Văn hóa – Di sản

Nguyễn Du – đại thi hào dân tộc

Nguyễn Hữu Sơn - Quỳnh Chi 23/11/2023 09:19

Nguyễn Du tên tự là Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn Liệp Hộ, sinh năm Ất Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng (1765). Trong gia phả họ Nguyễn làng Tiên Điền có ghi ngày sinh của Nguyễn Du là 23 tháng 11 năm Ất Dậu (tức ngày 3 tháng 1 năm 1766). Xuất thân trong một gia đình phong kiến đại quý tộc, trí thức và tài hoa.

nguyen-du.jpg
Tượng danh nhân Nguyễn Du.

Theo gia phả thì ông là “dòng dõi một nhà thế phiệt trâm anh, đệ nhất trong nước lúc bấy giờ”, “cả nhà, cha con chú bác, anh em đều là người khoa giáp, làm quan to đời nhà Lê”. Cha là Nguyễn Nghiễm (1707-1775) đỗ Tiến sĩ, làm quan tới chức Đại tư đồ Bình nam tả tướng quân, tước Xuân Quận công, đứng đầu các hàng quan ở triều đình nhà Lê. Mẹ là Trần Thị Tần (1740-1778) đẹp nổi tiếng đất Kinh Bắc. Trong những người anh của Nguyễn Du, người anh đầu là Nguyễn Khản, đỗ Tiến sĩ, làm tới chức Thượng thư Bộ Lại, tước Toản Quận công, được chúa Trịnh Sâm tin dùng; anh thứ hai là Nguyễn Điều, đỗ tam trường, làm quan đến chức Trấn thủ Hưng Hoá.

Tháng 11 năm Ất Mùi (1775), cha ông mất, và ba năm sau (1778), mẹ ông cũng qua đời, khi ấy ông mới 13 tuổi. Nguyễn Du về ở với anh là Nguyễn Khản, lúc đó đang làm Tả thị lang Bộ Hình kiêm Hiệp trấn xứ Sơn Tây. Trong thời gian đó đất nước trải qua nhiều biến động dữ dội, hết chuyện tranh giành ngôi chúa giữa Trịnh Tông và Trịnh Cán đến chuyện kiêu binh nổi loạn phá phách. Một số đại thần hoặc bị giết hoặc phải chạy trốn. Trong đó có cả Nguyễn Khản đã phải cải trang trốn lên Sơn Tây tìm Nguyễn Điều lập mưu kéo quân về kinh đô dẹp kiêu binh nhưng bị lộ đành phải bỏ về quê ở Hà Tĩnh. Sự việc xảy ra khi Nguyễn Du 18 tuổi, vừa đi thi đỗ tam trường (tú tài) ở trường Sơn Nam. Gia đình Nguyễn Du thế là bắt đầu tan tác, anh em mỗi người một nơi.

Năm 1786, Nguyễn Huệ đưa quân ra Bắc diệt Trịnh, trả lại vị thế cho vua Lê. Nhưng Lê Chiêu Thống hèn nhát rước quân Thanh về dày xéo đất nước. Năm 1789, Nguyễn Huệ phải thân chinh ra Thăng Long quét sạch hai chín vạn quân Thanh. Sau khi nhà Lê sụp đổ, Nguyễn Du trở về quê vợ (xã An Hải, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình), định cùng anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn tập hợp hào mục tính việc phục quốc, nhưng không thành. Ông đã gửi tâm sự của mình vào nhiều bài thơ trong tập Thanh Hiên thi tập:

Thư kiếm vô thành sinh kế xúc,

Xuân thu đại tự bạch đầu tân.

(Tự thán, kỳ nhị)

(Dở dang thư kiếm cơn cùng quẫn,

Lần lữa xuân thu tóc bạc rồi)

(Tự thán II)

Mười năm ở Thái Bình là thời gian trôi dạt lênh đênh mà nhà thơ gọi là “mười năm gió bụi”.

Năm 1796, Nguyễn Du trở về quê cha ở Hồng Lĩnh. Theo gia phả: “Mùa đông năm Bính Thìn (1796), ông toan vào Gia Định giúp Nguyễn Ánh. Việc bại lộ, ông bị tướng Tây Sơn là Nguyễn Thận bắt giam. Quận công Thận là bạn thân của anh ông là Nguyễn Nễ, vả lại cũng tiếc tài ông, nên chỉ giam ông mấy tháng rồi tha”...

Một sự kiện lịch sử đã đem lại một sự biến đổi trong đời ông là khi Tây Sơn thất bại. Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long. Trong Đại Nam chính biên liệt truyện có chép: “Đến khi có lệnh gọi, ông không thể chối, bất đắc dĩ phải ra”. Tháng 8 năm ấy được bổ làm Tri huyện Phù Dung (thuộc Khoái Châu, Hưng Yên), tháng 11, đổi làm Tri phủ Thường Tín. Sang năm sau được cử lên cửa Nam Quan tiếp sứ thần Trung Quốc. Năm 1805, được cử làm Giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương. Năm 1809, được bổ nhiệm làm Cai bạ dinh Quảng Bình. Nguyễn Du giữ chức này trong bốn năm liền. Gia phả chép: “Phàm những việc công trong hạt như lính tráng, dân sự, kiện thưa, tiền nong, lương thực và các hạng thuế, đều bàn bạc thương thuyết với các quan lưu thủ, ký lục để thi hành. Ông giữ chức Cai bạ bốn năm, chính sự giản dị, không cầu tiếng tăm, nên được sĩ phu và nhân dân yêu mến”...

Năm 1813, Nguyễn Du được thăng Cần chánh điện học sĩ và được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc. Sau khi về nước, năm 1815, ông được thăng Hữu tham tri Bộ Lễ.

Cũng sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép: “Đối với nhà vua thì ông chỉ giữ hết bổn phận, chứ không hay nói năng điều gì”, và “đến khi ốm nặng ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ nói với ông đã lạnh rồi, ông nói “được” rồi mất, không trối lại điều gì”. Ông mất năm 1820, khi đó 55 tuổi.

Làm quan nhà Nguyễn, nhưng Nguyễn Du vẫn sống cảnh thanh bạch, nhiều lúc gia đình lâm vào cảnh túng thiếu. Theo gia phả thì ông có ba vợ, 18 người con (12 trai, 6 gái).

Làm quan với một tâm trạng bất đắc dĩ, và bất đắc chí, nghèo khó mà vẫn giữ lòng trong sạch và sống gần những người đau khổ dưới chế độ phong kiến suy tàn, đặc biệt là dưới chế độ khắc nghiệt tàn bạo của Gia Long, Nguyễn Du đã dần dần thấy bộ mặt thực của bọn quyền quý. Sau này, trong thời gian làm Chánh sứ sang Trung Quốc, trong tập thơ Bắc hành tạp lục, Nguyễn Du đã có dịp thông qua xã hội phong kiến nhà Thanh mà lớn tiếng ca ngợi những con người dũng cảm, khí phách, đả kích những phường gian nịnh, tàn bạo, xót thương những người nghèo khổ, đặc biệt là bênh vực và xót thương những người phụ nữ tài sắc bị vùi dập.

Nguyễn Du đã thấy rõ trong cái xã hội mục nát thời cuối Lê sang Nguyễn những tên quan lớn quan bé, hạng tiểu nhân hám danh trục lợi... Chúng là những lũ ma quỷ hoành hành giữa cõi người.

Trong xã hội như vậy thì nhân dân tất phải chịu bơ vơ oan khổ, người trung nghĩa cương trực cũng khó có chỗ dung thân. Cho nên Nguyễn Du đau xót chung cho cả cuộc đời, xót thương số phận hẩm hiu của những người đang sống và của những người đã chết.

Nguyễn Du dành phần xót thương sâu sắc của mình đối với lớp người yếu đuối, đau khổ nhất trong xã hội phong kiến là phụ nữ - “đau đớn thay phận đàn bà”, lời kêu thương đó được thốt lên nhiều lần trong thơ ông.

Về sáng tác của Nguyễn Du, ngoài Truyện Kiều nổi tiếng, những tác phẩm viết bằng chữ Nôm của ông có bài Văn chiêu hồn (còn gọi là Văn tế thập loại chúng sinh), bài Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu và bài thơ Thác lời trai phường nón. Những sáng tác bằng chữ Hán của ông gồm ba tập thơ là Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâmBắc hành tạp lục.

Nguyễn Du là nhà thơ lớn của dân tộc, là tập đại thành của văn học phong kiến, là người kế thừa một cách sáng tạo truyền thống tốt đẹp của văn học dân tộc và nâng truyền thống ấy lên một đỉnh cao chói lọi. Đương nhiên nói đến Nguyễn Du là nói đến kiệt tác Truyện Kiều, thi phẩm đã được chuyển thể, chuyển dịch, sáng tạo lại nương theo cốt truyện tiểu thuyết chương hồi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Đồng thời với xu thế lược giản cốt truyện, nhân vật, sự kiện, tình tiết, thiên tài nghệ thuật Nguyễn Du còn thể hiện ở việc nâng cấp, gia tăng chất trữ tình, khai thác tâm trạng nhân vật và diễn tả phong cảnh thiên nhiên. Xu thế gia tăng này không chỉ được đo đếm bằng số lượng câu chữ mà bao gồm cả cách thức sáng tạo, nhấn mạnh, cô đúc, tinh lọc, tinh luyện những câu văn xuôi thành lời thơ sâu lắng, gợi cảm, đi sâu vào lòng người.

Ngay từ mấy câu thơ mở đầu kiệt tác Truyện Kiều, Nguyễn Du đã bày tỏ được quan niệm sáng tác của mình cũng như khái quát được một phương diện quan trọng nhất trong nội dung trữ tình Truyện Kiều:

Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng...

Nếu như ở tiểu thuyết chương hồi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, đối tượng được phản ánh là sự đan dệt của hiện thực chữ tình – đại kinh với một bên là chữ khổ – đại vĩ và tấn bi kịch phổ quát về những số phận con người “giai nhân mệnh bạc, hồng phấn thời thừa”, thì đến Truyện Kiều, triết thuyết “tài mệnh tương đố” - Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau - đã được chuyển hóa trong cảm hứng trữ tình, bằng tiếng nói trữ tình ngoại đề và nỗi “đau đớn lòng” của chính tiếng lòng Nguyễn Du.

Từ trước đến nay, bạn đọc và giới nghiên cứu ngày càng thâu nhận sâu sắc vai trò của tiếng nói trữ tình trong Truyện Kiều. Phạm Quỳnh cảm nhận Thúy Kiều là “một kẻ sầu nhân” và Truyện Kiều là “một thiên lịch sử thống thiết của tác giả”. Hoài Thanh xác nhận Truyện Kiều như một “tiếng kêu thương”. Lê Đình Ky khai thác vấn đề “tình nghĩa từ Truyện Kiều”, “tình thương bao la” và khái quát thành “văn hóa nghĩa tình Việt Nam”. Trần Đình Sử từ điểm nhìn lý luận đã mã hóa sắc thái “giọng điệu cảm thương”, “giọng điệu nghệ thuật cảm thương”, “môi trường tình thương”, “nhân vật thể hiện tình thương”, “thương người xót thân” và một “chủ nghĩa cảm thương” tạo nên giọng điệu chủ lưu có sức rung cảm sâu xa trong lòng người đọc. Đỗ Minh Tuấn nhấn mạnh “cái tôi trữ tình của Nguyễn Du”, “cảm hứng đau đời, thương người”... Trong Truyện Kiều quả đã xuất hiện đậm đặc một số lượng từ cảm thán và bao quát nhiều cung bậc tình cảm, trạng thái tâm lý khác nhau như Ôi, Hỡi, Hỡi ôi, Chàng ôi, hiển Than ôi, Thương ôi... Đây là những sắc thái cảm thương đỉnh cao, hiện trực tiếp, sâu sắc và rõ nét trong Truyện Kiều. Việc phân tích, so sánh những lời cảm thán câu cảm thán - đoạn văn có lời cảm thán trong Truyện Kiều sẽ cho thấy rõ hơn định hướng cảm hứng nghệ thuật cũng như khả năng sáng tạo bậc thầy của nhà nghệ sĩ ngôn từ Nguyễn Du.

Trong Truyện Kiều, có một lần Nguyễn Du sử dụng liền hai từ cảm thán trong một câu:

Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Đây là dòng thơ nằm ở cặp câu lục bát cuối cùng trong một đoạn 38 câu thơ diễn tả lời Thúy Kiều nói với Thúy Vân về mối tình riêng, về đức hiếu sinh với mẹ cha, về việc cậy nhờ em gái thay mình đền đáp lại tấm tình chàng Kim... Xét nguyên tác Kim Vân Kiều truyện, hồi 7, lời cảm thán này không nằm trong đoạn Thú Kiều nói với Thúy Vân mà là lời Thúy Kiều tự nhủ, tự bày tỏ nỗi lòng trước khi thành thân cùng Mã Giám Sinh. Trong nguyên tác, sắc thái cảm thán cũng rất rõ nét: “Kim sinh! Kim sinh! Nhĩ thê tử kim nhật dữ nhĩ phân ly liễu.” (Chàng Kim! Chàng Kim! Bữa nay vợ chàng chia ly cùng chàng đây...). Khi chuyển sang Truyện Kiều, Nguyễn Du đã cảm lại, sắp xếp lại các chi tiết, tình tiết và chuyển hóa chúng trong hình thức nghệ thuật thi ca hết sức cô đọng, sâu lắng. Sắc thái cảm thán cũng được chuyển hóa phù hợp với tư duy thơ ca, phù hợp với tâm lý tiếp nhận của người Việt. Các chữ Ôi và Hỡi được đặt ở đầu hai vế câu vừa là tiểu đối vừa là sự tiếp nối, trùng điệp, nhấn mạnh. Lời cảm thán Ôi Kim lang! được nhắc lại, nhân đôi số lượng câu chữ nhưng sắc thái cảm xúc thì tăng gấp bội. Thêm nữa, khi nhắc lại lời cảm thán, chữ Ôi được thay bằng Hỡi, rõ ràng âm hưởng hô ứng, đăng đối tự nó đã khơi gợi cảm xúc về một lời than, một lời viếng tế, tiếng khóc bi ai. Câu thơ tiếp nối Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây! đồng thời cũng là câu kết cho cả một đoạn thơ dài 38 câu bày tỏ nỗi lòng Thúy Kiều với hai từ điệp Thôi thôi (biểu cảm sự thảng thốt, dồn nén tâm trạng bất lực, vô vọng) và ba chữ cuối cùng đều là thanh bằng (tạo âm hưởng hụt hơi, bế tắc, cùng cực)... Vậy là lời cảm thán đã phát huy tác dụng. Đó cũng chính là ưu thế của tiếng nói thi ca và chất trữ tình đã được Nguyễn Du chuyển hóa, nâng cấp về chất so với hình thức tự sự của nguyên tác.

Có thể xác định chiều hướng chung, mỗi khi giọng điệu trữ tình và lời cảm thán trong Truyện Kiều gia tăng thì có nghĩa phần cốt truyện, sự kiện ở đó so với Kim Vân Kiều truyện lại được lược giản, tóm tắt, chuyển hoá, thay thế; đồng thời mỗi khi có cơ xuất hiện những tấn bi kịch, những bước ngoặt trong cuộc đời nhân vật, những tâm trạng khắc khoải buồn vui hay những đúc kết triết lý về số phận con người thì thường được Nguyễn Du chú trọng khai thác, gia tăng lời cảm thán và giọng điệu trữ tình. Chính những điều này đã làm nên giá trị nghệ thuật đặc sắc cho truyện Kiều và thiên tài nghệ thuật nguyễn Du.

Năm 1790, Nguyễn Du có dịp đến Thăng Long thăm anh là Nguyễn Nễ. Chính trong dịp này, ông đã chứng kiến sự ăn chơi của các quan Tây Sơn, rồi tả lại trong Long thành cầm giả ca:

Tây Sơn chư thần mãn toạ tận khuynh đảo,

Triệt dạ truy hoan bất tri bão.

Tả phao hữu trịch tranh triền đầu,

Nê thổ kim tiền thu thảo thảo.

(Các quan Tây Sơn trong tiệc rượu

Mảng vui suốt đêm không biết chán.

Phía tả, phía hữu tranh nhau gieo thưởng,

Tiền bạc coi rẻ như đất bùn) đều ngả nghiêng,

Trên hết cả, bài thơ dài đã khắc họa sâu sắc những đổi thay của cả một thời và cả một đời người, bày tỏ mối tương liên đồng cảm thương người se sắt nỗi thương thân. Xin dẫn một đoạn bản dịch:

... Khúc xưa đàn lên từng tiếng mà nước mắt tôi thầm rơi,

Tai lắng nghe mà trong lòng đau xót.

Bỗng sực nhớ chuyện hai mươi năm trước,

Từng thấy cô ta trong bữa tiệc bên hồ Giám.

Thành quách đổi dời, việc người cũng khác,

Bao nơi nương dâu trở thành biển cả.

Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu vong đâu hết,

Mà còn sót lại một người trong làng ca múa.

Trăm năm thấm thoát có là bao,

Cảm thương việc cũ, nước mắt thấm áo.

Tôi từ Nam hà trở lại, đầu bạc trắng hết,

Không trách nhan sắc người đẹp suy tàn.

Hai mắt trừng trừng luống tưởng chuyện trước,

Thương thay gặp mặt mà không nhận ra nhau!

Nguyễn Du nhấn mạnh sự đối lập giữa hôm nay và hôm qua, giữa việc làm quan và cuộc sống tự tại, giữa sự bó buộc và tháng ngày lãng du:

Thử thân dĩ tác phàn lung vật,

Hà xứ trùng tầm hãn mạn du?

(Tân thu ngẫu hứng)

(Thân này đã là vật trong lồng rồi,

Còn tìm đâu được cuộc đời phóng khoáng tự do nữa?)

(Đầu mùa thu ngẫu hứng)

Đặc biệt khi viết về chiến tranh, ông mừng vui khi đất nước thu về một mối, gián cách ngay cả với những ta - địch, chính - phản, thắng - thua mà đề cao đức hiếu sinh, vẻ đẹp hồn toàn của tạo hoá và cuộc sống thanh bình:

Nam Bắc xa thư khánh đại đồng,

Pháo đài hư thiết thổ thành đông.

Sơn băng thạch liệt thành do tráng,

Hán đoạt Tần tranh sự dĩ không.

Tạc giả đại khuy sinh vật đức,

Nhĩ lai bất quí sát nhân công.

Thanh bình thời tiết vô tranh chiến,

Ngưu độc ưu sừ chính trọng nông.

(Pháo đài)

(Nam bắc, xe và chữ viết, mừng đã giống nhau,

Pháo đài bỏ không ở phía đông thành đất.

Núi lở đá tan, nhưng bức thành còn vững,

Nhà Hán nhà Tần tranh giành nhau, chuyện đã qua.

Trước kia thương tổn rất nhiều đến đức muốn muôn vật sinh tồn,

Giờ đây không quí cái công giết người nữa.

Trong buổi thanh bình không có chiến tranh,

Trâu bò cày bừa, chính giờ là lúc coi trọng nghề nông)

Phải ghi nhận rằng tâm thức Nhĩ lại bất quí sát nhân công (Giờ đây không quí cái công giết người nữa) của Nguyễn Du thật vô cùng siêu việt, hiện đại, đạt đến tầm cao giá trị nhân văn muôn thuở, đạt tới tính Phật, tinh thần yêu chuộng hoà bình của bậc hiền triết, minh triết.

Tập thơ thứ ba Bắc hành tạp lục, bên cạnh mấy bài thơ viết về Thăng Long thì tất thảy đều viết về chuyến đi sứ Trung Quốc kéo dài qua suốt một năm trời. Tập thơ với số lượng bài lớn, đề tài phong phú, có ý nghĩa kết tinh các giá trị nội dung và nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du.

Khi khác là nỗi tủi hờn, cảm thông, tiếc nuối lúc gặp lại nàng hầu cũ của người em:

Hồng tụ tằng vân ca uyển chuyển,

Bạch đầu tương kiến khốc lưu ly.

(Ngộ gia đệ cựu ca cơ)

(Từng nghe giọng ca uyển chuyển khi mặc áo hồng,

Nay đầu bạc gặp nhau, khóc than nỗi lưu ly)

(Gặp người hát cũ của em)

Tháng 2 năm 1813, ông được thăng Cần chánh điện đại học sĩ và được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc. Khi đi qua Thăng Long, lúc này đã thay đổi nhiều, do việc năm 1805 Gia Long đã hạ lệnh phá thành cũ, xây thành mới nhỏ hơn. Cảnh vật biến thiên đã làm nhà thơ xúc động. Sau nhiều năm trở lại Thăng Long, Nguyễn Du xúc cảm về một kinh đô dâu bể, bâng khuâng với thành quách đổi thay, xót thương từ một kiếp ca nhi, một nàng hầu và biết bao người xưa cảnh cũ đã phai bạc dần theo năm tháng. Có thể nói Nguyễn Du đã viết những vần thơ cảm khái về Thăng Long đạt đến độ tuyệt bút, biểu cảm được tấm lòng thi nhân thao thức trong một đêm trăng, trước vô hạn những buồn thương bởi sự chuyển hoá, đổi thay của con người và đất trời:

Tản Lĩnh, Lê Giang tuế tuế đồng,

Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long.

Thiên niên cự thất thành quan đạo,

Nhất phiến tân thành một cố cung.

Tương thức mỹ nhân khan bão tử,

Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông.

Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy,

Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung.

(Thăng Long, kỳ nhất)

(Núi Tản sông Lô hằng năm vẫn thế,

Đầu bạc, còn được thấy Thăng Long.

Những ngôi nhà đồ sộ nghìn xưa, nay thành đường cái,

Một dải thành mới làm mất dấu vết cung điện cũ.

Những cô gái xinh đẹp quen biết nay đều ẵm con,

Những bạn hào hiệp lúc trẻ nay thành ông già.

Suốt đêm nghĩ ngợi thao thức không ngủ,

Văng vẳng nghe tiếng sáo trong ánh trăng sáng)

(Thăng Long I):

Thăng Long là nơi chôn rau cắt rốn của Nguyễn Du, là nơi nhà thơ có nhiều kỷ niệm nhất, nhiều bạn bè nhất. Sự thay đổi của Thăng Long, kèm theo sự tan rã của gia đình ông, đã khiến ông nghĩ đến ý sau, hơn nghĩ đến ý trước.

Thiên niên phú quý cung tranh đoạt,

Tảo tuế thân bằng bán tử sinh.

Thế sự phù trầm hưu thán tức,

Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh.

(Thăng Long, kỳ nhị)

(Xưa nay phú quý vẫn là cái mồi xui khiến người ta cướp đoạt lẫn nhau,

Bạn bè hồi tuổi trẻ, nay kẻ mất người còn.

Thôi đừng than thở chuyện đời, chìm nổi nữa,

Nay mái tóc mình cũng đã bạc lốm đốm rồi)

(Thăng Long II)

Năm 1820, Minh Mệnh lên nối ngôi vua thay Gia Long, Nguyễn Du lại được đi làm Chánh sứ Trung Quốc, nhưng chưa kịp đi thì bị bệnh nặng. Nguyễn Du mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (tức ngày 16 tháng 9 năm 1820) thọ 54 tuổi. Vào năm Ất Tị (1965), Hội đồng Hòa bình thế giới đã tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 200 năm sinh đại thi hào Nguyễn Du (1765-1965) với tư cách danh nhân văn hóa của cả nhân loại./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Trần Quang Khải – thượng tướng, nhà thơ
    Trần Quang Khải là con trai thứ ba Trần Thái Tông, sinh năm 1240, mất năm 1294. Dưới triều Trần Thánh Tông (1258-1278), Trần Quang Khải được phong tước Chiêu Minh đại vương. Năm 1274, ông được giao chức Tướng quốc thái úy.
(0) Bình luận
  • Hát Thường rang, Bộ mẹng của người Mường tại Phú Thọ được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
    Hát Thường Rang, Bộ mẹng được người Mường gọi với những cái tên thân thuộc như Rằng Đang hay Rằng Thường, loại hình nghệ thuật này có vai trò không thể thay thế trong đời sống văn hóa tinh thần và phong tục tập quán của đồng bào.
  • Xã Phù Đổng: Cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam
    Thông tin từ UBND xã Phù Đổng (TP. Hà Nội), Đảng ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Phù Đổng vừa khánh thành công trình tu bổ, tôn tạo đình Hạ Thôn. Đây là sự kiện quan trọng của địa phương nhằm chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031, đặc biệt cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Chương trình Hành động số 08-Ctr/TU của Thành ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW.
  • Từ 08-10/5 sẽ diễn ra trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề tại Hoàng Thành Thăng Long
    Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng là thành viên của mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo Thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề” diễn ra tại Hoàng Thành Thăng Long từ ngày 08-10/5/2026”.
  • Đền Kim Liên - Trấn Nam: “Đóa sen vàng” của Thăng Long Tứ Trấn
    Sáng 02/5 (ngày 16/3 năm Bính Ngọ), trong không khí trang nghiêm và thành kính, Đảng ủy - HĐND - UBND - UBMTTQ phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám long trọng tổ chức Lễ hội truyền thống di tích Quốc gia đặc biệt đền Kim Liên. Đây không chỉ là một nghi lễ tâm linh, mà còn là minh chứng của lòng tri ân, là gạch nối giữa quá khứ huy hoàng và hiện tại rạng rỡ.
  • Đền Kim Liên - Nơi linh khí hội tụ và hồn cốt Thăng Long tỏa sáng
    Trong cái nắng đầu hạ dịu ngọt của những ngày đầu tháng Năm năm 2026, khi dòng người tấp nập đổ về những di tích cổ kính của Thủ đô, có một khoảng trời bình yên nhưng rộn rã đang mở ra tại phía Nam kinh thành xưa. Đó là đền Kim Liên – một trong “Thăng Long Tứ Trấn” lừng lẫy, nơi đang diễn ra ngày hội văn hóa nghệ thuật đặc sắc vào ngày 01/5 (tức ngày15/3 âm lịch), khởi đầu cho chuỗi hành trình tâm linh tôn vinh Đức Cao Sơn Đại Vương.
  • Hà Nội đón Bằng công nhận Bảo vật quốc gia chuông chùa An Xá
    Chùa Bắc Biên (Phúc Xá tự), còn gọi là chùa An Xá, là di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu của vùng đất Bồ Đề. Trong hệ thống di vật của chùa, chuông chùa An Xá là hiện vật nổi bật, được đúc vào tháng 11 năm 1690 dưới thời Lê Trung hưng bằng phương pháp thủ công truyền thống, mang tính độc bản.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Chủ tịch Hồ Chí Minh với non sông đất nước và tình yêu đặc biệt dành cho Thủ đô Hà Nội
    Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thành kính tưởng nhớ, tri ân công lao trời biển của vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người gắn liền với hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; đồng thời để lại dấu ấn sâu đậm đối với Đảng bộ và nhân dân Thủ đô Hà Nội – nơi luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt, những tình cảm sâu nặng và những lời căn dặn tâm huyết của Người.
  • 3 ấn phẩm giúp người trẻ hiểu đúng và làm chủ AI
    Chào mừng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 18/5, Nhà xuất bản Kim Đồng ra mắt bạn đọc 3 ấn phẩm về trí tuệ nhân tạo, khoa học và tâm lí học hiện đại, gồm: “Lược sử trí khôn - Từ giun biển đến ChatGPT”, “Sống thư thái trong thời đại AI” và “Trí tuệ nhân tạo dưới lăng kính tâm lí học”.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 2)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Lan tỏa tình yêu quê hương đất nước bằng nghệ thuật truyền thống bên hồ Hoàn Kiếm
    Tối 17/5, tại Nhà Bát Giác, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” tiếp tục mang nghệ thuật đến gần công chúng bằng một đêm diễn đậm màu sắc cải lương truyền thống do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện. Không gian bên hồ Hoàn Kiếm tối cuối tuần trở nên đặc biệt hơn khi những làn điệu vọng cổ, những câu ca về quê hương, đất nước và hào khí dân tộc vang lên giữa dòng người náo nhiệt.
  • Âm nhạc cuối tuần và hành trình kiến tạo không gian văn hóa cộng đồng
    Chiều 17/5, trong không gian Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” không chỉ mang đến những buổi biểu diễn giàu cảm xúc, mà còn gợi mở câu chuyện về Hà Nội nói riêng, đất nước Việt Nam nói chung qua âm nhạc, với những rung động rất riêng và đong đầy cảm xúc.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội thành lập Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 1857-QĐ/TU ngày 13/5/2026 về việc thành lập Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô Hà Nội. Việc thành lập Ban Chỉ đạo nhằm tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều phối triển khai các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp phát triển văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Hát Môn lan tỏa tinh thần học và làm theo Bác từ những điều giản dị
    Hướng tới kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), cuộc thi “Tôi kể về tôi trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” lần thứ nhất, năm 2025-2026 do Đảng bộ xã Hát Môn tổ chức đã trở thành hoạt động chính trị, tư tưởng có ý nghĩa thiết thực và sâu sắc. Không chỉ tạo sức lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, cuộc thi còn góp phần đưa việc học và làm theo Bác đi vào chiều sâu bằng những việc làm cụ thể, gần gũi trong đời sống hằng ngày.
  • Những bản tình ca vang lên giữa không gian văn hóa hồ Gươm
    Vào mỗi cuối tuần, khu vực hồ Hoàn Kiếm luôn đón lượng lớn người dân và du khách đến tham quan, dạo phố. Giữa nhịp chuyển động ấy, những chương trình nghệ thuật ngoài trời đang dần “bồi đắp” thêm diện mạo cho không gian công cộng của Thủ đô, nơi công chúng không chỉ tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí mà còn có cơ hội tiếp cận nghệ thuật theo cách gần gũi hơn.
  • Chính phủ phê duyệt chuyển giao Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam cho Hà Nội quản lý
    Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 11/5/2026 về việc chuyển giao quyền quản lý Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam cho Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Quyết định được xây dựng dựa trên cơ sở các văn bản pháp lý hiện hành và đề nghị của các bộ ngành liên quan.
  • "Xoan mở hội": Thanh âm đất tổ tại Bảo tàng Hà Nội
    Vào ngày 23/5 tới đây, tại Bảo tàng Hà Nội, sự kiện "Xoan mở hội" sẽ mang đến không gian trải nghiệm độc đáo cho người yêu văn hóa, đặc biệt là giới trẻ, với chủ đề khám phá nghệ thuật hát Xoan Phú Thọ.
  • Trải nghiệm boardgame "Phú Hộ Làng Nghề": Khám phá những giá trị đặc sắc của các làng nghề truyền thống Bắc Bộ
    Bảo tàng Hà Nội, phối hợp cùng dự án Cổ Nghệ Tân Giao, sẽ mang đến một trải nghiệm văn hóa độc đáo với boardgame "Phú Hộ Làng Nghề" vào Chủ nhật, ngày 17/5/2026, từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều.
  • Chiếu phim chuyên đề “Trường Sơn - Những năm tháng không quên”
    Nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 67 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh - Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2026), Viện phim Việt Nam sẽ tổ chức đợt chiếu phim chuyên đề “Trường Sơn - Những năm tháng không quên” nhằm giới thiệu với khán giả nhiều tác phẩm điện ảnh đặc sắc.
  • Ngắm nhìn một Hồ Tây trầm mặc trong ánh hoàng hôn
    Với không gian thoáng đãng, hồ Tây là một địa điểm được nhiều người tìm đến để tận hưởng những phút giây bình yên và chiêm ngưỡng vẻ đẹp mê đắm của thiên nhiên khi hoàng hôn buông xuống.
  • "Duyên kiếp Bạch Trà" trở lại với khán giả Thủ đô
    "Duyên kiếp Bạch Trà" hứa hẹn mang đến cho khán giả một không gian nghệ thuật giàu cảm xúc, kết hợp giữa chiều sâu lịch sử, vẻ đẹp sân khấu truyền thống và ngôn ngữ cải lương đầy da diết. Vở diễn diễn ra vào 20h ngày 30/5/2026 tại Rạp Chuông Vàng, số 72 Hàng Bạc, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
  • Cuộc thi Tài năng Diễn viên Cải lương toàn quốc 2026: Nơi hội tụ những nhịp phách di sản
    Nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026) Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao Cục Nghệ thuật biểu diễn chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hồ Chí Minh, Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam và các đơn vị có liên quan tổ chức Cuộc thi Tài năng Diễn viên Cải lương toàn quốc năm 2026.
Nguyễn Du – đại thi hào dân tộc
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO