Hà Nội xưa - nay

Bản hùng ca làng kháng chiến của Thủ đô

Nhóm PV thực hiện 08/10/2024 10:57

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), Thủ đô Hà Nội đã có nhiều “làng kháng chiến” ra đời. Chính ở những ngôi làng ấy, quân và dân đã cùng nhau đánh trận, diệt địch, thu giữ nhiều vũ khí, góp phần làm nên những chiến thắng vẻ vang, tạo thành bản hùng ca và thắp sáng truyền thống anh hùng cách mạng của mảnh đất Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến. Tròn 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô, chúng tôi tìm về những làng kháng chiến thuộc địa bàn huyện Đông Anh, Mê Linh và Thanh Oai. Những dấu tích cùng những câu chuyện kể của những người dân nơi đây gieo trong chúng tôi niềm xúc động và cả sự trân trọng, tự hào.

Làng kháng chiến NAM HỒNG (Đông Anh)

Một ngày đầu thu, chúng tôi trở lại làng Nam Hồng (xã Nam Hồng, huyện Đông Anh) - một trong những địa danh đã đi vào lịch sử đấu tranh giành độc lập của quân và dân Hà Nội trước thực dân xâm lược nhiều chục năm về trước. Với tinh thần kháng chiến anh dũng, bất khuất, quyết chiến, quyết thắng, một lòng một dạ trung kiên theo Đảng, Bác Hồ, quân và dân xã Nam Hồng đã bất chấp hiểm nguy để bảo vệ cán bộ cách mạng, bảo vệ bí mật của làng kháng chiến.

4-dia-dao.jpg
Ông Phạm Quang Dộc (xã Nam Hồng) giới thiệu về địa đạo trong căn bếp cũ ở góc vườn.

Làng kháng chiến Nam Hồng hình thành ngay sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ vào ngày 19/12/1946. Tại đây, quân dân xã Nam Hồng đã chủ động rào làng, đắp lũy, kết hợp với hệ thống giao thông hào liên hoàn tạo sự linh hoạt trong tác chiến. Phía trong làng, nhân dân đã sáng tạo nối thông các hầm bí mật thành hệ thống địa đạo chạy ngầm trong lòng đất. Địa đạo Nam Hồng có chiều dài hơn 11km, đi qua các thôn: Tằng My, Đoài, Đìa, Vệ và liên thông sang thôn Thượng Phúc (xã Bắc Hồng) và thôn Sơn Du (xã Nguyên Khê). Địa đạo có 465 hầm bí mật, 2.680 hố chiến đấu, hơn 8.000m thành lũy và hơn 600 cổng dong - tạo nên làng kháng chiến liên hoàn toàn xã và tạo thành pháo đài phòng ngự kiên cường, đánh địch hiệu quả.

2-dia-dao.jpg
3-dia-dao.jpg
Bên trong địa đạo làng kháng chiến Nam Hồng.

Ít ai có thể tin rằng trong kháng chiến chống Pháp, xã Nam Hồng là một chiến trường khốc liệt. Nằm ở phía Tây huyện Đông Anh, giáp giới với địa phận của tỉnh Vĩnh Phúc, vùng giáp ranh quyết liệt giữa ta và địch. Theo chân cán bộ văn hóa xã Nam Hồng Nguyễn Thị Thanh đến thăm địa đạo vào những ngày mùa thu lịch sử, chúng tôi được giới thiệu tỉ mỉ về truyền thống lịch sử hào hùng của quê hương Nam Hồng. Dưới mỗi bước chân đang đi của chúng tôi là đường hầm của địa đạo - chứng tích hào hùng của người dân Nam Hồng và huyện Đông Anh.

1-dia-dao.jpg
Hiện trạng chứng tích hầm, hào thôn Vệ làng kháng chiến Nam Hồng.

Dừng chân tại nhà cụ Phạm Quang Dộc, chúng tôi được cụ dẫn vào căn bếp cũ ở góc vườn - nơi lưu giữ lối vào của địa đạo năm xưa. Cầm trên tay chiếc đèn pin nhỏ chiếu sáng không gian địa đạo cho chúng tôi xem, cụ Dộc giọng đầy tự hào: “Ngày xưa, khi các cụ đào địa đạo này, tôi mới có vài tuổi. Bố tôi tham gia cách mạng, làm nhiệm vụ canh giữ cửa hầm và che giấu cán bộ. Khi còn sống, cụ vẫn thường kể cho chúng tôi nghe về những ngày giặc Pháp càn quét ở Nam Hồng”.

Điểm dừng chân tiếp theo của chúng tôi ở xã Nam Hồng là nhà ông Phạm Quang Hài - một ngôi nhà có một cửa hầm thuộc địa đạo. Ông Hài cho biết: “Mẹ tôi (cụ Phạm Thị Lai) kể, từ đầu năm 1947, đội du kích xã Nam Hồng sau khi được thành lập đã cùng thanh niên, nam nữ khỏe mạnh trong làng bắt đầu đào hệ thống giao thông hào sát vào lũy tre. Để có địa đạo này, các cụ đã dùng chiếc búa chim, đào ngày, đào đêm sau đó giấu đất vào bị cói hoặc chiếc khăn vuông rồi lén đổ xuống sông cho địch không phát hiện. Thực sự bây giờ nghĩ lại, tôi cũng không hiểu làm sao có thể đào được địa đạo dài như vậy”.

Trong suốt 9 năm kháng chiến (1945 – 1954), quân dân Nam Hồng đã đánh 308 trận, diệt 354 tên, làm bị thương 153 tên, bắt sống 11 tên, 135 tên phải quy hàng; thu 72 súng trường, 3 súng tiểu liên, 780 lựu đạn, phá 3 xe lội nước, 1 trung liên, hàng chục mét đường sắt của địch. Hiện nay, các hầm hào, ụ chiến đấu hầu như bị san phẳng, hệ thống địa đạo còn dấu tích nhưng phần hiện hữu chỉ còn một đoạn ở thôn Vệ với tổng chiều dài khoảng 67m chạy ngang qua 4 gia đình (cụ Phạm Văn Dộc, Phạm Văn Cán, cụ Phiến và cụ Phạm Thị Lai). Một cửa địa đạo lên ở gian buồng nhà cụ Dộc, nơi đây cũng ghi dấu liệt sĩ Trần Xuyên kiên cường đánh địch và hy sinh anh dũng; một cửa địa đạo tại gia đình cụ Lai.

Ngoài địa đạo, làng kháng chiến Nam Hồng nay còn lại một ít dấu tích như một số đoạn hào, lũy chiến đấu, vọng gác, hòm thư bí mật… Nhưng ngay cả hào chiến đấu, lũy chiến đấu cũng đang bị ảnh hưởng bởi thiên nhiên, và nếu không được giới thiệu, cũng không thể hình dung ra nơi này đã ghi dấu một thời chiến đấu oai hùng chống thực dân Pháp của nhân dân Nam Hồng. Trong kháng chiến chống Pháp, địa đạo Nam Hồng đã góp phần làm nên trang sử vẻ vang của cuộc kháng chiến giữ nước vĩ đại của dân tộc ta. Quân và dân Nam Hồng đã đóng góp một phần trong “mảnh ghép” bảo vệ và giải phóng Thủ đô, làm nên nhiều chiến tích quan trọng. Thế hệ mai sau luôn ghi nhớ và khắc ghi những hi sinh và mất mát của người dân Nam Hồng trong những năm kháng chiến ấy.

Làng kháng chiến TIỀN PHONG (Mê Linh)

Rời xã Nam Hồng, chúng tôi di chuyển khoảng năm cây số để đến làng kháng chiến xã Tiền Phong, huyện Mê Linh (trước là thôn Yên Nhân, xã Tiền Phong, huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc). Đặt chân đến xã Tiền Phong, chúng tôi thực sự ngỡ ngàng trước sự đổi mới của một vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Những con đường làng, ngõ xóm được bê tông hóa, hệ thống các công trình phúc lợi và trường học, trạm y tế được xây dựng khang trang.

13.jpg
Đội du kích xã Tiền Phong chiến đấu bảo vệ dân làng.

Nơi đây, trong thời kháng chiến chống Pháp, có nhiều ao hồ, tường đất cao xây xung quanh và các lũy tre dày bao bọc. Nhân dân đã lập lũy xây làng, bảo vệ quê hương, giữa các xóm trong thôn đều có hệ thống chiến hào, tạo nên sự liên kết với nhau; mỗi xóm đều xây dựng hệ thống hầm bí mật.

Chúng tôi đến thăm cụ Hoàng Văn Năm - du kích xã Nam Hồng người đã từng chứng kiến những cột mốc lịch quan trọng của làng. Chia sẻ với chúng tôi, cụ vẫn nhớ rất chi tiết một thời trai trẻ tham gia lực lượng du kích cùng nhân dân trong xã đấu tranh chống giặc Pháp, bảo vệ quê hương. Lúc đấy cụ mới 17 tuổi, đội du kích của thôn Yên Nhân có 47 người, được tổ chức tốt, thường xuyên luyện tập các phương án đánh địch, bảo vệ xóm làng.

Cụ Năm kể, 5 giờ sáng ngày 17/10/1953, quân Pháp tổ chức càn quét, dùng pháo 105mm bắn vào thôn, rồi sử dụng nhiều xe tăng và xe cơ giới yểm trợ, chia làm nhiều mũi tấn công vào các xóm. Do có sự chủ động từ trước nên du kích thôn Yên Nhân và bộ đội ta bình tĩnh hiệp đồng chiến đấu, khôn khéo đánh trả từng đợt tiến công của địch.

Theo cụ Năm, sau nhiều lần tiến công không thành, địch dùng xe tăng và bộ binh đánh vu hồi vào phía đông của thôn. Đoán được ý định của địch, đợi cho xe tăng của chúng vào bãi vật cản, du kích mới giật mìn, vừa tiêu diệt địch tại chỗ, đồng thời khiến chúng phải lùi ra xa. Chưa từ bỏ ý định, địch dừng bắn pháo, từ nhiều hướng bất ngờ tiến công vào thôn. Lần này, chúng tiếp tục bị du kích và bộ đội địa phương lợi dụng vật cản, chông mìn, bắn gần. Lợi dụng đêm tối, quân địch chủ quan, ta bất ngờ tập kích diệt thêm nhiều tên địch, do bị thương vong nhiều, địch phải rút toàn bộ lực lượng về căn cứ.

Sau hơn một ngày đêm bám làng chiến đấu, tuy rất chênh lệch về lực lượng nhưng du kích thôn Yên Nhân và bộ đội địa phương đã dũng cảm, diệt nhiều sinh lực địch, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Cách đánh này đã làm thất bại ý định càn quét của địch, đồng thời củng cố được thế trận làng xã chiến đấu, góp phần phát triển thế trận chiến tranh nhân dân ở địa phương.

Cuối năm 1953 đầu 1954, địch lại ngoan cố đem quân về càn quét dữ dội vào xã và xây lại bốt chợ Yên, nhân dân xã Tiền Phong đã anh dũng phá tan được nhiều cuộc càn quét ác liệt dài ngày của giặc bao vây bốt chợ Yên và bức địch phải ra hàng toàn bộ. Trong 5 năm trực diện đấu tranh với quân Pháp (1949 - 1954) mặc dù địch nhiều lần lấn đất, xây bốt, tổ chức tề ngụy khắp các thôn nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân xã Tiền Phong vẫn kiên cường bất khuất giành giật với giặc từng thước đất và tích cực đóng góp nhân tài, vật lực cho kháng chiến, chi bộ Tiền Phong đã lãnh đạo công tác xây dựng cơ sở bí mật, tổ chức quần chúng đấu tranh với địch về mọi mặt chính trị, kinh tế với đấu tranh vũ trang như phá tề trừ gian, đánh phục kích, đồn thổ tiến lên nhổ hết đồng bốt giặc thành lập khi du kích (3/1953).

Nhìn lại những trang lịch sử trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, xã Tiền Phong đã có 207 thanh niên xung phong lên đường nhập ngũ, 247 người tham gia du kích, quân báo; 101 gia đình cơ sở, 1.640 lượt dân công phục vụ chiến dịch. Nhân dân trong xã đóng góp 153.466 kg thóc thuế nông nghiệp. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân xã Tiền Phong đã mở đường giúp quân và dân tiến về tiếp quản Thủ đô, quân và dân xã Tiền Phong đã bám đất, bám làng, anh dũng, kiên cường chiến đấu, đã đánh 457 trận, tiêu diệt 282 lính Pháp, bắt sống 49 tên, bắn bị thương 211 tên, vận động ra hàng 116 lính ngụy, phá hủy 3 tháp canh, 18 xe cơ giới (trong đó có 10 xe tăng và thiết giáp), 3 đại bác và trọng liên, 1 máy bay vận tải (bắn bị thương), thu được 3 súng đại liên, 4 súng trung liên, 15 súng tiểu liên, 2 súng phóng lựu đạn, 1 số cối 60 ly, 55 súng thường, 3 máy vô tuyến điện, 15 ngàn mét dây điện, đạn và quân trang quân dụng 15 tấn.

Tiếp nối truyền thống vẻ vang của các thế hệ đi trước, trong công cuộc xây dựng và phát triển hôm nay, với quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và sự chung sức, đồng lòng của các tầng lớp Nhân dân, xã Tiền Phong đã, đang thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng xã Tiền Phong trở thành điểm sáng nơi cửa ngõ của huyện Mê Linh và Thủ đô Hà Nội.

Làng kháng chiến TAM HƯNG (Thanh Oai)

Ngược về huyện Thanh Oai, chúng tôi đến với xã Tam Hưng - vùng đất giàu truyền thống văn hóa lịch sử, cùng truyền thống anh hùng cách mạng tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội. Trải qua hàng nghìn năm, nhân dân Tam Hưng đã hun đúc nhiều truyền thống quý báu, đó là truyền thống đoàn kết làng xóm láng giềng, dòng họ, đặc biệt là truyền thống dũng cảm trong chiến đấu, cần cù thông minh trong lao động sản xuất.

6-tam-hung-bao-ve-can-bo.jpg
Nhân dân xã Tam Hưng bảo vệ cán bộ, đưa cán bộ xuống hầm bí mật trong những ngày giặc Pháp càn quét.

Tam Hưng cũng là một trong những địa phương của Thủ đô có làng kháng chiến. Hơn 70 năm trước, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cán bộ và nhân dân Tam Hưng đã kiên cường bám đất, bám dân, rào làng kháng chiến trở thành một điển hình tiêu biểu lúc bấy giờ, được Đảng và Nhà nước tặng 4 chữ vàng “Tam Hưng anh dũng”.

Thực hiện lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khẩu hiệu “Mỗi làng là một pháo đài kháng chiến”, năm 1947, nhân dân Tam Hưng nhất tề xây dựng làng kháng chiến. Được Huyện ủy - Ủy ban kháng chiến hành chính huyện phổ biến tài liệu “Đường hầm tân ký sát”, cán bộ và nhân dân Tam Hưng vận dụng vào thực tiễn của địa bàn và vị trí của các làng để xây dựng làng kháng chiến.

5-doi-du-kich-tam-hung.jpg
Đội du kích xã Tam Hưng trong những năm lập làng kháng chiến.

Có lực lượng dân quân du kích làm nòng cốt, nhân dân Tam Hưng đã lợi dụng những bờ tường đất cao ven làng, trên có các lũy tre, rặng cây, bụi gai, mây và nhiều đoạn bám liền với đồng ruộng để rào làng, làm cổng ra vào, kết hợp với đào giao thông hào, hầm chiến đấu. Dưới lòng đất, quân dân du kích đào giao thông hầm, có đoạn nối làng nọ với làng kia. Hệ thống hầm hào, chiến lũy, giao thông hầm dưới lòng đất đào hết sức công phu, kiên cố, tất cả đều có khả năng hỗ trợ cho nhau.

8-tam-hung-thoi-tu-va.jpg
Du kích canh gác bên cổng, thổi tù và báo động tại làng kháng chiến Tam Hưng.

Hệ thống đường hầm nằm sâu dưới lòng đất, rộng từ 1 - 1,2m, cao từ 1,5 - 2m. Toàn xã Tam Hưng đã xây dựng được hệ thống giao thông hào bao quanh làng với 7.884m, đường hầm liên hoàn chiến đấu dài 4.872m, đường giao thông hào xung quanh các làng 8.126m. Hệ thống các đường hầm tại Đại Định có 2 đường hầm với tổng chiều dài khoảng hơn 1km, có một cửa chạy vào chùa, ngách chạy ra lũy tre ao, ra đồng cũng một ngách thông ra sông Đỗ Động.
Hoặc tại Song Khê có 4 đường hầm, đường thứ nhất dài khoảng 160m, bắt đầu từ cổng đình, chạy dọc theo lũy vào nhà ông Nguyễn Văn Lạc nối tiếp với các đường hầm ra khu vực đền Đống. Đường thứ hai dài 220m, bắt đầu từ cổng nhà dân thuộc khu vực xóm Dền, chạy sang xóm Giữa, kéo dài đến xóm 3. Đường thứ ba có 3 ngách, ngách cửa chính ở nhà ông Bùi Văn Uyên, một ngách chạy theo đường lũy, một ngách dẫn đến nhà thờ Nguyễn Trực, một ngách vào điện Phật kéo dài đến nhà ông Lê Huy Bảo. Riêng hầm này còn có phương án bất ngờ tiêu diệt địch nếu chúng đóng quân tại chùa Bối Khê, tổng chiều dài của hầm là 320m. Đường thứ tư, dài 450m, bắt đầu từ nhà ông Trần Vĩnh Dụ, xuyên qua đường, chạy qua ngõ Trạ, kéo đến Kỳ cắt sang ngõ Dinh. Hầm này có rất nhiều ngách được bố trí giống như hình xương cá.

Đặc biệt, phía sau chùa Bối Khê xã Tam Hưng có căn hầm, cũng là địa đạo, từ thời kháng chiến chống Pháp, được xây từ tháng 1/1948. Theo chân Bí thư Đoàn xã Tam Hưng Nguyễn Văn Kiên đến chùa Bối Khê, anh Kiên cho biết, hầm - địa đạo tại chùa với 3 ngách chính. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chùa Bối Khê là cơ sở cách mạng. Hầm – địa đạo ban đầu dùng để nuôi giấu cán bộ, cất trữ lương thực, sau trở thành một pháo đài chặn đứng các cuộc càn quét của giặc. Tại căn hầm và địa đạo của chùa Bối Khê, quân và dân địa phương đã đập tan 3 cuộc càn quét của giặc Pháp, tiêu diệt 372 tên địch.

Làng kháng chiến Tam Hưng đã trở thành mẫu mực ở đồng bằng Bắc bộ những năm kháng chiến chống thực dân xâm lược. Hiệu quả kháng chiến ở đây trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Chỉ riêng năm 1948, địch đã mở 72 trận càn quét lớn nhỏ vào các làng chiến đấu. Những trận chống càn lớn thời điểm này ở Tê Quả, Đại Định, Song Khê, Hưng Giáo và Lê Dương… thắng lợi giòn giã, hàng chục tên địch bị tiêu diệt và bị thương. Nhìn lại những trang lịch sử trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, xã Tam Hưng có trên 800 thanh niên tham gia nhập ngũ và thanh niên xung phong. Ở hậu phương, cùng với xây dựng làng kháng chiến, lực lượng du kích đã phối hợp với bộ đội chủ lực và độc lập tham gia chiến đấu 172 trận, tiêu diệt, bắt sống 405 tên địch, thu giữ hàng trăm súng các loại, đồng thời giữ vững được địa bàn và tạo điều kiện củng cố các khu du kích khác ở khu vực lân cận.

Năm 1948, Liên khu ủy III và một số địa phương về Tam Hưng thăm, học hỏi kinh nghiệm xây dựng làng kháng chiến. Dù hiện nay, các hầm – địa đạo trong xã Tam Hưng và các xã lân cận đều đã bị phủ kín, bịt chặt theo thời gian, duy chỉ có hầm trong chùa Bối Khê vẫn còn giữ được một cửa và địa đạo dài khoảng 7m nhưng đến tận ngày nay, với những gì đã có, làng kháng chiến Tam Hưng đi vào lịch sử chống giặc ngoại xâm của nhân dân trong huyện Thanh Oai nói riêng, Thủ đô Hà Nội nói chung. Cùng với truyền thống anh hùng cách mạng vẻ vang, xã Tam Hưng đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” vào tháng 12/1995.

Phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, sau ngày Giải phóng Thủ đô đến khi đất nước thống nhất và bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân xã Tam Hưng đã chung sức, đồng lòng, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Làng kháng chiến Tam Hưng của nhiều chục năm trước nay đã “khoác áo mới” khi 100% trục chính, đường liên thôn, đường ngõ xóm được cứng hóa, bê tông, đường làng, ngõ xóm có điện chiếu sáng, nhiều trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia. Thu nhập bình quân đầu người tại xã Tam Hưng đạt 70,5 triệu đồng/người/năm, các thiết chế văn hóa được đầu tư xây dựng, đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng được nâng cao, di tích lịch sử - văn hóa được bảo tồn, phát huy giá trị và trở thành nguồn lực phát triển địa phương nói riêng, Thủ đô Hà Nội nói chung.

“Mắt thấy tai nghe” tại các làng kháng chiến Nam Hồng, Tiền Phong, Tam Hưng, chúng tôi càng “thấm” khí phách, truyền thống cách mạng anh hùng của quân và dân Hà Nội từ các cuộc chiến vệ quốc gian lao ác liệt, tới ngày non sông thống nhất và đến hôm nay. Chiến tranh đã đi qua nhưng bản hùng ca các làng kháng chiến của Hà Nội đã được tạc vào lịch sử, từ đó bồi đắp, khơi dậy ý chí tự lực tự cường, đoàn kết, sáng tạo trong mỗi người dân Thủ đô để xây dựng Hà Nội “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại”, giữ vững danh hiệu Hà Nội - Thành phố Vì hòa bình, Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người!

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Nhớ đình xưa nơi phố cũ
    Một buổi chiều cuối năm 2025, tôi trở về bên Hồ Gươm, nơi lưu giữ miền cổ tích của tuổi thơ mình. Rảo bước trên vỉa hè phố Cầu Gỗ để vào chợ Hàng Bè, nơi tôi đã đi qua không biết bao lần trong suốt 25 năm đầu đời của mình (1954-1979), tôi bỗng ngỡ ngàng như lạc vào một miền xa lạ.
  • Bến xe Hà Nội: Nơi những hành trình bắt đầu từ ký ức
    Trong nhịp sống hối hả của Thủ đô, bến xe không chỉ là nơi đi và đến. Đó còn là nơi lưu giữ ký ức của biết bao thế hệ — nơi những người con xa quê lần đầu đặt chân tới Hà Nội, nơi những chuyến xe chở theo ước mơ, hy vọng và cả những nỗi niềm rất đời thường.
  • Chiếc vé nhỏ - Câu chuyện tàu điện Hà Nội xưa
    Mỗi khi nghe ca khúc “Nhớ về Hà Nội”, những người Hà Nội ngoài ngũ tuần chắc hẳn lại nhớ về một thời xa vắng khi tiếng leng keng của tàu điện đánh thức phố phường mỗi sớm mai. Những chuyến tàu xanh hay đỏ, ghế gỗ, vành sắt mòn bóng đã chở biết bao thế hệ người Hà Nội. Ít ai nghĩ câu chuyện về những chuyến tàu ấy lại bắt đầu từ một thứ nhỏ bé: chiếc vé.
  • Phố và phường qua những ngôi đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội
    Hà Nội, trong lịch sử dài lâu của mình, được tạo nên bởi “phố” và “phường”. “Phố” và “phường” Hà Nội không chỉ là đơn vị hành chính mà còn hàm chứa những thăng trầm của lịch sử, những đổi thay của xã hội và những giá trị được kiến tạo bởi các cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Một trong những điểm nổi bật của quá trình kiến tạo này là sự gắn bó mật thiết giữa “phường” với tư cách là đơn vị hành chính đô thị và “phường” với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp và “phố” là nơi buôn bán của cư dân đô thị. Trải qua thời gian, dấu ấn đậm nét của những phường nghề Thăng Long xưa vẫn được lưu lại ở các ngôi đình thờ tổ nghề ngay trong vùng lõi của Thủ đô, được gọi là khu phố cổ.
  • Kiến tạo bản sắc Hà Nội từ văn hóa dân gian
    Vốn được hiểu là tổng thể những đặc trưng văn hóa ổn định, bản sắc văn hóa của một nơi chốn trên thực tế lại không ngừng vận động, biến đổi qua thời gian. Bản sắc văn hóa Hà Nội cũng không phải ngoại lệ. Là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài, bền bỉ, bản sắc văn hóa Hà Nội là sự kết tinh của quá trình đan xen, bồi đắp của những lớp trầm tích của đời sống dân gian và những mảng màu đa sắc của đời sống đô thị hàng nghìn năm. Trong quá trình này, văn hóa dân gian giữ vai trò nền tảng, từ đó, bản sắc văn hóa Hà Nội được định hình; và qua biết bao lớp vun bồi của giao lưu văn hóa, qua bao chảy trôi, thăng trầm của lịch sử, qua những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, vẫn có thể thấy vẻ đẹp đặc sắc của linh hồn phố thị Hà Nội được kiến tạo từ văn hóa dân gian.
  • Lễ hội chùa Vua xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sắc cuộc thi “cờ người” đất Thăng Long – Hà Nội
    Thông tin UBND phường Hai Bà Trưng (TP. Hà Nội) cho biết, Lễ hội truyền thống chùa Vua - xuân Bính Ngọ 2026 sẽ diễn ra từ ngày 22 – 25/2 (mùng 6 đến mùng 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ). Lễ hội được khai mạc vào sáng ngày 25/2 (ngày 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ) tại chùa Vua (số 17 Thịnh Yên), trong đó đặc sắc nhất là phần thi cờ tướng.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Phát huy vai trò của văn nghệ sĩ Thủ đô: Khơi dậy nguồn lực sáng tạo cho phát triển công nghiệp văn hóa
    Trong nền kinh tế sáng tạo, tài năng và sức sáng tạo của con người chính là nguồn vốn quan trọng nhất. Đối với Hà Nội, đội ngũ văn nghệ sĩ không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn giữ vai trò trung tâm trong quá trình hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị. Khơi dậy, phát huy và tạo điều kiện để nguồn lực sáng tạo ấy phát triển sẽ là “chìa khóa” để Hà Nội khai thác hiệu quả tiềm năng văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế của một trung tâm sáng tạo trong kỷ nguyên mới.
  • Khơi nguồn sáng tạo của văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân, chung sức phát triển Thủ đô Hà Nội
    Chiều 29/7, Thành ủy Hà Nội tổ chức gặp mặt đại biểu văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân tiêu biểu trên địa bàn thành phố. Đây là dịp để lãnh đạo thành phố lắng nghe những hiến kế về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp văn hóa và phát huy nguồn lực con người, góp phần tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh, bền vững của Thủ đô.
  • Tạo dựng bản sắc kiến trúc Hà Nội: Giữ hồn cốt Thủ đô, kiến tạo diện mạo cho tương lai
    Kiến trúc không chỉ định hình diện mạo đô thị mà còn lưu giữ ký ức, phản ánh bản sắc văn hóa và trình độ phát triển của mỗi thời đại. Đối với Hà Nội - thành phố ngàn năm văn hiến, việc kiến tạo những công trình mới hài hòa với không gian lịch sử, đồng thời phát huy vai trò của đội ngũ kiến trúc sư trong bảo tồn và sáng tạo, là yêu cầu quan trọng để xây dựng Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại", đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới.
  • Thưởng thức những giai điệu jazz giữa không gian di sản Nhà Bát Giác
    Vào 17h00 ngày 2/8, Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục chào đón công chúng đến với chương trình "Âm nhạc cuối tuần", nơi những thanh âm của jazz trở thành chiếc cầu nối đưa nhiều nền văn hóa gặp gỡ trong không gian di sản giữa lòng Thủ đô. Từ những tác phẩm kinh điển của thế giới đến những giai điệu Việt Nam đậm chất tự sự, chương trình mở ra một hành trình thưởng thức âm nhạc đa tầng cảm xúc, góp phần bồi đắp diện mạo văn hóa của Hà Nội - Thành phố sáng tạo.
  • Giải Marathon Quốc tế VTV LPBank 2026 lần đầu chinh phục cung đường di sản
    Giải Marathon Quốc tế VTV LPBank 2026 hứa hẹn thu hút đông đảo vận động viên khi lần đầu tổ chức tại Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, Ninh Bình.
Đừng bỏ lỡ
  • “Chuyện Hà Nội - Một ngày rất Hà Nội”: Kích cầu du lịch văn hóa, kinh tế đêm Thủ đô
    “Chuyện Hà Nội - Một ngày rất Hà Nội” - chương trình nghệ thuật do Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long thực hiện, đã ra mắt công chúng vào tối 30/7 tại Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long (số 31 - 33 phố Lương Văn Can, phường Hoàn Kiếm).
  • [Podcast] Tản văn: Một ly tỉnh và nhớ
    Người ta có muôn vàn cách để quên một điều gì đó nhưng để nhớ về kỷ niệm thì lại chẳng có nhiều. Tôi hay chọn buổi sáng thứ Bảy trong tuần để được thư thả về phố núi quê hương, ngồi đợi giọt đắng của đất đai, mưa nắng điểm từng nhịp xuống chiếc ly sứ như đợi thời gian mở cánh cửa diệu kì của mình.
  • Phường Bồ Đề ra mắt mô hình "Không gian văn hoá công đoàn": Kết nối tri thức, lan toả văn hoá đọc
    Chào mừng kỷ niệm 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 – 28/7/2026), vừa qua, Công đoàn phường Bồ Đề phối hợp với Công đoàn Trường THCS Ngọc Thụy và Công đoàn Trường Tiểu học Ái Mộ B tổ chức Lễ ra mắt Mô hình “Không gian văn hóa công đoàn”.
  • Triển khai xây dựng, quảng bá thương hiệu Quốc gia “Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam”
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND TP Huế triển khai Đề án xây dựng, quảng bá thương hiệu Quốc gia "Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam".
  • [Podcast] Canh dải khoai - Đặc sản trứ danh xứ Đoài
    Trải qua thăng trầm thời gian, người Hà Nội vẫn luôn biết gìn giữ những món ăn truyền thống từ công thức gia truyền, đồng thời họ còn nâng niu những giá trị văn hóa được gửi gắm trong từng món ăn, từ cách chọn nguyên liệu, chế biến đến cách thưởng thức. Và canh dải khoai là một món ăn như thế.
  • Kiệt tác opera “La Traviata” của Ý chuẩn bị công chiếu tại Hà Nội
    Trong hai đêm 30 và 31/7/2026, Nhà hát Hồ Gươm, khán giả yêu nghệ thuật hàn lâm tại Hà Nội sẽ được hòa mình vào không gian âm nhạc đỉnh cao với sự xuất hiện của vở opera kinh điển “La Traviata”.
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Từ giai điệu "Hà Nội mùa thu" đến sức sống của một không gian văn hóa cộng đồng
    Trong không gian Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội), chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 26/7 không chỉ mang đến những giai điệu Jazz đặc sắc mà còn mở ra một cách cảm nhận mới về Hà Nội. Điểm nhấn của chương trình là ca khúc “Hà Nội mùa thu” của nhạc sĩ Vũ Thanh đã đưa hình ảnh Thủ đô hiện lên bằng vẻ đẹp tinh tế, giàu chiều sâu văn hóa, qua đó khẳng định vai trò của nghệ thuật trong việc kiến tạo không gian văn hóa cộng đồng và lan tỏa những giá trị bền vững của thành phố.
  • Phát động cuộc thi sáng tác thơ, âm nhạc, nhiếp ảnh hướng tới Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương
    Cuộc thi là cơ hội khuyến khích đội ngũ văn nghệ sĩ và các tầng lớp Nhân dân phát huy sáng tạo, tìm kiếm những nhân tố mới nhằm bổ sung nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của tỉnh.
  • Có một Hà Nội trên những chuyến xe
    Tôi đã đi nhiều chuyến xe trong đời nhưng có lẽ những chuyến xe buýt đối với tôi có nhiều kỉ niệm gắn bó, giống như tôi gắn bó với Hà Nội vậy.
Bản hùng ca làng kháng chiến của Thủ đô
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO