Hà Nội xưa - nay

Bản hùng ca làng kháng chiến của Thủ đô

Nhóm PV thực hiện 08/10/2024 10:57

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), Thủ đô Hà Nội đã có nhiều “làng kháng chiến” ra đời. Chính ở những ngôi làng ấy, quân và dân đã cùng nhau đánh trận, diệt địch, thu giữ nhiều vũ khí, góp phần làm nên những chiến thắng vẻ vang, tạo thành bản hùng ca và thắp sáng truyền thống anh hùng cách mạng của mảnh đất Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến. Tròn 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô, chúng tôi tìm về những làng kháng chiến thuộc địa bàn huyện Đông Anh, Mê Linh và Thanh Oai. Những dấu tích cùng những câu chuyện kể của những người dân nơi đây gieo trong chúng tôi niềm xúc động và cả sự trân trọng, tự hào.

Làng kháng chiến NAM HỒNG (Đông Anh)

Một ngày đầu thu, chúng tôi trở lại làng Nam Hồng (xã Nam Hồng, huyện Đông Anh) - một trong những địa danh đã đi vào lịch sử đấu tranh giành độc lập của quân và dân Hà Nội trước thực dân xâm lược nhiều chục năm về trước. Với tinh thần kháng chiến anh dũng, bất khuất, quyết chiến, quyết thắng, một lòng một dạ trung kiên theo Đảng, Bác Hồ, quân và dân xã Nam Hồng đã bất chấp hiểm nguy để bảo vệ cán bộ cách mạng, bảo vệ bí mật của làng kháng chiến.

4-dia-dao.jpg
Ông Phạm Quang Dộc (xã Nam Hồng) giới thiệu về địa đạo trong căn bếp cũ ở góc vườn.

Làng kháng chiến Nam Hồng hình thành ngay sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ vào ngày 19/12/1946. Tại đây, quân dân xã Nam Hồng đã chủ động rào làng, đắp lũy, kết hợp với hệ thống giao thông hào liên hoàn tạo sự linh hoạt trong tác chiến. Phía trong làng, nhân dân đã sáng tạo nối thông các hầm bí mật thành hệ thống địa đạo chạy ngầm trong lòng đất. Địa đạo Nam Hồng có chiều dài hơn 11km, đi qua các thôn: Tằng My, Đoài, Đìa, Vệ và liên thông sang thôn Thượng Phúc (xã Bắc Hồng) và thôn Sơn Du (xã Nguyên Khê). Địa đạo có 465 hầm bí mật, 2.680 hố chiến đấu, hơn 8.000m thành lũy và hơn 600 cổng dong - tạo nên làng kháng chiến liên hoàn toàn xã và tạo thành pháo đài phòng ngự kiên cường, đánh địch hiệu quả.

2-dia-dao.jpg
3-dia-dao.jpg
Bên trong địa đạo làng kháng chiến Nam Hồng.

Ít ai có thể tin rằng trong kháng chiến chống Pháp, xã Nam Hồng là một chiến trường khốc liệt. Nằm ở phía Tây huyện Đông Anh, giáp giới với địa phận của tỉnh Vĩnh Phúc, vùng giáp ranh quyết liệt giữa ta và địch. Theo chân cán bộ văn hóa xã Nam Hồng Nguyễn Thị Thanh đến thăm địa đạo vào những ngày mùa thu lịch sử, chúng tôi được giới thiệu tỉ mỉ về truyền thống lịch sử hào hùng của quê hương Nam Hồng. Dưới mỗi bước chân đang đi của chúng tôi là đường hầm của địa đạo - chứng tích hào hùng của người dân Nam Hồng và huyện Đông Anh.

1-dia-dao.jpg
Hiện trạng chứng tích hầm, hào thôn Vệ làng kháng chiến Nam Hồng.

Dừng chân tại nhà cụ Phạm Quang Dộc, chúng tôi được cụ dẫn vào căn bếp cũ ở góc vườn - nơi lưu giữ lối vào của địa đạo năm xưa. Cầm trên tay chiếc đèn pin nhỏ chiếu sáng không gian địa đạo cho chúng tôi xem, cụ Dộc giọng đầy tự hào: “Ngày xưa, khi các cụ đào địa đạo này, tôi mới có vài tuổi. Bố tôi tham gia cách mạng, làm nhiệm vụ canh giữ cửa hầm và che giấu cán bộ. Khi còn sống, cụ vẫn thường kể cho chúng tôi nghe về những ngày giặc Pháp càn quét ở Nam Hồng”.

Điểm dừng chân tiếp theo của chúng tôi ở xã Nam Hồng là nhà ông Phạm Quang Hài - một ngôi nhà có một cửa hầm thuộc địa đạo. Ông Hài cho biết: “Mẹ tôi (cụ Phạm Thị Lai) kể, từ đầu năm 1947, đội du kích xã Nam Hồng sau khi được thành lập đã cùng thanh niên, nam nữ khỏe mạnh trong làng bắt đầu đào hệ thống giao thông hào sát vào lũy tre. Để có địa đạo này, các cụ đã dùng chiếc búa chim, đào ngày, đào đêm sau đó giấu đất vào bị cói hoặc chiếc khăn vuông rồi lén đổ xuống sông cho địch không phát hiện. Thực sự bây giờ nghĩ lại, tôi cũng không hiểu làm sao có thể đào được địa đạo dài như vậy”.

Trong suốt 9 năm kháng chiến (1945 – 1954), quân dân Nam Hồng đã đánh 308 trận, diệt 354 tên, làm bị thương 153 tên, bắt sống 11 tên, 135 tên phải quy hàng; thu 72 súng trường, 3 súng tiểu liên, 780 lựu đạn, phá 3 xe lội nước, 1 trung liên, hàng chục mét đường sắt của địch. Hiện nay, các hầm hào, ụ chiến đấu hầu như bị san phẳng, hệ thống địa đạo còn dấu tích nhưng phần hiện hữu chỉ còn một đoạn ở thôn Vệ với tổng chiều dài khoảng 67m chạy ngang qua 4 gia đình (cụ Phạm Văn Dộc, Phạm Văn Cán, cụ Phiến và cụ Phạm Thị Lai). Một cửa địa đạo lên ở gian buồng nhà cụ Dộc, nơi đây cũng ghi dấu liệt sĩ Trần Xuyên kiên cường đánh địch và hy sinh anh dũng; một cửa địa đạo tại gia đình cụ Lai.

Ngoài địa đạo, làng kháng chiến Nam Hồng nay còn lại một ít dấu tích như một số đoạn hào, lũy chiến đấu, vọng gác, hòm thư bí mật… Nhưng ngay cả hào chiến đấu, lũy chiến đấu cũng đang bị ảnh hưởng bởi thiên nhiên, và nếu không được giới thiệu, cũng không thể hình dung ra nơi này đã ghi dấu một thời chiến đấu oai hùng chống thực dân Pháp của nhân dân Nam Hồng. Trong kháng chiến chống Pháp, địa đạo Nam Hồng đã góp phần làm nên trang sử vẻ vang của cuộc kháng chiến giữ nước vĩ đại của dân tộc ta. Quân và dân Nam Hồng đã đóng góp một phần trong “mảnh ghép” bảo vệ và giải phóng Thủ đô, làm nên nhiều chiến tích quan trọng. Thế hệ mai sau luôn ghi nhớ và khắc ghi những hi sinh và mất mát của người dân Nam Hồng trong những năm kháng chiến ấy.

Làng kháng chiến TIỀN PHONG (Mê Linh)

Rời xã Nam Hồng, chúng tôi di chuyển khoảng năm cây số để đến làng kháng chiến xã Tiền Phong, huyện Mê Linh (trước là thôn Yên Nhân, xã Tiền Phong, huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc). Đặt chân đến xã Tiền Phong, chúng tôi thực sự ngỡ ngàng trước sự đổi mới của một vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Những con đường làng, ngõ xóm được bê tông hóa, hệ thống các công trình phúc lợi và trường học, trạm y tế được xây dựng khang trang.

13.jpg
Đội du kích xã Tiền Phong chiến đấu bảo vệ dân làng.

Nơi đây, trong thời kháng chiến chống Pháp, có nhiều ao hồ, tường đất cao xây xung quanh và các lũy tre dày bao bọc. Nhân dân đã lập lũy xây làng, bảo vệ quê hương, giữa các xóm trong thôn đều có hệ thống chiến hào, tạo nên sự liên kết với nhau; mỗi xóm đều xây dựng hệ thống hầm bí mật.

Chúng tôi đến thăm cụ Hoàng Văn Năm - du kích xã Nam Hồng người đã từng chứng kiến những cột mốc lịch quan trọng của làng. Chia sẻ với chúng tôi, cụ vẫn nhớ rất chi tiết một thời trai trẻ tham gia lực lượng du kích cùng nhân dân trong xã đấu tranh chống giặc Pháp, bảo vệ quê hương. Lúc đấy cụ mới 17 tuổi, đội du kích của thôn Yên Nhân có 47 người, được tổ chức tốt, thường xuyên luyện tập các phương án đánh địch, bảo vệ xóm làng.

Cụ Năm kể, 5 giờ sáng ngày 17/10/1953, quân Pháp tổ chức càn quét, dùng pháo 105mm bắn vào thôn, rồi sử dụng nhiều xe tăng và xe cơ giới yểm trợ, chia làm nhiều mũi tấn công vào các xóm. Do có sự chủ động từ trước nên du kích thôn Yên Nhân và bộ đội ta bình tĩnh hiệp đồng chiến đấu, khôn khéo đánh trả từng đợt tiến công của địch.

Theo cụ Năm, sau nhiều lần tiến công không thành, địch dùng xe tăng và bộ binh đánh vu hồi vào phía đông của thôn. Đoán được ý định của địch, đợi cho xe tăng của chúng vào bãi vật cản, du kích mới giật mìn, vừa tiêu diệt địch tại chỗ, đồng thời khiến chúng phải lùi ra xa. Chưa từ bỏ ý định, địch dừng bắn pháo, từ nhiều hướng bất ngờ tiến công vào thôn. Lần này, chúng tiếp tục bị du kích và bộ đội địa phương lợi dụng vật cản, chông mìn, bắn gần. Lợi dụng đêm tối, quân địch chủ quan, ta bất ngờ tập kích diệt thêm nhiều tên địch, do bị thương vong nhiều, địch phải rút toàn bộ lực lượng về căn cứ.

Sau hơn một ngày đêm bám làng chiến đấu, tuy rất chênh lệch về lực lượng nhưng du kích thôn Yên Nhân và bộ đội địa phương đã dũng cảm, diệt nhiều sinh lực địch, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Cách đánh này đã làm thất bại ý định càn quét của địch, đồng thời củng cố được thế trận làng xã chiến đấu, góp phần phát triển thế trận chiến tranh nhân dân ở địa phương.

Cuối năm 1953 đầu 1954, địch lại ngoan cố đem quân về càn quét dữ dội vào xã và xây lại bốt chợ Yên, nhân dân xã Tiền Phong đã anh dũng phá tan được nhiều cuộc càn quét ác liệt dài ngày của giặc bao vây bốt chợ Yên và bức địch phải ra hàng toàn bộ. Trong 5 năm trực diện đấu tranh với quân Pháp (1949 - 1954) mặc dù địch nhiều lần lấn đất, xây bốt, tổ chức tề ngụy khắp các thôn nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân xã Tiền Phong vẫn kiên cường bất khuất giành giật với giặc từng thước đất và tích cực đóng góp nhân tài, vật lực cho kháng chiến, chi bộ Tiền Phong đã lãnh đạo công tác xây dựng cơ sở bí mật, tổ chức quần chúng đấu tranh với địch về mọi mặt chính trị, kinh tế với đấu tranh vũ trang như phá tề trừ gian, đánh phục kích, đồn thổ tiến lên nhổ hết đồng bốt giặc thành lập khi du kích (3/1953).

Nhìn lại những trang lịch sử trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, xã Tiền Phong đã có 207 thanh niên xung phong lên đường nhập ngũ, 247 người tham gia du kích, quân báo; 101 gia đình cơ sở, 1.640 lượt dân công phục vụ chiến dịch. Nhân dân trong xã đóng góp 153.466 kg thóc thuế nông nghiệp. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân xã Tiền Phong đã mở đường giúp quân và dân tiến về tiếp quản Thủ đô, quân và dân xã Tiền Phong đã bám đất, bám làng, anh dũng, kiên cường chiến đấu, đã đánh 457 trận, tiêu diệt 282 lính Pháp, bắt sống 49 tên, bắn bị thương 211 tên, vận động ra hàng 116 lính ngụy, phá hủy 3 tháp canh, 18 xe cơ giới (trong đó có 10 xe tăng và thiết giáp), 3 đại bác và trọng liên, 1 máy bay vận tải (bắn bị thương), thu được 3 súng đại liên, 4 súng trung liên, 15 súng tiểu liên, 2 súng phóng lựu đạn, 1 số cối 60 ly, 55 súng thường, 3 máy vô tuyến điện, 15 ngàn mét dây điện, đạn và quân trang quân dụng 15 tấn.

Tiếp nối truyền thống vẻ vang của các thế hệ đi trước, trong công cuộc xây dựng và phát triển hôm nay, với quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và sự chung sức, đồng lòng của các tầng lớp Nhân dân, xã Tiền Phong đã, đang thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng xã Tiền Phong trở thành điểm sáng nơi cửa ngõ của huyện Mê Linh và Thủ đô Hà Nội.

Làng kháng chiến TAM HƯNG (Thanh Oai)

Ngược về huyện Thanh Oai, chúng tôi đến với xã Tam Hưng - vùng đất giàu truyền thống văn hóa lịch sử, cùng truyền thống anh hùng cách mạng tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội. Trải qua hàng nghìn năm, nhân dân Tam Hưng đã hun đúc nhiều truyền thống quý báu, đó là truyền thống đoàn kết làng xóm láng giềng, dòng họ, đặc biệt là truyền thống dũng cảm trong chiến đấu, cần cù thông minh trong lao động sản xuất.

6-tam-hung-bao-ve-can-bo.jpg
Nhân dân xã Tam Hưng bảo vệ cán bộ, đưa cán bộ xuống hầm bí mật trong những ngày giặc Pháp càn quét.

Tam Hưng cũng là một trong những địa phương của Thủ đô có làng kháng chiến. Hơn 70 năm trước, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cán bộ và nhân dân Tam Hưng đã kiên cường bám đất, bám dân, rào làng kháng chiến trở thành một điển hình tiêu biểu lúc bấy giờ, được Đảng và Nhà nước tặng 4 chữ vàng “Tam Hưng anh dũng”.

Thực hiện lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khẩu hiệu “Mỗi làng là một pháo đài kháng chiến”, năm 1947, nhân dân Tam Hưng nhất tề xây dựng làng kháng chiến. Được Huyện ủy - Ủy ban kháng chiến hành chính huyện phổ biến tài liệu “Đường hầm tân ký sát”, cán bộ và nhân dân Tam Hưng vận dụng vào thực tiễn của địa bàn và vị trí của các làng để xây dựng làng kháng chiến.

5-doi-du-kich-tam-hung.jpg
Đội du kích xã Tam Hưng trong những năm lập làng kháng chiến.

Có lực lượng dân quân du kích làm nòng cốt, nhân dân Tam Hưng đã lợi dụng những bờ tường đất cao ven làng, trên có các lũy tre, rặng cây, bụi gai, mây và nhiều đoạn bám liền với đồng ruộng để rào làng, làm cổng ra vào, kết hợp với đào giao thông hào, hầm chiến đấu. Dưới lòng đất, quân dân du kích đào giao thông hầm, có đoạn nối làng nọ với làng kia. Hệ thống hầm hào, chiến lũy, giao thông hầm dưới lòng đất đào hết sức công phu, kiên cố, tất cả đều có khả năng hỗ trợ cho nhau.

8-tam-hung-thoi-tu-va.jpg
Du kích canh gác bên cổng, thổi tù và báo động tại làng kháng chiến Tam Hưng.

Hệ thống đường hầm nằm sâu dưới lòng đất, rộng từ 1 - 1,2m, cao từ 1,5 - 2m. Toàn xã Tam Hưng đã xây dựng được hệ thống giao thông hào bao quanh làng với 7.884m, đường hầm liên hoàn chiến đấu dài 4.872m, đường giao thông hào xung quanh các làng 8.126m. Hệ thống các đường hầm tại Đại Định có 2 đường hầm với tổng chiều dài khoảng hơn 1km, có một cửa chạy vào chùa, ngách chạy ra lũy tre ao, ra đồng cũng một ngách thông ra sông Đỗ Động.
Hoặc tại Song Khê có 4 đường hầm, đường thứ nhất dài khoảng 160m, bắt đầu từ cổng đình, chạy dọc theo lũy vào nhà ông Nguyễn Văn Lạc nối tiếp với các đường hầm ra khu vực đền Đống. Đường thứ hai dài 220m, bắt đầu từ cổng nhà dân thuộc khu vực xóm Dền, chạy sang xóm Giữa, kéo dài đến xóm 3. Đường thứ ba có 3 ngách, ngách cửa chính ở nhà ông Bùi Văn Uyên, một ngách chạy theo đường lũy, một ngách dẫn đến nhà thờ Nguyễn Trực, một ngách vào điện Phật kéo dài đến nhà ông Lê Huy Bảo. Riêng hầm này còn có phương án bất ngờ tiêu diệt địch nếu chúng đóng quân tại chùa Bối Khê, tổng chiều dài của hầm là 320m. Đường thứ tư, dài 450m, bắt đầu từ nhà ông Trần Vĩnh Dụ, xuyên qua đường, chạy qua ngõ Trạ, kéo đến Kỳ cắt sang ngõ Dinh. Hầm này có rất nhiều ngách được bố trí giống như hình xương cá.

Đặc biệt, phía sau chùa Bối Khê xã Tam Hưng có căn hầm, cũng là địa đạo, từ thời kháng chiến chống Pháp, được xây từ tháng 1/1948. Theo chân Bí thư Đoàn xã Tam Hưng Nguyễn Văn Kiên đến chùa Bối Khê, anh Kiên cho biết, hầm - địa đạo tại chùa với 3 ngách chính. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chùa Bối Khê là cơ sở cách mạng. Hầm – địa đạo ban đầu dùng để nuôi giấu cán bộ, cất trữ lương thực, sau trở thành một pháo đài chặn đứng các cuộc càn quét của giặc. Tại căn hầm và địa đạo của chùa Bối Khê, quân và dân địa phương đã đập tan 3 cuộc càn quét của giặc Pháp, tiêu diệt 372 tên địch.

Làng kháng chiến Tam Hưng đã trở thành mẫu mực ở đồng bằng Bắc bộ những năm kháng chiến chống thực dân xâm lược. Hiệu quả kháng chiến ở đây trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Chỉ riêng năm 1948, địch đã mở 72 trận càn quét lớn nhỏ vào các làng chiến đấu. Những trận chống càn lớn thời điểm này ở Tê Quả, Đại Định, Song Khê, Hưng Giáo và Lê Dương… thắng lợi giòn giã, hàng chục tên địch bị tiêu diệt và bị thương. Nhìn lại những trang lịch sử trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, xã Tam Hưng có trên 800 thanh niên tham gia nhập ngũ và thanh niên xung phong. Ở hậu phương, cùng với xây dựng làng kháng chiến, lực lượng du kích đã phối hợp với bộ đội chủ lực và độc lập tham gia chiến đấu 172 trận, tiêu diệt, bắt sống 405 tên địch, thu giữ hàng trăm súng các loại, đồng thời giữ vững được địa bàn và tạo điều kiện củng cố các khu du kích khác ở khu vực lân cận.

Năm 1948, Liên khu ủy III và một số địa phương về Tam Hưng thăm, học hỏi kinh nghiệm xây dựng làng kháng chiến. Dù hiện nay, các hầm – địa đạo trong xã Tam Hưng và các xã lân cận đều đã bị phủ kín, bịt chặt theo thời gian, duy chỉ có hầm trong chùa Bối Khê vẫn còn giữ được một cửa và địa đạo dài khoảng 7m nhưng đến tận ngày nay, với những gì đã có, làng kháng chiến Tam Hưng đi vào lịch sử chống giặc ngoại xâm của nhân dân trong huyện Thanh Oai nói riêng, Thủ đô Hà Nội nói chung. Cùng với truyền thống anh hùng cách mạng vẻ vang, xã Tam Hưng đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” vào tháng 12/1995.

Phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, sau ngày Giải phóng Thủ đô đến khi đất nước thống nhất và bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân xã Tam Hưng đã chung sức, đồng lòng, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Làng kháng chiến Tam Hưng của nhiều chục năm trước nay đã “khoác áo mới” khi 100% trục chính, đường liên thôn, đường ngõ xóm được cứng hóa, bê tông, đường làng, ngõ xóm có điện chiếu sáng, nhiều trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia. Thu nhập bình quân đầu người tại xã Tam Hưng đạt 70,5 triệu đồng/người/năm, các thiết chế văn hóa được đầu tư xây dựng, đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng được nâng cao, di tích lịch sử - văn hóa được bảo tồn, phát huy giá trị và trở thành nguồn lực phát triển địa phương nói riêng, Thủ đô Hà Nội nói chung.

“Mắt thấy tai nghe” tại các làng kháng chiến Nam Hồng, Tiền Phong, Tam Hưng, chúng tôi càng “thấm” khí phách, truyền thống cách mạng anh hùng của quân và dân Hà Nội từ các cuộc chiến vệ quốc gian lao ác liệt, tới ngày non sông thống nhất và đến hôm nay. Chiến tranh đã đi qua nhưng bản hùng ca các làng kháng chiến của Hà Nội đã được tạc vào lịch sử, từ đó bồi đắp, khơi dậy ý chí tự lực tự cường, đoàn kết, sáng tạo trong mỗi người dân Thủ đô để xây dựng Hà Nội “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại”, giữ vững danh hiệu Hà Nội - Thành phố Vì hòa bình, Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người!

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Phố và phường qua những ngôi đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội
    Hà Nội, trong lịch sử dài lâu của mình, được tạo nên bởi “phố” và “phường”. “Phố” và “phường” Hà Nội không chỉ là đơn vị hành chính mà còn hàm chứa những thăng trầm của lịch sử, những đổi thay của xã hội và những giá trị được kiến tạo bởi các cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Một trong những điểm nổi bật của quá trình kiến tạo này là sự gắn bó mật thiết giữa “phường” với tư cách là đơn vị hành chính đô thị và “phường” với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp và “phố” là nơi buôn bán của cư dân đô thị. Trải qua thời gian, dấu ấn đậm nét của những phường nghề Thăng Long xưa vẫn được lưu lại ở các ngôi đình thờ tổ nghề ngay trong vùng lõi của Thủ đô, được gọi là khu phố cổ.
  • Kiến tạo bản sắc Hà Nội từ văn hóa dân gian
    Vốn được hiểu là tổng thể những đặc trưng văn hóa ổn định, bản sắc văn hóa của một nơi chốn trên thực tế lại không ngừng vận động, biến đổi qua thời gian. Bản sắc văn hóa Hà Nội cũng không phải ngoại lệ. Là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài, bền bỉ, bản sắc văn hóa Hà Nội là sự kết tinh của quá trình đan xen, bồi đắp của những lớp trầm tích của đời sống dân gian và những mảng màu đa sắc của đời sống đô thị hàng nghìn năm. Trong quá trình này, văn hóa dân gian giữ vai trò nền tảng, từ đó, bản sắc văn hóa Hà Nội được định hình; và qua biết bao lớp vun bồi của giao lưu văn hóa, qua bao chảy trôi, thăng trầm của lịch sử, qua những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, vẫn có thể thấy vẻ đẹp đặc sắc của linh hồn phố thị Hà Nội được kiến tạo từ văn hóa dân gian.
  • Lễ hội chùa Vua xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sắc cuộc thi “cờ người” đất Thăng Long – Hà Nội
    Thông tin UBND phường Hai Bà Trưng (TP. Hà Nội) cho biết, Lễ hội truyền thống chùa Vua - xuân Bính Ngọ 2026 sẽ diễn ra từ ngày 22 – 25/2 (mùng 6 đến mùng 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ). Lễ hội được khai mạc vào sáng ngày 25/2 (ngày 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ) tại chùa Vua (số 17 Thịnh Yên), trong đó đặc sắc nhất là phần thi cờ tướng.
  • Ngựa trong đời sống Thăng Long - Hà Nội
    Hà Nội có 5 địa danh gắn với chữ Mã là phố Kim Mã, hồ Mã Cảnh, phố Hòa Mã, phố Hàng Mã và đền Bạch Mã. Tuy nhiên, chữ Mã với nghĩa là ngựa thì chỉ có Kim Mã, Mã Cảnh và Bạch Mã. Tuy nhiên Bạch Mã với nghĩa ngựa trắng chỉ là truyền thuyết, còn chữ Mã trong Hàng Mã và Hòa Mã là chữ Nôm chỉ đồ cúng tế, quần áo mặc khi làm lễ.
  • Phường Hoàn Kiếm: Dâng hương kỷ niệm ngày hóa của Đức Hỏa Thần
    Sáng 17/11/2025, tại đền Hỏa Thần (số 30 Hàng Điếu, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội), Đảng ủy, HĐND, UBND, UB MTTQ phường Hoàn Kiếm phối hợp cùng Ban Quản lý hồ Hoàn Kiếm và Phố cổ Hà Nội, Tiểu ban quản lý di tích Đền Hỏa Thần và nhân dân địa phương long trọng tổ chức lễ dâng hương kỷ niệm ngày hóa Đức Hỏa Thần.
  • Đồ chơi Trung thu Hà Nội xưa: Từ ký ức đến hành trình tiếp nối
    Rằm tháng Tám, tiếng trống hội, đèn ông sao, mùi bánh nướng, bánh dẻo… như đánh thức ký ức tuổi thơ trong mỗi người. Với trẻ nhỏ, Trung thu là đêm hội rước đèn, phá cỗ dưới trăng, còn với người lớn, đó là dịp trở về miền ký ức với những món đồ chơi dân dã. Năm nay, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam mang đến cho công chúng một trải nghiệm đặc biệt qua không gian nghệ thuật sắp đặt “Sắc Thu” (diễn ra từ 4/10 và kéo dài đến 4/11/2025). Trong không gian ấy, có nhiều đồ chơi truyền thống gắn với các làng nghề Hà Nộ
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Tư duy kinh tế trong Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam
    “Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã thể hiện rõ tư duy kinh tế đối với phát triển văn hóa: đó là việc áp dụng các quy luật, nguyên tắc kinh tế để tối ưu hóa và tăng cường nguồn lực cho văn hóa, giúp văn hóa không còn phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách Nhà nước mà có thể tạo ra giá trị góp phần phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước” - PGS.TS Nguyễn Thành Nam, Trưởng khoa Xuất bản - Phát hành, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội chia sẻ.
  • Đa dạng chuỗi hoạt động với chủ đề “Bác Hồ trong trái tim đồng bào”
    Từ ngày 3 đến 31/5/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra chuỗi hoạt động tháng 5 với chủ đề “Bác Hồ trong trái tim đồng bào”, hướng tới kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chương trình do Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức, với nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật mang đậm bản sắc, góp phần tăng cường giao lưu, gắn kết cộng đồng 54 dân tộc và thu hút du khách đến với Ngôi nhà chung.
  • Tái hiện chân dung phi công Vũ Xuân Thiều và chuyến bay bất tử
    Nhân kỉ niệm 51 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026), Nhà xuất bản Kim Đồng ra mắt bạn đọc ấn phẩm mới “Vũ Xuân Thiều và chuyến bay bất tử”. Cuốn sách nằm trong bộ “Người lính phi công kể chuyện” của Đại tá Nguyễn Công Huy, gồm ba cuốn, tái hiện những câu chuyện lịch sử về Không quân Nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
  • Những sự kiện văn hóa, nghệ thuật và du lịch hấp dẫn tại Lễ hội mùa Hạ - Festival Huế
    Nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật và du lịch sẽ diễn ra trong Lễ hội mùa Hạ - Festival Huế 2026 và hứa hẹn mang đến nhiều trải nghiệm phong phú cho người dân, du khách.
  • Khai mạc Lễ hội Phủ Suối : Lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống
    Vừa qua, tại Di tích Phủ Suối, phường Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã long trọng diễn ra Lễ khai mạc Lễ hội Phủ Suối năm 2026 trong không khí trang nghiêm, thành kính và đậm đà bản sắc dân tộc.
Đừng bỏ lỡ
  • Từ 08-10/5 sẽ diễn ra trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề tại Hoàng Thành Thăng Long
    Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng là thành viên của mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo Thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề” diễn ra tại Hoàng Thành Thăng Long từ ngày 08-10/5/2026”.
  • Âm nhạc cuối tuần: Nhịp cầu kết nối truyền thống, sáng tạo và tinh thần hội nhập
    Chiều ngày 3/5, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác (vườn hoa Lý Thái Tổ) đã mang đến cho công chúng Thủ đô một không gian nghệ thuật giàu cảm xúc, nơi những giai điệu jazz phóng khoáng hòa quyện cùng tinh thần về một Hà Nội hào hoa thanh lịch.
  • “Cùng em tìm về giọt nước đầu nguồn”: Khúc tri ân từ mạch nguồn lịch sử và văn hóa
    Nhân kỷ niệm 85 năm ngày Bác Hồ trở về nước (1941-2026), nhạc sĩ Nguyễn Thành Trung giới thiệu MV “Cùng em tìm về giọt nước đầu nguồn” như một lời tri ân quá khứ, đồng thời mở ra nhịp cầu kết nối văn hóa vùng cao với tâm hồn người trẻ đương đại. Tác phẩm do hai nghệ sĩ trẻ: Nguyễn Hoàng Yến và rapper Trung Hiếu thể hiện.
  • Điểm hẹn âm nhạc giữa lòng Hà Nội vào ngày 3/5
    Trong những ngày nghỉ lễ 30/4 – 1/5, khi nhịp sống tạm chậm lại, nhu cầu tìm kiếm những không gian thư giãn, giải trí lành mạnh của người dân và du khách tại Thủ đô tăng lên rõ rệt. Giữa nhiều lựa chọn, “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục là một điểm hẹn lý tưởng, mang đến một không gian văn hóa nhẹ nhàng nhưng không kém phần hấp dẫn.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Hành trình bất ngờ
    Tôi có cuốn sổ được mua từ hồi sinh viên và vẫn đem theo bên mình. Cuốn sổ có bìa màu da đã cũ, tuy không dày lắm nhưng tôi ghi mãi vẫn không hết. Nó cứ thế lăn lóc theo tôi từ lúc đi thực tập, thử việc cho đến khi ra trường đi làm. Tôi chỉ có thói quen ghi chứ chẳng xem lại bao giờ.
  • Vang khúc ca khải hoàn: Nghệ thuật kết nối lịch sử
    Hòa trong không khí thiêng liêng của những ngày lễ lớn của dân tộc, tối 30/4, Nhà hát Cải lương Hà Nội đã giới thiệu đến bà con Nhân dân xã Nam Phù một chương trình ca múa nhạc đặc biệt.
  • Góp phần định hình tư duy phát triển mới đối với văn hóa Việt Nam
    PGS. TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội đánh giá, Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết của Quốc hội, ngày 24/4/2026) là một bước đi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết của Quốc hội góp phần định hình một tư duy phát triển mới đối với văn hóa Việt Nam.
  • Du khách ngược dòng thời gian, trải nghiệm yến tiệc vàng son “Dạ yến Hoàng cung”
    Nhiều du khách vào Đại nội Huế trải nghiệm yến tiệc vàng son “Dạ yến Hoàng cung” tại Nhà hát Duyệt Thị Đường.
  • Đưa tri thức, công nghệ và văn hóa thành “hạt nhân” bứt phá của Thủ đô Hà Nội
    Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tính bước ngoặt về triết lý phát triển Thủ đô Hà Nội trong thế kỷ XXI. Đứng trước thời điểm của lịch sử và thách thức thời đại, Nghị quyết số 02 đã đặt ra một chiến lược bước ngoặt thiết lập một mô hình tăng trưởng hoàn toàn mới.
  • Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ 2 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage flow”
    Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng vừa ký ban hành Kế hoạch số 173/KH-UBND ngày 28/4/2026 về tổ chức “Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II, năm 2026”. Festival nhằm bảo tồn, phát huy và lan tỏa các giá trị văn hóa đặc sắc của Thăng Long - Hà Nội và văn hóa Việt Nam, đồng thời góp phần thực hiện các Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô.
Bản hùng ca làng kháng chiến của Thủ đô
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO