Văn hóa – Di sản

Vũ Quốc Trân – nhà giáo, nhà văn tài hoa

Nguyễn Thanh Tùng 19/11/2023 16:05

Vũ Quốc Trân, chưa rõ năm sinh năm mất, tên tự, tên hiệu, chỉ biết rằng ông sống cùng thời với Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát (giữa thế kỉ XIX), quê gốc làng Đan Loan, huyện Bình Giang (nay thuộc huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương), nhưng dòng họ từ nhiều đời trước đã di cư ra Thăng Long, ngụ ở phường Đại Lợi (cuối phố Hàng Đào ngày nay). Ông tham gia thi nhiều lần và cũng nhiều lần chỉ đỗ đến Tú tài, vì thế nên người đương thời gọi ông là “cụ Mền Đại Lợi” (ý chỉ người đỗ Tú tài nhiều lần ở phường Đại Lợi). Do không đỗ cao, Vũ Quốc Trân quyết định mở trường dạy học tại nhà. Tương truyền, Vũ Quốc Trân nổi tiếng là hay chữ, giỏi ứng đối, dạy học giỏi, học trò nhiều người đỗ đạt.

vu-quoc-tran.png
Tranh minh họa Bích Câu Kỳ Ngộ của Vũ Quốc Trân.

Theo nghiên cứu của Trần Văn Giáp, dựa vào gia phả dòng họ Vũ ở Mộ Trạch, Vũ Quốc Trân là tác giả của truyện Nôm Bích Câu kì ngộ (gồm 674 câu thơ lục bát). Tuy nhiên, cho đến nay vẫn có một số ý kiến chưa thừa nhận thành quả nghiên cứu này vì cho rằng các chứng cứ của Trần Văn Giáp còn yếu lí, chưa thực sự thuyết phục. Vì thế, vấn đề tác giả truyện thơ Nôm Bích Câu kì ngộ vẫn chưa thực sự ngã ngũ. Nếu đúng Vũ Quốc Trân là tác giả bản diễn Nôm Bích Câu kì ngộ thì ông có một vị trí nhất định trong văn học Việt Nam nói chung và văn học Thăng Long - Hà Nội nói riêng.

Bích Câu kì ngộ là một câu chuyện xảy ra giữa đất Thăng Long thế kỉ XV, kể về mối tình “kì ngộ” giữa chàng trai nho sĩ lịch lãm đất kinh kì là Tú Uyên và tiên nữ Giáng Kiều. Thời Hồng Đức, có một Nho sinh tên là Trần Tú Uyên, nhà nghèo khó, hay chữ, hay thơ nhưng không thích khoa cử, hoạn lộ, đặc biệt không tin vào quỷ thần, thường lấy việc ngao du sơn thủy qua các thắng cảnh làm thú vui. Một lần đến đất Bích Câu (Ngòi Biếc), cạnh Văn Miếu (Quốc Tử Giám), thấy phong cảnh đẹp đẽ, nên thơ, bèn làm nhà ở đó để ngụ. Một hôm chàng đi xem lễ hội chay ở chùa Ngọc Hồ (nay ở phố Nguyễn Khuyến), chiều xuống, sắp sửa ra về, bỗng từ đâu bay đến một bài thơ có ý trêu ghẹo. Nhìn ra cửa Tam quan, chàng thấy một người con gái rất kiều lệ, dịu dàng, bèn đi theo bắt chuyện. Hai bên đối đáp, giãi bày với nhau rất tâm đầu ý hợp. Đến Quảng Văn Đình (nay là chợ Cửa Nam), cô gái biến mất. Từ đó, Tú Uyên sinh ra ốm tương tư. Nhờ người bạn mách cho, Tú Uyên bèn đến đền Bạch Mã (nay ở phố Hàng Buồm) cầu mộng. Đêm nằm mộng thấy thần Bạch Mã bảo hôm sau nên ra đợi ở Cầu Đông (nay là phố Hàng Đường) thì sẽ gặp lại cô gái. Hôm sau, Tú Uyên ra đợi mãi ở đó đến tận chiều tối, nhưng không thấy ai, chỉ gặp một ông lão bán tranh, trong đó có bức tranh tố nữ giống hệt cô gái chàng đã gặp bữa nọ. Tú Uyên bèn mua tranh về, treo trên vách, cứ đến bữa ăn lại dọn hai cái bát, hai đôi đũa, mời người trong tranh cùng ăn. Một hôm nọ, chàng đi học về thấy có mâm cơm đã dọn sẵn, nhà cửa thì sạch tinh tươm, trong lòng nghi hoặc mãi. Hôm sau, chàng giả vờ đi học nửa đường quay về rình một chỗ, thì thấy người trong tranh bước ra. Chàng bèn chạy vào, xé bức tranh và truy hỏi cô gái. Không còn cách nào, cô gái bèn ở lại với chàng, thú thực mình là Giáng Kiều trên cung tiên xuống, xin được kết duyên chồng vợ. Hai người bèn làm lễ cưới có thiên tiên chứng giám. Giáng Kiều làm phép biến ngôi nhà thành nơi nguy nga tráng lệ. Hai vợ chồng ái ân nồng đượm. Lấy nhau được ba năm, Tú Uyên sinh ra rượu chè say sưa, Giáng Kiều can ngăn, chàng vẫn không nghe. Một lần, quá say, chàng đã mạnh tay “vũ phu” làm nàng quá giận, bỏ đi. Đến lúc tỉnh, Tú Uyên mới hối hận nhưng đã muộn, chỉ biết tiếc thương, than vãn. Một hôm, quá tuyệt vọng, Tú Uyên định tự vẫn, đúng lúc đó Giáng Kiều hiện ra khuyên bảo, chàng bèn từ tạ, rồi hai bên lại tái hợp như xưa. Hai người lại sống với nhau hạnh phúc, sinh được một đứa con trai, đặt tên là Chân Nhi. Giáng Kiều lại khuyên chồng nên bỏ cõi tục về cõi tiên, rồi trao bùa tiên, thuốc tiên để chàng tu luyện. Một hôm, sau khi dặn dò Chân Nhi ở lại cõi trần, hai vợ chồng cưỡi hạc bay về trời. Cốt truyện này đã được sáng tác thành truyện truyền kì chữ Hán có tên Bích Câu kì ngộ kí. Về tác giả truyện ngắn chữ Hán này cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận. Có người cho đây là tác phẩm của Đoàn Thị Điểm vì truyện được in trong tập Truyền kì tân phả của bà. Có người nói Bích Câu kì ngộ kí là tác phẩm của Đặng Trần Côn. Có sách cho đây là tác phẩm khuyết danh. Ngày nay người ta nghiêng về giả thiết cho rằng Bích Câu kì ngộ kí là tác phẩm của Đặng Trần Côn. Dù là của ai chăng nữa, đây cũng là một câu chuyện thần tiên mang màu sắc Đạo giáo lãng mạn, lấy bối cảnh là kinh kì hoa lệ. Tên đất, tên người, phong cảnh và cung cách sinh hoạt của kinh thành thời đó được thể hiện sắc nét trong tác phẩm, chẳng hạn: Bích Câu đạo quán (nay ở phố Cát Linh, bên cạnh Văn Miếu), đền Bạch Mã (nay thuộc phố hàng Buồm), chùa Ngọc Hồ hay còn gọi là chùa Tiên Tích (tục gọi chùa Bà Ngô, ở phố Nguyễn Khuyến), phố Cầu Đông (ở khoảng phố Hàng Chiếu), sông Tô Lịch, chợ Cửa Nam, v.v... Có khả năng Vũ Quốc Trân đã “diễn ca” (diễn Nôm) lại truyện ngắn chữ Hán đó. Bản diễn Nôm về cơ bản giữ lại cốt truyện, song cũng có những thay đổi nhất định cho phù hợp với tâm lí, tính cách nhà Nho chính thống của người diễn Nôm (Chẳng hạn, những chi tiết đậm màu “huê tình” trong nguyên tác bị lướt qua, kết thúc có hậu,...). Đặc sắc của tác phẩm là ở ngôn từ, thể thơ lục bát điêu luyện, trau chuốt, có hơi hướng chịu ảnh hưởng của Đoạn trường tân thanh (Nguyễn Du) và Hoa tiên (Nguyễn Huy Tự). Vì vậy, trong tác phẩm có những câu thơ lục bát rất hay viết về khung cảnh Thăng Long - Hà Nội “phồn hoa đô hội” xưa kia (mà nguyên bản Hán văn không có, hoặc rất mờ nhạt), chẳng hạn:

Thành tây có cảnh Bích Câu,

Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao.

Đua chen thu cúc, xuân đào,

Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông.

Xanh xanh dãy liễu, ngàn thông,

Cỏ lan lối mục, rêu phong dấu tiều.

Một vùng non nước quỳnh giao,

Phất phơ gió trúc, dặt dìu mưa hoa.

Hay:

Ngọc Hồ có đám chay tăng,

Nức nô cảnh Phật, tưng bừng hội xuân.

Dập dìu tài tử giai nhân,

Ngổn ngang mã tích xa trần thiếu ai...

Dĩ nhiên, những câu thơ như vậy vẫn chưa gột bỏ hết tính ước lệ, khuôn sáo của ngôn ngữ thi ca trung đại nhưng cái chất phong lưu, nền nã, tấp nập, sôi động của đất kinh kì thì có thể cảm nhận được phần nào. Viết được những câu như vậy có lẽ phải là người gắn bó thân thiết với Thăng Long, Hà Nội như Vũ Quốc Trân./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Trần Khánh Dư – danh tướng thủy binh
    Trần Khánh Dư người huyện Chí Linh (Hải Dương), chưa rõ năm sinh, mất năm 1339, dòng dõi tôn thất nên được phong tước Nhân Huệ vương. Khi quân Nguyên mới sang xâm lược nước ta, ông thường nhằm chỗ sơ hở đánh úp, Trần Thánh Tông khen là có chí lược, lập làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi vua). Khi đánh dẹp ở miền núi thắng lớn, được phong chức Phiêu kỵ đại tướng quân. Rồi từ tước hầu, do được vua yêu, thăng mãi lên Thượng vị hầu áo tía, giữ chức phán thủ. Sau vì tư thông với công chúa Thiên Thụy, con dâu của Trần Quốc Tuấn nên bị cách hết quan tước, tịch thu sản nghiệp, phải lui về ở Chí Linh làm nghề bán than.
(0) Bình luận
  • Xã Ô Diên (Hà Nội): Xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp Thành phố đối với Đền Chính Khí
    Sáng 23/2, Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ xã Ô Diên đã long trọng tổ chức lễ đón nhận Bằng xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp Thành phố đối với Đền Chính Khí. Tham dự buổi lễ có Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Phạm Hồng Hoàn; Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam xã Ô Diên Nguyễn Thị Bảy; Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch UBND xã Bùi Thị Thu Hằng.
  • Khai mạc Lễ hội truyền thống cụm Di tích Quốc gia đền Măng Sơn tri ân Tản Viên Sơn Thánh
    Sáng 23/2 (mùng 7 tháng Giêng năm Bính Ngọ 2026), Đảng ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Đoài Phương (TP. Hà Nội) long trọng tổ chức khai mạc Lễ hội truyền thống cụm Di tích Quốc gia đền Măng Sơn, đình Sơn Trung và đình Sơn Đông.
  • Thánh Gióng đánh giặc Ân và Hội Gióng
    Sự kiện Thánh Gióng đánh giặc Ân và Hội Gióng lâu nay vẫn là hai mảng đề tài đặt ra những câu hỏi không dễ giải đáp. Chẳng hạn, giặc Ân là có thật hay chỉ là truyền thuyết? Nguyên Viện trưởng Viện Khảo cổ học Hà Văn Tấn cho rằng việc phát hiện một loại nha chương bằng ngọc khuê/đá quý trong quá trình khai quật tại di chỉ văn hóa Phùng Nguyên ở Việt Nam (khoảng thế kỷ XV trước Công nguyên) giống hệt loại nha chương đã tìm được trong một số di chỉ có niên đại Ân - Thượng ở Trung Quốc cho thấy chắc chắn giặc Ân đến từ phương Bắc.
  • Xã Đa Phúc long trọng tổ chức Lễ hội truyền thống đền Bà
    Trong không khí linh thiêng, rộn ràng của mùa lễ hội đầu xuân Bính Ngọ 2026, ngày 20/2 (mùng 4 tháng Giêng năm Bính Ngọ) thôn Xuân Lai, xã Đa Phúc đã long trọng tổ chức Lễ hội truyền thống đền Bà.
  • Quần thể di tích Thổ Hà và Nhà ngục Kon Tum được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt
    Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 266/QĐ-TTg ngày 11/02/2026 xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt (đợt 19) đối với 2 di tích.
  • Tìm về dấu tích Giảng Võ trường ở Thăng Long xưa
    Trong suốt hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã anh dũng chống lại nhiều kẻ xâm lược để bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc. Để có được thành công như ngày hôm nay, việc đào tạo nhân tài là yếu tố quan trọng, gồm cả về văn và võ. Tuy nhiên, việc đào tạo nhân tài về võ rất ít được ghi chép và rất hạn chế thông tin. Các di tích đào tạo về võ ở Thăng Long như điện Giảng Võ, Giảng Võ trường được ghi nhận từ các thời Lý nhưng đến nay vẫn chưa rõ ràng. Giảng Võ hiện nay là một phường nằm ở phía Tây của Hoàng thành Thăng Long, trước đây khu vực này còn có tên là Thập Tam trại.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Có một xóm văn Thành Công - chuyện bây giờ mới kể
    Phải nói ngay để bạn đọc không phân vân về cách nói/ viết hay gọi thân mật “Xóm văn Thành Công”. Số là, người viết bài báo này từng có một giai đoạn dài (1983-2007) sống tại phòng 303, nhà E9, khu tập thể Thành Công, quận Ba Đình (cũ), Hà Nội. Khu tập thể này hình thành cuối những năm 70, đầu những năm 80 thế kỷ XX. Nó thuộc địa giới làng Thành Công cổ xưa, nơi có đình làng Thành Công - di tích lịch sử văn hóa cấp Thành phố. Chuyện “Xóm văn Thành Công” gắn với quy luật “đất lành chim đậu”.
  • Đồng chí Phạm Văn Đồng - Nhà lãnh đạo kiệt xuất, người học trò gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh
    Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phạm Văn Đồng (01/3/1906 - 01/3/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc những công lao, cống hiến to lớn của một nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam; người cộng sản kiên trung, mẫu mực, trọn đời tận hiến cho độc lập dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước.
  • Hà Nội đẩy mạnh tuyên truyền thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam
    Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Hướng dẫn số 23-HD/BTGDVTU ngày 16/02/2026 về tuyên truyền thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Hướng dẫn xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, hình thức và tổ chức thực hiện, nhằm tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng bộ và đồng thuận trong Nhân dân, đưa Nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, góp phần xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
  • Tây Hồ: Tôn vinh người cao tuổi, lan tỏa đạo lý “kính lão trọng thọ”
    Trong không khí phấn khởi, ấm áp của những ngày đầu Xuân Bính Ngọ 2026, Đảng ủy – HĐND – UBND – Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Tây Hồ đã trang trọng tổ chức Lễ chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi trên địa bàn.
  • Lãnh đạo xã Đa Phúc xuống ruộng cùng nông dân gieo cấy vụ Xuân năm 2026
    Ngày 23/02, (tức mùng 7 tháng Giêng năm Bính Ngọ), các đồng chí lãnh đạo Thường vụ Đảng ủy, HĐND, UBND xã Đa Phúc đã xuống ruộng thăm tiến độ gieo cấy vụ Xuân năm 2026.
Đừng bỏ lỡ
Vũ Quốc Trân – nhà giáo, nhà văn tài hoa
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO