Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Hà Nội mùa đông lịch sử

Vũ Thảo 09:00 02/05/2024

Đêm Hà Nội những ngày tháng 12, không khí lạnh tăng cường, nhiệt độ thấp nhất ở mức 7-8 độ C, tôi trằn trọc trở mình trong chăn đệm êm ấm, rưng rưng lắng nghe những ca từ xúc động trong bài hát “Cảm xúc tháng Mười” vang lên từ ngôi nhà kế bên. Ngoài kia gió rít từng cơn thổn thức, những cảm xúc nghẹn ngào thôi thúc tôi dậy mở máy tính, xem lại những thước phim tư liệu về 60 ngày đêm bảo vệ Thủ đô của Hà Nội năm 1946. Từ hiện tại bình yên, tôi đã được trở về với mùa đông lịch sử của thành Rồng - một mùa đông giá buốt nhưng rực lửa.

grab837fetreo_co_16899288064351486375282.jpg
Thăng Long hôm nay lại bình yên như chưa hề có bóng quân xâm lược... (ảnh minh hoạ)

Gần 20 vạn quân Tưởng theo đuôi quân Đồng minh tràn qua biên giới phía Bắc vào Hà Nội, lấy cớ tước vũ khí của quân đội Nhật nhưng toan tính cướp chính quyền của ta, gây vô số tội ác với đồng bào Hà Nội khi đó. Ngày 23/9/1945, Pháp chính thức nổ súng tấn công Sài Gòn. Máu đồng bào Nam bộ lại đổ. Bối cảnh đất nước ngặt nghèo, hai loại giặc tìm mọi cách xâu xé trong khi đó nạn đói, nạn dốt hoành hành ghê gớm. Đảng ta quyết định hòa với Pháp để đuổi Tưởng về nước. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì kẻ thù quyết cướp nước ta lần nữa. Đó cũng là lúc Đảng ta, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục lãnh đạo nhân dân chiến đấu chống kẻ thù xâm lược.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19 tháng 12 năm 1946 của Bác như lời hịch của non sông đã lay động hàng triệu người Việt Nam: “...Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước...”. Cả dân tộc đồng lòng đứng lên đi theo Đảng, theo Bác Hồ.

Hà Nội năm tháng ấy là một mùa đông đặc biệt vì sục sôi, rực lửa chiến đấu. Chúng ta không muốn chiến tranh, chúng ta khao khát hòa bình vì chúng ta đã phải chịu quá nhiều đau thương, nhưng nếu người Pháp buộc chúng ta làm chiến tranh, chúng ta sẽ làm. Cả một Hà Nội ngùn ngụt tinh thần chiến đấu. Nhân dân Hà Nội cùng với bộ đội và tự vệ dựng lên chiến lũy ở ngã tư các phố sẵn sàng ra trận. Các chiến lũy bằng đồ đạc của gia đình, được người dân khiêng ra đường, ngổn ngang và kiêu hãnh đón đợi giặc. Bờ tường các con đường mặt phố đục thông nhau để tạo các con đường ngầm phục vụ cho chiến đấu.

Chiều ngày 19/12/1946, mệnh lệnh của Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp ban ra, giờ chiến đấu đã đến, cả Hà Nội sẵn sàng bước vào cuộc chiến cam go. Đúng 20h03 phút, từ pháo đài Láng, đại bác của chúng ta gầm vang nổ hiệu lệnh tấn công vào các mục tiêu của quân Pháp ở Hà Nội. Thời khắc ấy người Hà Nội của chúng ta đứng dậy, kết tinh trong mình sức mạnh và tinh hoa của cả một dân tộc vĩ đại.

Với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân Thủ đô đã giam chân địch trong thành phố trong 60 ngày đêm, bảo vệ an toàn cho Trung Ương Đảng, Chính phủ, giúp cả nước vững tin bước vào cuộc kháng chiến trường chinh anh dũng. Chưa bao giờ chúng ta chứng kiến chủ nghĩa yêu nước bùng cháy dữ dội để trở thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng ngay trên từng con phố, các ngõ hẻm các ngôi nhà ở Hà Nội như vậy. 60 ngày đêm khói lửa người Hà Nội kiên cường chiến đấu với kẻ thù xâm lược. Nhưng rồi đêm cuối cũng đã đến.

Đêm cuối cùng ấy khi Trung đoàn Thủ đô rút qua gầm cầu vượt sông Hồng, phía sau là tiếng súng truy kích của kẻ địch, người Hà Nội vẫn hẹn ngày trở lại, bao nhiêu cảm xúc chất chứa giục giã những người chiến sĩ trẻ mạnh mẽ tiến về phía trước, bỏ lại đằng sau cây cầu những con đường góc phố rưng rưng. Những cảm xúc ấy được ghi lại một cách chân thực trong bài thơ “Cảm xúc tháng Mười” của nhà thơ Tạ Hữu Yên”:

Đêm, cái đêm rút qua gầm cầu

Anh đã hẹn ngày mai trở lại

Sóng sông Hồng vỗ bờ hát mãi

Đỏ niềm tin là khúc khải hoàn ca

Người Hà Nội một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, lâu dài, gian khổ, hy sinh lớn nhưng vô cùng anh dũng. Trên con đường trường chinh dài dằng dặc ấy, trong tiết trời mùa đông buốt giá năm ấy, không chỉ là bi tráng, còn có lòng tin son sắt, lòng yêu nước cuộn chảy của những người con Hà Nội tràn đầy lý tưởng vào con đường cách mạng để rồi làm nên một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Chiến thắng Điện Biên Phủ là sự công phá dũng mãnh vào thành trì của chủ nghĩa thực dân, cũng là một hồi cáo chung về sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn thế giới.

Ngày 10/10/1954, các cánh quân của Quân đội nhân dân Việt Nam từ 5 Cửa Ô tiến vào tiếp quản Thủ đô, Hà Nội hoàn toàn được giải phóng. Đoàn quân năm xưa giã từ Hà Nội giờ đây rầm rập trở về trong rừng cờ hoa đón chào của người dân Hà thành, trong những đôi mắt mẹ già rưng rưng gọi thầm tên các con.

Hôm qua và hôm nay. Chiến thắng và đau thương. Chiến tranh và hòa bình. Có những người trở về, có những người đã ngã xuống. Hòa bình thấm đẫm máu bao thế hệ cha anh.

Hôm nay xấp xỉ nửa thế kỷ đã đi qua nhưng nỗi đau của chiến tranh vẫn còn đó, nỗi đau da cam còn đó. Những người lính hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho dân tộc, đến khi đất nước độc lập, trở về với hình hài không còn nguyên vẹn cộng thêm nỗi đau thấu tâm can khi con mình lây nhiễm chất độc da cam. Những đôi mắt trũng sâu đã khóc cạn bao đêm, những bàn tay run run vì vết thương do bom đạn vẫn gồng mình cõng những đứa con mấy chục tuổi đầu mà ngây ngô như đứa trẻ. Nỗi đau ấy lặng lẽ nhưng buốt nhói. Chiến tranh không phải trò đùa.

Đến nay vẫn còn hàng trăm ngàn tấn bom, mìn, đạn pháo, vật liệu nổ vùi lấp rải rác dưới lòng đất ở các địa phương. Bom mìn tồn sót sau chiến tranh đã cướp đi những người cha người mẹ, những mái ấm gia đình của biết bao trẻ thơ. Còn đó những em bé đỏ hỏn gào khóc đợi mẹ về cho uống dòng sữa ngọt lành, những mái đầu xanh ngơ ngác đeo vành khăn trắng, không biết vì sao mình bỗng nhiên thành đứa trẻ côi cút giữa cuộc đời.

Ngoài kia, còn biết bao người chiến sĩ đã nằm xuống nhưng chưa được trở về nhà vì không tìm thấy hài cốt. Các anh các chị có nhìn thấy cha mẹ già héo hon ngóng chờ con hay những đồng đội không ngại trèo đèo lội suối đi tìm bạn mình trong hương khói nghẹn ngào. Những đôi mắt mẹ cha đục ngầu đã không còn nước mắt để khóc. Có lẽ tâm nguyện lớn nhất của cha mẹ trước khi nhắm mắt xuôi tay là được thấy các con trở về nhà, mẹ sẽ ru lại cho các anh chị nghe bài ca ầu ơ những ngày thơ bé. Mảnh đất quê hương vẫn kiên nhẫn qua từng mưa nắng, mong mỏi ấp ôm các anh chị vào lòng, bảo bọc những đứa con kiên cường ấy trong tình thương nỗi nhớ thiết tha.

Thăng Long hôm nay lại bình yên như chưa hề có bóng quân xâm lược, chưa hề nghe tiếng còi báo động trên nóc Nhà hát Lớn, chưa từng đỏ lửa căm thù. Mùa đông hôm nay giá buốt như mùa đông năm 1946 nhưng không có tiếng súng. Tôi nghĩ về chính mình, về những bài giảng môn Chủ nghĩa xã hội khoa học và Tư tưởng Hồ Chí Minh mình đang giảng dạy trên bục giảng Trường Đại học Dược Hà Nội với bao trăn trở, day dứt. Sứ mệnh của những người gieo hạt khi đất nước đã hòa bình nhưng những vết thương của chiến tranh còn nhức nhối sẽ thế nào? Tôi phải làm gì để lịch sử không bị lãng quên, làm thế nào để những thế hệ sinh viên của tôi khi đi dạo quanh Hồ Gươm yên ả hay khi ngước lên bầu trời xanh thăm thẳm trên cột cờ Hà Nội vẫn nhớ nghiêng mình trước lịch sử để biết sống cuộc đời ý nghĩa hôm nay.

Tôi lẩm nhẩm đọc lại câu nói của Bác kính yêu: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Là một người may mắn sinh ra trong thời bình, được thừa hưởng những thành tựu của sự nghiệp đổi mới, tôi nhận ra mối liên kết vô hình mà bền chặt của bản thân với những trang sử hào hùng của dân tộc. Hôm nay xem lại những thời khắc hạnh phúc và đau đớn của mảnh đất ngàn năm văn hiến nơi mình sống, tôi có cơ hội được trở về với lịch sử hào hùng của dân tộc.

Hà Nội đã đi qua máu và nước mắt để đổi lại những khoảnh khắc bình yên và tươi xanh mỗi buổi tôi đến trường. Tôi nghe trong cơn gió ngoài kia những lời thầm thì của quá khứ, của mùa đông đặc biệt 1946. Hôm nay, Việt Nam đã khép lại quá khứ, mở cửa tương lai cho hợp tác quốc tế, thế hệ tôi cùng dân tộc đi trên những cây cầu hữu nghị, nhưng tôi sẽ không bao giờ quên hố sâu dưới chân cầu ấy, không bao giờ quên những người đã ngã xuống, để thấm thía cách sống cho hiện tại và tương lai. Hòa bình này là hòa bình máu./.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Vũ Thảo Thông tin về cuộc thi xem tại đây.
Bài liên quan
  • Hà Nội, vừa xa đã nhớ
    Tôi muốn xa Hà Nội thực hiện một chuyến đi dài ngày ngoài dải đất hình chữ S để khám phá những miền đất mới. Điều mong ước cháy bỏng đó đã trở thành hiện thực sau khi tôi xin được visa thăm người thân tại châu Âu.
(0) Bình luận
  • Ký ức Thăng Long dưới mái đình Yên Thái
    Tôi trở lại đình Yên Thái ở số 8 ngõ Tạm Thương, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, vào một buổi sáng tháng ba âm lịch, khi lễ kỷ niệm ngày sinh Linh Nhân Hoàng Thái hậu Ỷ Lan vừa khép lại. Tấm băng đỏ vẫn còn treo trước cổng đình dưới tán đa cổ thụ, những lá cờ hội khẽ lay trong gió và mùi hương trầm vẫn còn phảng phất. Bước qua cánh cửa gỗ đã sẫm màu thời gian, tôi có cảm giác mình không chỉ bước vào một di tích, mà đang đi vào một lớp ký ức của kinh thành Thăng Long, nơi hình bóng một bậc mẫu nghi tài trí vẫn hiện diện trong sự kính ngưỡng của bao thế hệ.
  • Hà Nội trong tôi đầy màu nhiệm từ những cuốn sách
    Rời phố núi trong cơn mưa rừng tầm tã. Hà Nội đón tôi và mẹ bằng một tiết trời thu se se lạnh của những ngày cuối tháng 8 năm 2023. Đó là ký ức trong tôi về một Thủ đô vừa lạ lẫm lại có dấu ấn phảng phất của sự thân quen. Lạ là bởi vì cũng khá lâu rồi tôi mới được trở lại mảnh đất phồn hoa đô hội. Quen cũng bởi đây không phải lần đầu tôi được đặt chân tới Thủ đô. Chỉ có điều lần trở lại này tôi được mẹ đưa đi tái khám theo lịch hẹn của bác sĩ,…
  • Nơi Hà Nội chạm vào tôi
    Mỗi lần trở lại Hà Nội, đôi chân tôi dường như lại có một thói quen rất lạ: bỏ mặc những con phố đông vui, những điểm hẹn quen thuộc để lặng lẽ dừng trước cánh cổng Trường THPT Trần Phú – Hoàn Kiếm. Chiều mùa hạ, năm học đã khép từ lâu, cánh cổng trường khép im lìm dưới những hàng xà cừ già, khoảng sân phía trong vắng đến mức chỉ còn tiếng ve ngân lên trong nắng. Thế nhưng, lạ thay, chính nơi tưởng như lặng im ấy lại luôn là nơi nhiều âm thanh nhất trong ký ức tôi. Chỉ cần đứng lại một chút, tôi như nghe đâu đây tiếng trống tan học, tiếng cười trong veo của những cô cậu học trò và nhìn thấy những tà áo trắng năm nào đang lẫn vào nắng cuối ngày trên phố Hai Bà Trưng.
  • Mùa hè xanh ở Lệ Chi
    Có những miền ký ức chỉ cần một lần đi qua đã đủ theo ta suốt cả cuộc đời. Hai mươi năm đã trôi qua, vậy mà mỗi khi bắt gặp những đoàn sinh viên khoác màu áo xanh tình nguyện trên đường phố, tôi lại thấy lòng mình xốn xang. Trong sắc xanh ấy, tôi như nhìn thấy tuổi hai mươi của mình đang trở về, thấy một ngôi làng nhỏ bên bờ sông Đuống với những con đường ngập nắng, những vườn nhãn trĩu quả và tiếng cười trong veo của lũ trẻ mỗi buổi chiều hè. Ngôi làng ấy mang tên Lệ Chi.
  • Điều chưa biết về làng cổ Bình Vọng cận kề thành Thăng
    Làng cổ này ngày xưa rất nổi tiếng nhưng thời nay ít người biết đến, đó là làng cổ Bình Vọng, cận kề với kinh thành Thăng Long. Thượng tá Công an Trần Đình Hưng là anh trai làng Bình Vọng, về thăm quê hương đúng vào ngày làng có việc: ngày mồng bảy tháng giêng hàng năm.
  • Lai Xá – Một địa chỉ du lịch văn hóa, lịch sử hấp hẫn
    Lai Xá là một làng cổ ngoại vi kinh thành Thăng Long. Làng Lai Xá nằm cạnh con đường quốc lộ 23. Đến năm sau đổi mới, dân làng Lai Xá, một số gia đình di chuyển sang xây dựng hai bên đường quốc lộ 23 trở thành phố Lai Xá. Như vậy Lai Xá vừa là làng vừa là phố, ta quen gọi là Phố làng Lai Xá hiện nay.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Bồi dưỡng tâm hồn, khơi dậy khả năng sáng tạo và tình yêu văn học, nghệ thuật cho học sinh Thủ đô
    Chiều 12/8, tại Nhà Văn hóa xã Đông Anh (Hà Nội), Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Chương trình tổng kết Đề án Sân khấu học đường tại các trường THCS, THPT Hà Nội năm 2026, đánh dấu việc hoàn thành các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, workshop và thực hành biểu diễn dành cho giáo viên, học sinh phổ thông trên địa bàn thành phố.
  • [Podcast] Tản văn: Phượng tím vắt ngang trời thương nhớ
    Đến Đà Lạt vào ngày nắng chói, đôi mắt chị dõi tìm loài hoa gieo thương nhớ, phượng tím. Đà Lạt mùa nào sắc đó, đều là những loài đặc trưng của xứ sở ngàn hoa. Mùa dã quỳ vàng hoang hoải, mùa cỏ hồng bềnh bồng như mây, mùa hoa ban trắng tinh khôi, mùa anh đào ngọt ngào trong trẻo. Với chị, lưu luyến nhất vẫn là mùa phượng tím. Mùa này phượng rải sắc tím ngăn ngắt khắp đất cùng trời, gợi lên trong lòng xiết bao lưu luyến.
  • Hà Nội đẩy mạnh hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp
    Trong chương trình hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp, Thành phố Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2030 có 70% học sinh THPT được định hướng và 90% sinh viên hoàn thành học phần khởi nghiệp, hướng tới đạt 100% ở giai đoạn 2031 - 2035.
  • Lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội
    Triển khai Thông báo số 134-TB/VPTW ngày 02/8/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng, Thường trực Thành ủy Hà Nội yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tiếp tục phát huy những kết quả, nền tảng đã đạt được trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, đồng thời tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương thức quản trị, chất lượng nguồn nhân lực và phạm vi lan tỏa của đổi mới sáng tạo trong đời sống xã hội.
Đừng bỏ lỡ
Hà Nội mùa đông lịch sử
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO