Lý luận - phê bình

Giá trị văn hóa bền vững của nền văn học cách mạng Việt Nam 1945 - 2025

Nhà văn Bùi Việt Thắng 14:58 20/08/2025

Vai trò to lớn và quyết định của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong sự nghiệp sáng lập nền văn học cách mạng Việt Nam đã được khẳng định nhất quán. Người là kiến trúc sư vĩ đại của nền văn học cách mạng Việt Nam có bề dày truyền thống tính từ những năm 20 thế kỷ XX, với những sáng tác văn xuôi bằng tiếng Pháp (xuất bản ở Pháp), đặt nền móng cho nền văn học cách mạng (về sau được tập hợp trong tác phẩm “Nguyễn Ái Quốc: Truyện và ký”, Phạm Huy Thông dịch và giới thiệu, NXB Văn học, 1974).

Sự ra đời của Nhà nước dân chủ nhân dân - giai đoạn phát triển
mới của nền văn học cách mạng

Vai trò to lớn và quyết định của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong sự nghiệp sáng lập nền văn học cách mạng Việt Nam đã được khẳng định nhất quán. Người là kiến trúc sư vĩ đại của nền văn học cách mạng Việt Nam có bề dày truyền thống tính từ những năm 20 thế kỷ XX, với những sáng tác văn xuôi bằng tiếng Pháp (xuất bản ở Pháp), đặt nền móng cho nền văn học cách mạng (về sau được tập hợp trong tác phẩm “Nguyễn Ái Quốc: Truyện và ký”, Phạm Huy Thông dịch và giới thiệu, NXB Văn học, 1974).

1anh-1.jpg
Tuyên ngôn Độc lập vừa là một văn kiện lịch sử vô giá, vừa là một mẫu mực của văn chính luận của Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Bản Tuyên ngôn Độc lập, áng hùng văn thời đại được vị Chủ tịch đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào tại quảng trường Ba Đình lịch sử, ngày 2/9/1945. Bản Tuyên ngôn Độc lập vừa là một văn kiện lịch sử vô giá, vừa là một mẫu mực của văn chính luận của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, anh hùng dân tộc thời đại mới “Một bậc đại nhân - đại trí - đại dũng” (nhà thơ Trung Quốc Viên Ưng ca ngợi tác giả Nhật ký trong tù). Một tác phẩm văn học thấm đẫm tư tưởng về độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân hướng theo những tư tưởng nhân quyền, dân quyền tiến bộ từng được thể hiện sâu sắc trong những bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và Pháp được Người chọn lọc, tiếp thu, nâng cao phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Bản Tuyên ngôn Độc lập còn là một áng văn mẫu mực về tiếng Việt - thân thương, cao quý, trong sáng, giàu biểu cảm. Khi Người đọc Tuyên ngôn Độc lập “Giọng của Người không phải sấm trên cao/ Ấm từng tiếng thấm vào lòng mong ước/ Con nghe Bác tưởng nghe lời non nước/ Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau” (Sáng tháng Năm - Tố Hữu).

“Cách mạng, kháng chiến và nhà văn” đã trở thành một mệnh đề văn hóa mới kể từ khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19/12/1946). Trong Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai (1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu khẩu hiệu “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”. Chiến lược này khẳng định văn hóa không thể đứng ngoài chính trị (kháng chiến) và kháng chiến phải thực sự là cuộc đấu tranh giành thắng lợi của văn hóa Việt Nam trước sự xâm lăng văn hóa ngoại bang.

Nhà văn Đặng Thai Mai trong luận văn Kháng chiến và văn hóa đã viết “Cả một dân tộc kiên quyết đấu tranh cho một lý tưởng chung, thực hiện cho kỳ được một mục đích vĩ đại, gương hy sinh của chiến sĩ trên tiền tuyến, của toàn thể đồng bào ở hậu phương và cuối cùng là cái triển vọng sáng sủa của cuộc kháng chiến toàn dân và toàn diện. Bấy nhiêu sự trạng lẽ nào không chạm trổ vào tâm hồn người trí thức những nét tâm trạng bền bỉ sâu sắc? Mà nét quý báu nhất chắc chắn là mối tin tưởng vào tiền đồ của Tổ quốc, của dân tộc. Mối tin tưởng đó là một cái hoa men của văn hóa kháng chiến” (Cách mạng, kháng chiến và đời sống văn học, 1945 - 1954, hồi ức kỷ niệm, NXB Khoa học xã hội, 1995).

1anh-2.jpg
Đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ tham dự Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, tháng 11/1946. (Ảnh tư liệu)

Tác phẩm “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam” (1948) của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh như một tiền đề lý luận quan trọng của nền văn hóa/ văn học cách mạng được trình bày trong Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai (1948). Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày thấu suốt và thuyết phục mối quan hệ giữa văn hóa (trong đó có văn học nghệ thuật) với thực tiễn đời sống mới (như là thước đo các giá trị mới). Đồng thời tác giả cũng đề xuất tinh thần của nền văn học mới do Đảng lãnh đạo, lấy phương pháp Hiện thực xã hội chủ nghĩa làm nền tảng. Nếu trong Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (1946) khẩu hiệu “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” (Hồ Chí Minh) được coi như kim chỉ nam, ngọn đuốc phát tỏa ánh sáng rạng ngời thì đến Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai (1948), Người nêu khẩu hiệu “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”. Từ lý luận đến thực tiễn, từ thực tiễn nâng lên thành lý luận là đặc sắc tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951, Người viết “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.

Nền văn học cách mạng sản sinh thế hệ nhà văn đồng hành cùng dân tộc

Lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và cuộc trường chinh vĩ đại theo những “dấu chân người lính” tạo tác nên “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”. Vóc dáng nhà văn bỗng lớn vụt lên bởi “Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi/ Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu/ Tôi sống với cuộc đời chiến đấu/ Của triệu người yêu dấu gian lao” (Những đêm hành quân - Xuân Diệu). Nền văn học cách mạng Việt Nam trải qua thời kỳ tiền khởi nghĩa, đặc biệt qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ đã được đánh giá chính xác và công bằng “Xứng đáng đứng vào hàng ngũ những nền văn học tiên phong chống đế quốc của thời đại”. Hình tượng trung tâm của nền văn học cách mạng là nhân dân anh hùng, vì “Thời đại anh hùng đòi hỏi một nền nghệ thuật anh hùng” (M. Gorki). Nhà thơ Chế Lan Viên đã viết những câu thơ tráng lệ, ngút ngàn hào khí Đông A về thời đại và con người Việt Nam anh hùng những năm kháng chiến “Không ai có thể ngủ yên trong đời chật/ Buổi thủy triều vẫy gọi những vầng trăng/ Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt/ Gỗ trăm cây đều muốn hóa nên trầm/ Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt/ Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng” (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?). Các thi nhân thời đại cách mạng, bằng ngôn từ nghệ thuật, đã khắc họa những tượng đài bằng thơ về người chiến sĩ - anh Bộ đội Cụ Hồ trong sáng tác của các nhà thơ thế hệ chống Pháp và Mỹ. Thơ ca đã dựng “tượng đài người lính cách mạng”, tạo “dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ” từ “Tây Tiến” của Quang Dũng đến “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân. Đây cũng là thời đại xuất hiện những tác phẩm văn xuôi mang âm hưởng sử thi - lãng mạn về cuộc trường chinh vĩ đại của dân tộc qua hàng loạt tác phẩm “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc, “Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai, “Sống mãi với Thủ đô” của Nguyễn Huy Tưởng, “Một truyện chép ở bệnh viện” của Bùi Đức Ái, “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu, “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi, “Chiến sĩ” của Nguyễn Khải, “Vùng trời” của Hữu Mai, “Sống như Anh” của Trần Đình Vân, “Rừng U Minh” của Trần Hiếu Minh, “Mẫn và tôi” của Phan Tứ... Câu nói đầu cửa miệng ở Việt Nam thời chiến tranh “Ra ngõ gặp anh hùng” đã ứng nghiệm vào văn hóa, văn học dân tộc.

1anh-3.jpg
Các văn nghệ sĩ dự Hội nghị Chấp hành mở rộng Hội Văn nghệ Việt Nam tại Việt Bắc tháng 3/1951. (Ảnh tư liệu)

Lãnh tụ Hồ Chí Minh là hình tượng lộng lẫy, kỳ vĩ nhất trong văn học nghệ thuật Việt Nam thời đại cách mạng và chiến tranh, khúc xạ tập trung và rực rỡ nhất trong thơ Tố Hữu qua các thi phẩm “Hồ Chí Minh”, “Sáng tháng Năm”, “Bác ơi”, “Theo chân Bác”, “Thăm Bác chiều đông”, bởi lẽ “Hồ Chí Minh tên Người là cả một niềm thơ” (Nhà thơ Cuba F. Rôđrighêt). Nhà thơ Chế Lan Viên đã có một tổng kết bằng ngôn ngữ thơ về lãnh tụ anh minh của dân tộc, qua tráng ca “Người đi tìm hình của nước”.

Công cuộc Đổi mới và sự phát triển bền vững của nền văn học cách mạng

Đại thắng mùa xuân 1975 và chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh vĩ đại đã lập lại nền hòa bình của nhân dân Việt Nam sau 30 năm (1945-1975) khói lửa của cuộc chiến tranh trường kỳ, gian khổ và ác liệt nhất trong lịch sử dân tộc. Hòa bình được trả bằng một giá đắt “Việt Nam ơi máu và hoa ấy/ Có đủ mai sau thắm những ngày” (Việt Nam máu và hoa - Tố Hữu). Lịch sử sang trang - Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1976), thúc đẩy quá trình kiến thiết trang mới của nền văn học cách mạng, khi đất nước hòa bình, thống nhất, giang sơn thu về một mối. Lịch sử không phải là văn học. Nhưng văn học không thể đứng ngoài/ đứt lìa với lịch sử, luôn nương theo truyền thống “văn sử bất phân” của dân tộc từ hàng nghìn năm.

Công cuộc Đổi mới (1986) do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo như một tất yếu lịch sử - văn hóa. Công cuộc Đổi mới giải phóng năng lượng sáng tạo văn hóa/ văn học. Các nghị quyết/ chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước đều quan tâm đặc biệt đến đổi mới và phát triển văn học dưới ánh sáng của văn hóa. Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ ba (11/2021) đã xác quyết vị thế của văn hóa “Văn hóa còn thì dân tộc còn” trong chiến lược phát triển đất nước từ tầm nhìn trung hạn và dài hạn. Các thế hệ nhà văn tiếp nối theo quy luật “tre già măng mọc” đã cùng đồng lòng xây đắp ngôi đền văn hóa, văn học dân tộc ngày càng sáng đẹp theo lý tưởng Chân - Thiện - Mỹ. Không chỉ trong chiến tranh mà cả trong thời bình, nhà văn vẫn giữ vững tinh thần đồng hành cùng đất nước, nhân dân. Đổi mới đã tạo điều kiện và cơ hội để các nhà văn Việt Nam bước lên đại lộ sáng tạo. Trải qua 10 đại hội (1957 - 2020), Hội Nhà văn Việt Nam (với hơn 1600 hội viên) luôn giữ nguyên tắc hoạt động, được thể hiện trong slogan của báo Văn nghệ “Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội”. Nhiều nhà văn đã ngã xuống trên chiến trường, được phong danh hiệu Liệt sĩ (Trần Đăng, Thâm Tâm, Nam Cao, Dương Thị Xuân Quý, Lê Anh Xuân...), Anh hùng (Vũ Khiêu, Sơn Tùng, Chu Cẩm Phong, Minh Chuyên,..). Cùng với công cuộc Đổi mới, văn học Việt Nam đang tìm đường hội nhập vào “bản đồ văn học thế giới”, vì “ngoài trời còn có trời”, với quyết tâm làm cho “tiếng Việt không còn cô đơn”, vì cao vọng “chạm” vào được “mẫu số chung của nhân loại”. Đó là niềm hy vọng thiêng liêng cần được cổ vũ kịp thời. Chúng ta đã khiêm tốn “xuất khẩu” bước đầu văn học Việt Nam (chủ yếu là tiểu thuyết) vào những thị trường văn học khó tính như Mỹ, Pháp, Đức, Nhật Bản,...

Văn hóa là chân tủy của văn học. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ ba (11/2021), đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong bài phát biểu đã nhấn mạnh đến tiên đề “Văn hóa còn thì dân tộc còn”. Văn học cách mạng Việt Nam phát triển trong bối cảnh lịch sử Đảng cầm quyền, trong thời đại Hồ Chí Minh với lý tưởng cao cả “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Định đề “ Văn học là nhân học (M. Gorki) trường tồn ý nghĩa lịch sử và giá trị nhân văn cao cả. Trong khái niệm/ phạm trù văn học dân tộc Việt Nam thời hiện đại (thế kỷ XX), có thể khẳng định: nền văn học cách mạng là chủ lưu, chủ đạo, quan trọng song hành với nền văn học yêu nước, tiến bộ ở những không gian - thời gian sáng tác khác do hoàn cảnh lịch sử tạo nên (Văn học miền Nam 1954 - 1975, trong vùng kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, chẳng hạn). Đất nước hòa bình, thống nhất đã tròn nửa thế kỷ (1975 - 2025), vì thế thống nhất văn hóa là điều kiện tiên quyết để thống nhất nhân tâm. Bởi lẽ, 100 triệu người dân Việt Nam đều là con Rồng cháu Tiên, đều thấm đượm nghĩa tình đồng bào (cùng bọc). Những câu thơ của nhà thơ Tố Hữu viết cách đây gần 70 năm vẫn còn vang vọng: “Ta đi tới, không thể gì chia cắt/ Mục Nam Quan đến bãi Cà Mau/ Trời ta chỉ một trên đầu/ Bắc Nam liền một biển/ Lòng ta không giới tuyến/ Lòng ta chung một Cụ Hồ/ Lòng ta chung một Thủ đô/ Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam” (Ta đi tới - Tố Hữu).

Bối cảnh chính trị - xã hội - văn hóa hiện nay đã hội đủ các nhân tố cần và đủ “thiên thời - địa lợi - nhân hòa” để thúc đẩy văn học cách mạng phát triển lên một trình độ mới. Sứ mệnh văn hóa của văn học và nhà văn chính là xây dựng những không gian văn hóa nhân văn và nhân cách văn hóa mới biểu thị hệ giá trị Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Sẽ đến một ngày nhân loại biết nhiều hơn và hiểu sâu sắc hơn về đất nước và con người Việt Nam thông qua/ nhờ văn học. Đó là cuộc giao lưu văn hóa qua/ bằng văn học. Khi đó, văn học được quan niệm như là những đại sứ văn hóa, tỏa đi khắp bốn phương trời, kết nối với bè bạn năm châu, khi trái đất là ngôi nhà chung của thế giới. Nói văn học là nghệ thuật ngôn từ, đồng thời hiểu “ngôn từ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng”./.

Bài liên quan
  • “Lời trăm năm” và vẻ đẹp trữ tình trong thơ Hạnh Nhi
    Tiến sĩ ngôn ngữ học Nguyễn Hạnh Nhi - người con của quê hương Quảng Ngãi hiện là giảng viên Trường Đại học Phạm Văn Đồng. Chị còn được biết tới ở mảng sáng tác thơ với nhiều bài mang dấu ấn riêng. Thơ Hạnh Nhi giàu chất tự sự, lặng lẽ mà thấm sâu.
(0) Bình luận
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
  • Ngô Thanh Vân, vẻ đẹp kỳ diệu của nỗi buồn
    Người xưa rất coi trọng phần nội tâm (tình) trong thơ. Không có văn bản văn học nào thể hiện cái tôi cá nhân rõ như thơ. Nói như nhà văn Trịnh Bích Ngân: “Thơ không chịu được sự che đậy... Dũng cảm phơi bày. Chân thành phơi bày”.
  • Thao thức với phần đời chiến trận
    Có thể nói cuộc kháng chiến trường kỳ hào hùng và bi tráng của dân tộc, ở bất kỳ trạng huống nào dường như đã chi phối và tạo động lực cho đội ngũ văn nghệ sĩ, những người cầm bút suy nghĩ và sáng tạo. Ta hiểu vì sao ngay trong cuộc sống thời bình, trong đời sống dân sự, những hình ảnh của ngày hôm qua vẫn khiến con người luôn “thao thức với phần đời chiến trận”.
  • Phát huy vai trò của văn nghệ sĩ Thủ đô trong phát triển công nghiệp văn hóa
    Hà Nội - Thủ đô tự nhiên của lưu vực sông Hồng, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước từ ngàn xưa đã là nơi hội tụ và đào luyện nhân tài. Phần lớn danh nhân Việt Nam từng sống, làm việc, sáng tạo ở Thăng Long - Hà Nội, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc. Ở mảnh đất hội tụ tinh hoa văn hóa bốn phương ấy, con người Thăng Long mang trong mình nét tài hoa, đa tài, đa nghệ, thấm đẫm bản sắc trí tuệ và tinh thần sáng tạo. Trong đó, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ - những người sinh ra, lớn lên
  • Xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong bối cảnh hội nhập
    Xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng không chỉ là nhiệm vụ cấp thiết của các cấp, các ngành mà còn là sứ mệnh đặc biệt của đội ngũ văn nghệ sĩ Thủ đô. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, việc xác định rõ những trọng tâm trong xây dựng hệ giá trị văn hóa là hết sức cần thiết.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Tìm về dấu tích Giảng Võ trường ở Thăng Long xưa
    Trong suốt hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã anh dũng chống lại nhiều kẻ xâm lược để bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc. Để có được thành công như ngày hôm nay, việc đào tạo nhân tài là yếu tố quan trọng, gồm cả về văn và võ. Tuy nhiên, việc đào tạo nhân tài về võ rất ít được ghi chép và rất hạn chế thông tin. Các di tích đào tạo về võ ở Thăng Long như điện Giảng Võ, Giảng Võ trường được ghi nhận từ các thời Lý nhưng đến nay vẫn chưa rõ ràng. Giảng Võ hiện nay là một phường nằm ở phía Tây của Hoàng thành Thăng Long, trước đây khu vực này còn có tên là Thập Tam trại.
  • Lối đi đầy mùi khói cuối năm
    Một cảm xúc lan nhẹ trong lòng tôi. Ôi cái mùi khói đống rấm lâu lắm rồi tôi không còn được thấy. Đã gần bốn chục năm rồi, kể từ khi mẹ tôi theo mấy chị em chúng tôi ra thành phố sống, rồi bệnh già mà khuất núi, tôi không được ăn Tết ở quê.
  • Ngựa trong đời sống Thăng Long - Hà Nội
    Hà Nội có 5 địa danh gắn với chữ Mã là phố Kim Mã, hồ Mã Cảnh, phố Hòa Mã, phố Hàng Mã và đền Bạch Mã. Tuy nhiên, chữ Mã với nghĩa là ngựa thì chỉ có Kim Mã, Mã Cảnh và Bạch Mã. Tuy nhiên Bạch Mã với nghĩa ngựa trắng chỉ là truyền thuyết, còn chữ Mã trong Hàng Mã và Hòa Mã là chữ Nôm chỉ đồ cúng tế, quần áo mặc khi làm lễ.
  • Y tế Hà Nội đảm bảo thường trực 24/24 giờ dịp Tết Bính Ngọ 2026
    Sở Y tế giao Trung tâm cấp cứu 115 Hà Nội là thường trực phối hợp các đơn vị trên địa bàn bố trí nhân lực, phương tiện đảm bảo công tác cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh an toàn; sẵn sàng thường trực 24/24 giờ tại Trung tâm Cấp cứu 115 và các trạm vệ tinh cấp cứu...
  • Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm hỏi, tặng quà công nhân vệ sinh môi trường ứng trực Tết Bính Ngọ trên địa bàn Hà Nội
    Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, sáng 15/2 (28 tháng Chạp năm Ất Tỵ), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã tới thăm hỏi, động viên, tặng quà lực lượng công nhân lao động vệ sinh môi trường đang ứng trực trên địa bàn Thủ đô Hà Nội. Cùng đi với Thủ tướng có Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Nguyễn Mạnh Quyền.
Đừng bỏ lỡ
  • Sắc xuân rộn ràng trong không gian nghệ thuật mở tại Nhà Bát Giác
    Tối ngày 15/2, trong không khí xuân lan tỏa khắp Thủ đô, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” tiếp tục diễn ra tại Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ, mang đến cho người dân và du khách một đêm thưởng thức nghệ thuật giàu màu sắc, kết hợp hài hòa giữa âm nhạc, xiếc và múa.
  • Nhạc sĩ Giáng Son ra mắt MV "Hà Nội những sắc hoa mùa xuân"
    Những ngày giáp Tết 2026, nhạc sĩ Giáng Son vừa giới thiệu dự án âm nhạc đặc biệt mang tên Hà Nội những sắc hoa mùa xuân. Ca khúc được phổ từ bài thơ Hoa Hà Nội của tác giả Dương Quyết Thắng do ca sĩ Hà Trần thể hiện
  • Thủ đô Hà Nội khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc, viết tiếp những trang sử hào hùng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước
    Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nội đã trả lời phỏng vấn báo chí nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, trong đó Bí thư Thành ủy khẳng định: Bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc của Thủ đô văn hiến và anh hùng mãi là điểm tựa vững chắc để Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Thủ đô viết tiếp những trang sử hào hùng, tạo những giá trị mới trong giai đoạn cách mạng mới của đất nước! Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu bài phỏng vấn đồng chí Bí thư Thành ủy Hà Nội.
  • “Bản hòa tấu mùa xuân” giữa lòng Thủ đô
    Chiều ngày 15/2, tại Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” đã mang đến cho công chúng Thủ đô một không gian nghệ thuật ngập tràn sắc xuân với buổi biểu diễn nhạc Jazz mang chủ đề “bản hòa tấu mùa xuân”.
  • Trước mùa
    Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu tới quý độc giả bài thơ Trước mùa của tác giả Đặng Huy Giang.
  • Nhà hát Kịch Hà Nội mang Xuân đến Sơn Tây và Xã đảo Minh Châu
    Tối 16/02/2026 (đêm Giao thừa Tết Bính Ngọ), Nhà hát Kịch Hà Nội đồng thời tổ chức 02 chương trình nghệ thuật “Chào Xuân Bính Ngọ 2026” phục vụ Nhân dân tại xã Sơn Tây và xã Minh Châu (Ba Vì).
  • Lễ hội du lịch Chùa Hương năm 2026: Miễn phí hoàn toàn trông giữ xe ô tô, nâng cao chất lượng phục vụ du khách
    Lễ hội du lịch Chùa Hương năm 2026 được tổ chức với nhiều điểm mới trong công tác quản lý, phục vụ Nhân dân và du khách, trong đó nổi bật là chính sách miễn phí trông giữ xe các ô tô dịch vụ (biển màu vàng) và xe từ 10 chỗ ngồi trở lên ở các bãi trông giữ xe theo quy định, góp phần giảm chi phí, tạo thuận lợi cho người dân khi tham gia lễ hội.
  • Hương cốm ấy
    Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu tới quý độc giả bài thơ Hương cốm ấy của tác giả Châu Anh Tuấn.
  • Linh vật Ngựa ở Cố đô Huế tạo hình biểu trưng giàu giá trị văn hóa
    Các linh vật Ngựa được trang trí tại Hội Xuân Huế 2026 theo lối ngôn ngữ tạo hình mang tính biểu trưng và hình tượng văn hóa cùng họa tiết trang trí trong kiến trúc và trang phục cung đình triều Nguyễn thể hiện rõ khí chất của Huế.
  • Trình diễn nghệ thuật ca trù "Hàn Lạp Nhã Ca"
    Hàn Lạp Nhã Ca là chương trình giới thiệu nghệ thuật ca trù do các nghệ nhân, ca nương, kép đàn Câu lạc bộ Ca trù Long Thành thực hiện, do Nghệ nhân Ưu tú Hoàng Khoa làm Chủ nhiệm, phối hợp cùng các ca nương khách mời đến từ Câu lạc bộ Ca trù Lỗ Khê.
Giá trị văn hóa bền vững của nền văn học cách mạng Việt Nam 1945 - 2025
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO