mắt đẹp, được giấu kín, ngoài đời không thể thấy.
“Ngày em”, “Tôi đã vắng tôi”, “Lạc giữa nhân gian”... là những bài thơ trong “Vân không” khiến tôi bối rối.

“Cánh đồng tôi ngày chỏng chơ gốc rạ/ bốn bề gió thốc cồn cào/ chẳng biết nương vào đâu để neo lại chút niềm kiêu hãnh/ mà không để má mình mằn mặn/ môi mím chặt môi ghìm cơn nấc/ ngoài kia tiếng bấc câu chì” (Cánh đồng tôi).
Khổ đầu của bài thơ mở ra một “cánh cửa tâm hồn” hoang hoải.

“Tôi đã vắng tôi chưa mà trống rỗng/ đèn vào đêm phố ngả sang ngày/ mình hoang lạnh hay lòng cô độc/ đời có bao giờ như giấc mơ” (Tôi đã vắng tôi). “Ta lạc giữa nhân gian từ kiếp trước/ nên long đong lận đận mãi đến giờ/ tìm một lối cho riêng mình đâu dễ/ giữa biển đời ai biết được nông sâu” (Lạc giữa nhân gian).

Đây cũng là hai khổ thơ đầu - “khởi tứ” của bài “Tôi đã vắng tôi” và “Lạc giữa nhân gian” của Ngô Thanh Vân.

Tôi cứ phân vân mãi, sao Ngô Thanh Vân lại sắp xếp các bài thơ tự sự này ngay từ những trang đầu tập thơ?

“Thơ khởi phát từ lòng người” (Lê Quý Đôn). Và chính tác giả “Vân đài loại ngữ” - tác phẩm viết bằng chữ Hán năm 1773 đã khẳng định: “Làm thơ có ba điểm chính: Một là tình, hai là hợp cảnh, ba là sự. Tình là người, cảnh là trời, sự là hợp cả trời đất mà quán thông”.
Người xưa rất coi trọng phần nội tâm (tình) trong thơ. Không có văn bản văn học nào thể hiện cái tôi cá nhân rõ như thơ. Nói như nhà văn Trịnh Bích Ngân: “Thơ không chịu được sự che đậy... Dũng cảm phơi bày. Chân thành phơi bày”. “người đàn bà đi qua cô đơn/ tự biết an yên giữa lạnh lùng dâu bể/ thừa kiêu hãnh/ nhoẻn cười/ trước tị hiềm xỉa xói/ thương những tâm hồn chưa thấm trọn bao dung” (Đi qua cô đơn).

Đừng bao giờ đánh giá thấp sức mạnh và sự quyến rũ của cô đơn. Với người làm thơ, cô đơn chính là sự kích thích vùng sáng tạo ngôn ngữ, như những giọt cà phê tích tụ thành cảm hứng - phút thăng hoa bất định của trạng thái ngoài ý thức. Nói cách khác, đó là sự sáng tạo khởi phát từ vô thức.

“người cũng đừng trách mùa gió chướng/ gió cũng có những ngày khó ở/ như em” (Trên những tầng mây).

Hãy để ý các thi ảnh trong phép so sánh “gió” và “em”. Đến các hiện tượng tự nhiên như mưa, gió, bão, dông… còn khó hiểu, huống chi những ngày “khó ở” của “em”. Không có gì khó dự báo bằng cảm xúc. Những lời độc thoại dù là “Trên những tầng mây” của Ngô Thanh Vân cũng như những “nốt nhạc” vọng ra từ đáy lòng chị.
Sylvan Saul Barnet (1926–2016), nhà phê bình văn học người Mỹ, từng nói: “Thơ là nhu cầu tâm sự với chính mình những lúc cô đơn. Cho nên đọc thơ là nghe trộm nhà thơ đang nói với chính mình”.
Đọc “Vân không” của Ngô Thanh Vân, tôi thấy vang lên, nhói lên câu nói này. Và tôi nhận ra vẻ đẹp kỳ diệu của nỗi buồn trong thơ chị.

2 Ngô Thanh Vân là nhà thơ thế hệ 8X “đời đầu”. Với con người, đó là giai đoạn “đỉnh” của sức khỏe, kinh nghiệm sống, sáng tạo... Nhưng với văn chương, “đường văn” còn dài lắm, còn trẻ lắm.
Ngô Thanh Vân bước vào thi đàn từ rất sớm, đã xuất bản 5 tập thơ trong số 9 tác phẩm. Đọc thơ chị (và cả hai tập tản văn đã xuất bản), tôi nhận ra: hình như chị chỉ viết cho mình để ghi nhớ một tâm trạng, một kỷ niệm, một nỗi buồn, một nỗi đau, một tổn thương...
Ngô Thanh Vân, gốc Nghệ, sinh ra và lớn lên ở Gia Lai, trước sáp nhập “thuần” phố núi. Chị yêu Tây Nguyên. Đọc thơ, văn của Ngô Thanh Vân mới thấy chị giàu cảm xúc về Tây Nguyên và những cảm xúc ấy luôn bất ngờ. Suy cho cùng, giấu kín cảm xúc cũng là một phẩm chất thi sĩ.

“đêm phố thị mênh mang màn mưa mỏng/ đi loanh quanh đã chạm phải lối về/ vai em mỏng đêm cứ dài thăm thẳm/ rẽ lối nào để đừng lạc bến mê?” (Đêm phố thị).

“Khát những chân trời/ tôi bay qua rộng dài bao la bát ngát/ rợn ngợp vực sâu khe suối/ âm u thăm thẳm rừng già”; “chúng ta tự do trên đôi cánh/ sải những đường bay không định sẵn/ ríu rít gọi mặt trời” (Lời hát những đám mây).

Trong “Vân không”, không có bài thơ nào lấy tên địa danh Tây Nguyên (chỉ có chữ “bazan” xuất hiện một lần), nhưng chỉ với nắng, gió, mây… trong nhiều bài thơ, ta đã thấy bóng dáng vùng đất nơi chị sống và yêu. Hiện thực cuộc sống đi vào thơ Ngô Thanh Vân luôn pha màu hư ảo của thi ca, mở ra không gian sương khói, ẩn dụ kép, chuyên chở nhiều tầng cảm xúc.

Ngô Thanh Vân là người sống nội tâm. “Vân không” là lấp lánh trữ tình, xác tín bản thể. Trong tập thơ, chị dành cho con hai bài: “Bàn tay con” và “Nói với con”; dành cho mẹ một bài: “Mẹ”. Đó là tất cả bình yên, bao dung, cứu rỗi và hy vọng của một nhà thơ truân chuyên.

Khi làm thơ, Ngô Thanh Vân không “tuyên ngôn” nữ quyền, nhưng tính giới trong thơ chị cất lên vẻ đẹp tinh tế, trắc ẩn, chân thành.
“cảm ơn mẹ đã cưu mang/ và yêu thương những nhỡ nhàng rủi may/ rượu chưa kịp uống đã say/ con chưa kịp nói đã cay mắt rồi” (Mẹ).

“đất bazan thăm thẳm núi đồi/ nâng từng bước chân con vững chãi/ đèo cao suối sâu đừng ngần ngại/ trải nghiệm nào cũng gặt hái thành công” (Nói với con).

Những bài thơ viết về mẹ và con của Ngô Thanh Vân xúc động bởi sự chân thành. Nếu không có chân thành, sẽ không có thơ, đơn giản vậy thôi.

Ngoài một số ít bài lục bát, đọc “Vân không” có thể thấy Ngô Thanh Vân không chú trọng vần điệu. Thơ chị được viết từ cảm xúc đã ủ trong tâm hồn, từ đâu đó ngôn ngữ được đánh thức, nhạc điệu được khơi dậy, và câu chữ hiện lên.

Không chỉ thế, “Vân không” cho thấy Ngô Thanh Vân là nhà thơ nữ có khả năng nhìn thấy cái thi vị trong sự thường nhật, làm cho “không thể” thành “có thể”, cho cái chưa hề có trở nên hiện hữu trong ngôn ngữ thi ca.

Tôi thường suy nghĩ về “Thanh Vân” - tên nhà thơ, và “Vân không” - tên tập thơ. Khi bố mẹ đặt tên cho con, thường gửi gắm một niềm tin, một ước vọng. Trong Hán - Việt, “vân” là mây, “thanh vân” là mây lành. Và nữa, khi cầm tập “Vân không”, tôi nghĩ đến triết lý “không” - một giá trị cốt lõi trong Phật giáo.

“Dịu dàng nở một đóa mây/ vô thường thả xuống làm ngày em sinh/ trời cho một chút vô tình/ ban thêm chữ nghĩa để mình thong dong” (Ngày em).

Bài thơ không ghi thời gian nhưng người đọc có quyền nghĩ rằng Ngô Thanh Vân sáng tác vào một lần sinh nhật nào đó, như một xác tín của lòng mình.

Trong tập “Vân không” có nhiều bài thơ về mây và khoảng trời: “Thinh không nhẹ bẫng vần mây”, “Trên những tầng mây”, “Trả lại tháng ngày vời vợi xanh”, “Lời hát những đám mây”, “Lục bát trên trời”, “Rồi anh cũng như mây trời lồng lộng”, “Mây trắng”. Hẳn đó không phải là tình cờ. Đó là không gian của ý niệm thi ca. Không ngẫu nhiên mà trong tập còn có hai bài thơ mang tên “Rỗng” và ba bài về “Má hồng”.

“lui một nhịp/ hình như mình đang tiến/ thênh thang dài rộng mỗi cung đường/ Vân không nhẹ bẫng vầng mây ấm/ dịu trôi đôi ước vọng tinh khôi” (Thinh không nhẹ bẫng vần mây).

Ngô Thanh Vân - đám “mây lành” hiện diện giữa đời thực mong manh, dễ vỡ. Đọc “Vân không”, ta nhận ra những góc buồn trong ngòi bút nữ. Thơ chị có nhiều đớn đau, hụt hẫng, mất mát, cam chịu. Nỗi buồn dù thảng thốt vẫn tạo nên vẻ đẹp run rẩy, kín đáo, dẫu là mảnh vỡ, vẫn còn đó nguyên khôi./.

Bài liên quan
  • Phát huy vai trò của văn nghệ sĩ Thủ đô trong phát triển công nghiệp văn hóa
    Hà Nội - Thủ đô tự nhiên của lưu vực sông Hồng, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước từ ngàn xưa đã là nơi hội tụ và đào luyện nhân tài. Phần lớn danh nhân Việt Nam từng sống, làm việc, sáng tạo ở Thăng Long - Hà Nội, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc. Ở mảnh đất hội tụ tinh hoa văn hóa bốn phương ấy, con người Thăng Long mang trong mình nét tài hoa, đa tài, đa nghệ, thấm đẫm bản sắc trí tuệ và tinh thần sáng tạo. Trong đó, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ - những người sinh ra, lớn lên
(0) Bình luận
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
  • Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
    Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
  • Thao thức với phần đời chiến trận
    Có thể nói cuộc kháng chiến trường kỳ hào hùng và bi tráng của dân tộc, ở bất kỳ trạng huống nào dường như đã chi phối và tạo động lực cho đội ngũ văn nghệ sĩ, những người cầm bút suy nghĩ và sáng tạo. Ta hiểu vì sao ngay trong cuộc sống thời bình, trong đời sống dân sự, những hình ảnh của ngày hôm qua vẫn khiến con người luôn “thao thức với phần đời chiến trận”.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Nhìn lại ngày 30/4 qua những ký ức đa chiều và góc nhìn lịch sử
    Nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, NXB Chính trị quốc gia Sự thật ra mắt bạn đọc cuốn sách “30.4.1975: Sài Gòn không còn trận tuyến - Những ký ức về một ngày trọng đại”. Đây là ấn phẩm tập hợp tư liệu, hồi ức và ghi chép lịch sử được tuyển chọn từ Tạp chí Xưa & Nay. Qua lăng kính đa chiều của những người trong cuộc, cuốn sách tái hiện sinh động thời khắc đất nước liền một dải, đồng thời gửi gắm thông điệp sâu sắc về giá trị của hòa bình và thống nhất tới thế hệ hôm nay.
  • Tái định vị giáo dục văn hóa: Nền tảng để văn hóa trở thành động lực nội sinh, phát triển bền vững của đất nước
    Trong bối cảnh Việt Nam triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa, việc tái định vị giáo dục văn hóa trở thành một yêu cầu cấp thiết. Từ đó, TS. Trần Thị Tuyết Sương – Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đề xuất các hàm ý chính sách nhằm định vị giáo dục văn hóa như một trục phát triển, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển văn hóa Việt Nam bền vững trong kỷ nguyên mới.
  • Phố và phường qua những ngôi đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội
    Hà Nội, trong lịch sử dài lâu của mình, được tạo nên bởi “phố” và “phường”. “Phố” và “phường” Hà Nội không chỉ là đơn vị hành chính mà còn hàm chứa những thăng trầm của lịch sử, những đổi thay của xã hội và những giá trị được kiến tạo bởi các cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Một trong những điểm nổi bật của quá trình kiến tạo này là sự gắn bó mật thiết giữa “phường” với tư cách là đơn vị hành chính đô thị và “phường” với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp và “phố” là nơi buôn bán của cư dân đô thị. Trải qua thời gian, dấu ấn đậm nét của những phường nghề Thăng Long xưa vẫn được lưu lại ở các ngôi đình thờ tổ nghề ngay trong vùng lõi của Thủ đô, được gọi là khu phố cổ.
  • Bình Đà rộn ràng mùa hội Quốc Tổ
    Lễ hội Bình Đà 2026 diễn ra tại xã Bình Minh, Hà Nội, tái hiện không gian văn hóa truyền thống đặc sắc, góp phần tôn vinh Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân và lan tỏa giá trị di sản văn hóa của Thủ đô.
  • AI thúc đẩy tái cấu trúc hạ tầng Data Center và Cloud
    Hội nghị thường niên về trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây (Data Center & Cloud Infrastructure Summit (DCCI Summit) 2026 đã được Viettel IDC tổ chức ngày 20/4, tại Hà Nội.
Đừng bỏ lỡ
  • 11 phim được chiếu trong Đợt phim kỷ niệm các ngày lễ lớn năm 2026
    Đợt phim kỷ niệm các ngày lễ lớn 30/4, 1/5, 7/5, 19/5 năm 2026 và Tuần phim Quảng Ninh chào hè do Cục Điện ảnh chủ trì, phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức sẽ diễn ra trên phạm vi cả nước từ ngày 25/4 đến 23/5/2026. Theo đó, sẽ có 11 bộ phim thuộc các thể loại: phim truyện, tài liệu và hoạt hình được chọn chiếu phục vụ khán giả.
  • Triển vọng hợp tác múa Việt Nam - Hàn Quốc
    Trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc đang phát triển mạnh mẽ theo hướng đối tác chiến lược toàn diện, các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật ngày càng đóng vai trò quan trọng như một kênh kết nối mềm giữa hai quốc gia. Trong dòng chảy đó, chuyến thăm và biểu diễn của Trường Đại học Nghệ thuật Quốc gia Hàn Quốc (K-ARTS) tại Hà Nội trong tháng 4 vừa qua không chỉ là một sự kiện giao lưu nghệ thuật, mà còn gợi mở những hướng tiếp cận mới trong hợp tác đào tạo, sáng tạo và phát triển nghệ thuật biểu diễn giữa hai quốc gia.
  • Phường Đông Ngạc không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động thiết chế văn hóa, thể thao
    Đồng chí Nguyễn Thị Hương, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Chủ tịch UBND phường Đông Ngạc (TP. Hà Nội) cho biết, việc tổ chức và hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao trên địa bàn phường thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và sức khỏe cho các tầng lớp nhân dân, cụ thể hóa mục tiêu phát triển Thủ đô “Văn hiến – Văn minh – Hiện đại – Hạnh phúc” mà Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ Thành phố Hà Nội đặt ra.
  • Hội sách Nhã Nam chào hè 2026: Đa dạng hoạt động văn hóa, học thuật, khuyến đọc
    Chào mừng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 2026, Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, học thuật và khuyến đọc tại Hà Nội, Hải Phòng và Nha Trang.
  • “Bài ca môi trường” được chọn làm ca khúc truyền thống của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam
    Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam vừa chính thức công bố tiếp nhận ca khúc “Bài ca môi trường” của tác giả Ngọc Lê Ninh làm ca khúc truyền thống của Hội. Đây được xem là dấu mốc có ý nghĩa đối với hoạt động tuyên truyền, lan tỏa thông điệp bảo vệ môi trường trong cộng đồng.
  • Khi âm nhạc chạm vào ký ức, góp phần xây dựng đời sống văn hóa
    Trong không gian Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” ngày 19/4 không chỉ mang đến những giai điệu Jazz giàu cảm xúc, mà còn gợi mở một cách tiếp cận sâu sắc về vai trò của âm nhạc trong việc kiến tạo và lan tỏa các giá trị văn hóa. Nổi bật trong dòng chảy ấy là ca khúc “Hà Nội ngày trở về” của nhạc sĩ Phú Quang, vang lên như một điểm lắng giàu tính biểu tượng, nơi âm nhạc góp phần khắc họa hình ảnh Thủ đô trong đời sống đương đại.
  • Gần 100 nghệ sĩ Belarus mang opera và ballet biểu diễn tại Nhà hát Hồ Gươm
    Gần 100 nghệ sĩ xuất sắc của Nhà hát Opera và ballet quốc gia Belarus (Bolshoi Theatre of Belarus) sẽ trở lại Hà Nội diễn trong hai đêm Bella Belarus: Những kiệt tác opera và ballet vào ngày 7 và 8-5 tại Nhà hát Hồ Gươm.
  • Nhiếp ảnh gia Trần Thế Phong ra mắt sách ảnh về nghị lực của học sinh khiếm thị
    Sách gồm 100 tác phẩm được chọn lọc từ hàng nghìn bức ảnh ghi lại đời sống, học tập của học sinh Trường phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu trong năm học 2024-2025. Đây là thành quả của hơn 15 năm tác giả gắn bó với môi trường giáo dục đặc biệt này.
  • Sôi nổi Liên hoan Tiếng hát dân ca Người cao tuổi phường Tây Hồ năm 2026
    Trong không khí thi đua sôi nổi hướng tới kỷ niệm 85 năm Ngày truyền thống Người cao tuổi Việt Nam (6/6/1941 – 6/6/2026), Hội Người cao tuổi phường Tây Hồ vừa long trọng tổ chức “Liên hoan Tiếng hát dân ca Người cao tuổi phường Tây Hồ năm 2026”. Chương trình không chỉ là sân chơi văn hóa – nghệ thuật ý nghĩa mà còn là dịp để tôn vinh, gìn giữ và lan tỏa những giá trị dân ca truyền thống trong đời sống cộng đồng.
  • Hai Bàn thờ Phật bằng đá ở xã Dương Hòa được công nhận Bảo vật Quốc gia
    Lễ công bố Quyết định và đón Bằng công nhận Bảo vật Quốc gia đối với Bàn thờ Phật bằng đá tại chùa Hương Trai và chùa Đại Bi diễn ra tại sân Ải Cả, xã Dương Hòa (Hà Nội) vào ngày 17/4/2026. Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Thu Hà đã tới dự.
Ngô Thanh Vân, vẻ đẹp kỳ diệu của nỗi buồn
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO