Văn hóa – Di sản

Trần Anh Tông – hoàng đế, thi nhân một thời thịnh trị

Nguyễn Hữu Sơn • 01/11/2023 16:40

Trần Anh Tông (1276 - 1320), tên thật là Trần Thuyên, con trưởng vua Trần Nhân Tông và là vị vua thứ tư triều đại Trần. Ông lên ngôi năm 1293, khi đất nước đã trải qua ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông và bước vào thời kỳ củng cố, ổn định, phát triển. Trong 21 năm ở ngôi vua, ông biết tự tu dưỡng, lo sửa sang chính sự, coi trọng người hiền tài, mở mang việc học, quan tâm đời sống chúng dân, đối xử mềm dẻo với nhà Nguyên, giữ vững nền độc lập tự chủ, khiến cho văn hiến đất nước Đại Việt ngày một thịnh đạt. Ông chịu nhiều ảnh hưởng đạo Phật, gắn bó với giới tăng lữ, ham đọc kinh sách nhà Phật và tiếp tục cho xây dựng nhà chùa.

tran-anh-tong.jpeg
Ảnh phác họa vua Trần Anh Tông.

Dưới triều Trần Anh Tông, nhiều nhân vật trẻ tuổi nổi tiếng như Nguyễn Trung Ngạn, Mạc Đĩnh Chi, Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu... đều được trọng dùng, giúp cho đất nước ngày một hưng thịnh. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi rõ: “Vua đối với người tôn thất như Bảo Hưng thân yêu hết mực nhưng không trao cho việc chính sự, vì không có tài. Còn như Nhữ Hài chỉ là một nho sinh thôi, nhưng vì có tài nên không ngại trong việc ủy dụng nhanh chóng”... Năm Giáp Dần (1314), Trần Anh Tông nhường ngôi cho thái tử Mạnh, lui về làm Thượng hoàng. Sách Đại Việt sử ký toàn thư tóm tắt việc làm và nhân cách Trần Anh Tông:

“Thượng hoàng tính trời khiêm tốn, hòa nhã, hòa mục với người trong họ, mọi việc của triều đình đều tự mình quyết đoán. Khi thư rỗi trong muôn việc bận, Thượng hoàng để tâm tới việc trước thuật. Nhưng viết được gì, vẽ được gì, ngài đều đốt cả. Tập thơ ngự chế tên là Thủy vẫn tùy bút, trước khi mất, cũng đốt đi.

Hồi còn trẻ, thích uống rượu, Nhân Tông răn bảo chuyện đó, từ đấy không bao giờ uống nữa. Ngài từng ban tước hơi nhiều cho các quan trọng triều. Nhân Tông biết được, sai lấy sổ xem rồi ghi vào trong đó rằng: “Sao lại có một nước bé bằng bàn tay mà phong quan tước nhiều như thế”, từ đó lại càng thận trọng khi ban chức tước. Ngài không ngại sửa lỗi như vậy đó.

Quan nô là Hoàng Hộc và Thiên Kiện dùng mưa kế xảo trá, đánh lừa hình quan, người trong hương rốt cuộc phải chịu tội vu cáo. Thượng hoàng biết chuyện, bảo hình quan rằng: “Tên Hộc gian ngoan xảo quyệt đến thế mà ngục quan không biết suy xét tình lý. Tình ngay lý gian thì không được lấy lý bỏ tình. Phải suy xét cả tình và lý, tình lý không xung đột thì mới là giỏi xử án. Nếu biết tình không gian thì theo lý mà làm thì phải. Nếu tình quả là gian rồi thì lại phải suy xét xem lý ngay hay cong. Như vậy, điều gian dối sẽ tự khắc hiện ra, càng không nên tách rời tình lý làm hai mà xét”. Ngài sáng suốt, thận trọng về hình phạt lại như thế đấy.

Huy Tư được phong hoàng phi, khi theo hầu chưa được ngồi kiệu. Bảo Từ lấy kiệu mình vẫn đi ban cho bà thì ngài trách: “Bảo Từ có thương yêu Huy Tư thì cho thứ khác là phải, chứ cái kiệu ngồi thì còn điển chế cũ, không thể cho được!”.

Nguyễn Sĩ Cố, Chu Bộ là cận thần của thái tử. Đến khi thái tử lên ngôi, Cố và Bộ đều vì không có đức hạnh nên đều không được cất nhắc. Cố làm đến Thiên chương các Học sĩ, chức này thực đặt làm vì chứ không có quyền hành gì. Bộ thì chỉ coi mấy bộ cấm binh thôi. Khi thượng hoàng thân đi đánh Chiêm Thành, Bộ chết trận, Cố thì chết trên đường đi. Hai người này phục vụ thượng hoàng khó nhọc lâu ngày, nhưng vì tài không thể dùng được, nên đặt họ vào chức nhàn tản và đều cho bổng lộc, tước trật ưu hậu cả mà không trao cho thực quyền.

Nguyễn Quốc Phụ làm Nội thư chánh chưởng là cận thần của Nhân Tông. Khoảng năm Hưng Long (1293-1314) khuyết chức Hành khiển. Có lần thượng hoàng chầu Nhân Tông ở chùa Sùng Nghiêm, Nhân Tông bảo: “Quốc Phụ được đấy!”. Thượng hoàng thưa: “Nếu lấy ngôi thứ mà bàn thì Quốc Phụ được rồi, chỉ hiềm hắn nghiện rượu thôi!”. Nhân Tông im lặng rồi không dùng. Quốc Phụ cuối cùng vẫn giữ chức cũ cho đến khi chết. Ngài thận trọng đối với những chức vị quan trọng lại như thế đấy”...

Tác phẩm của Trần Anh Tông có tập Thủy vân tùy bút (Tùy bút nước mây) và bài Thạch dược châm (Bài châm về những lời can ngăn trung trực) nhưng chính ông đã sai đốt trước khi qua đời. Hiện chỉ còn 14 bài thơ chép trong các sách An Nam chí lược, Thánh đăng ngữ lục (Thế kỷ XIV), Trần triều thế phả hành trạng (Thế kỷ XIV - XV), Việt âm thi tập (1459), Đại Việt sử ký toàn thư (1479), Toàn Việt thi lục (1768)...

Căn cứ số lượng 13 bài còn lại có thể thấy mối quan tâm nổi bật của Trần Anh Tông là đề tài vịnh Bắc sử, chiếm tới 6 bài. Cả 6 bài thơ đều đề vịnh về các hoàng đế nổi tiếng Trung Hoa. Khác với nhiều thi nhân, Trần Anh Tông vừa có khen vừa có chê, đặc biệt chú ý nhấn mạnh những mặt khuất lấp trong nhân cách, tư tưởng và hành động của từng vị hoàng đế. Ngoại trừ sự biện minh cho Hán Cao Tổ (256? - 195 tr. CN) trong việc hại công thần, còn lại ông lên tiếng phê phán các vua Hán Văn Đế (202 - 107 tr. CN) phung phí tiền của cho kẻ lộng hành, chê Hán Quang Vũ (6 tr. CN - 57) làm chủ nhà Đông Hán mà không sử dụng được bậc hiền tài Nghiêm Quang, Đường Túc Tông (711 - 762) bị vợ và bề tôi khống chế nhưng rồi lại cướp ngôi cha, Tống Độ Tông (1242 - 1274) quá tin kẻ chuyên quyền... Ông phản biện, nhìn ra những mặt trái trong nhân cách các hoàng đế và cũng là một cách tự ý thức, tự cảnh tỉnh chính mình.

Trên tư cách hoàng đế, nhân việc Trần Thì Kiến được thăng chức Nhập nội hành khiển Hữu gián nghị đại phu (1298), Trần Anh Tông ban cho cái hốt kèm theo bài minh có bốn câu thơ để khuyến khích và khẳng định nhân cách kẻ bề tôi:

Thái Sơn trinh cao,

Tượng hốt trinh liệt.

Linh trãi tiến giác,

Vi hốt nan chiết.

(Thái Sơn rất cao,

Hốt ngà rất cứng.

Trãi thiêng dâng sừng,

Làm hốt khó gãy)

Trần Anh Tông còn làm thơ ngợi ca chiến thắng nhân việc đi đánh Chiêm Thành trở về vào khoảng giữa năm Nhâm Tý (1312), đậu thuyền ở cửa biển Phúc Thành (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Trong tâm trạng của người vừa hoàn thành công việc hệ trọng, ông nhấn mạnh niềm hứng khởi, thanh thản hòa cùng thế giới thiên nhiên và cuộc đời bình dị:

Cẩm lãm qui lai hệ lão dung,

Hiểu sương hoa trọng thấp vân bồng.

Sơn gia vũ cước thanh tùng nguyệt,

Ngư quốc triều đầu hồng liểu phong.

Vạn đội tinh kỳ quang hải tạng,

Ngũ canh tiêu cổ lạc thiên củng.

Thuyền song nhất chẩm giang hồ noãn,

Bất phục du chàng nhập mộng trung.

Dịch nghĩa:

Thuyền kéo bằng dây gấm trở về buộc dưới gốc đa già,

Sương sớm nặng hạt làm ướt đẫm mui thuyền.

Xóm núi dưới chân mưa, vầng trăng trên ngọn thông xanh,

Làng chài ở đầu ngọn thủy triều, gió lướt bãi răm đỏ.

Muôn đội cờ xí sáng rực mặt biển,

Năm canh tiếng kèn trống rơi từ trên cung trời xuống.

Gối đầu bên cửa sổ thuyền, lòng giang hồ ấm lại,

Bóng màn trướng không còn đi vào giấc mơ nữa.

Phạm Tú Châu dịch thơ:

Thuyền gấm đường về buộc gốc đa,

Sương mai nặng hạt ướt mui là.

Đầu thông xóm núi trăng vừa ló,

Răm đỏ làng chài gió đã qua.

Muôn đội cờ bay vùng biển rạng,

Năm canh kèn trống điện trời sa.

Bên song chợt ấm lòng sông biển,

Màn trưởng thôi vương giấc mộng hoa.

Trong quan hệ bang giao, Trần Anh Tông để lại bài thơ đề cao sự hòa hiếu với phương Bắc nhân việc tiễn sứ nhà Nguyên năm Mậu Thân (1308). Trong hai câu kết, ông nhấn mạnh vai trò sứ giả, trước sau cốt đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết:

Thái bình hữu tượng bằng quân ngữ,

Hỷ dật tân tân nhập sắc mi.

(Có cảnh thái bình nhờ ông nói giúp,

Niềm vui mừng của tôi tràn ngập sắc mặt nét mày)

Trên tư cách một thi nhân - thiền sư, Trần Anh Tông làm thơ đề vịnh vẻ đẹp chùa Đông Sơn (nay thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) và am Vân Tiêu (nay ở núi Tam Đảo, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc), nơi thờ cả Phật và đạo thần tiên. Đến am Vân Tiêu, ông hòa nhập trong cảnh giới thiên nhiên Phật, đắm mình trong vẻ đẹp vĩnh hằng của gió và trăng:

Đình đình bảo cái cao ma vân,

Kim tiêu cung khuyết vô phàm trần.

Tuyệt phong cánh hữu học phật giả,

Thanh phong minh nguyệt tương vi lần.

Thanh phong táp địa vô hưu yết,

Minh nguyệt đương không kiểu băng tuyết.

Thử phong thử nguyệt dữ thử nhân, Hợp thành thiên hạ tam kỳ tuyệt.

Dịch nghĩa:

Chiếc lọng báu sừng sững cao chạm từng mây,

Là cung khuyết Kim tiên không gợn chút bụi trần.

Trên đỉnh tột vời lại có người học đạo Phật,

Cùng kết bạn xóm giềng với gió mát trăng trong.

Gió mát thổi quanh mặt đất không lúc nào ngừng,

Trăng trong lơ lửng trên không sáng như băng tuyết.

Gió ấy, trăng ấy với người ấy, Họp thành ba thứ kỳ tuyệt trong thiên hạ.

Ngoài ra, Trần Anh Tông còn làm thơ gửi tặng sư Pháp Loa (1284-1330), vị tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử, trong đó bộc lộ sự thấm nhuần lẽ sắc không và khả năng đạt tới trạng thái tinh thần thanh tịnh, thuận theo đời sống tự nhiên. Bài thơ được chép trong sách Thánh đăng ngữ lục:

Huyễn khu tuy kiên bất túc ưu,

Khách vân tụ tán, thủy phù bào.

Ức lai Phật pháp nguy như lũ,

Độc đối hàn đăng lệ ám lưu.

Dịch nghĩa:

Tấm thân hư ảo dẫu vững chắc cũng chẳng đáng lo,

Như mây trôi khi hợp khi tan, như bọt nước nổi.

Nghĩ thấy đạo Phật mỏng manh như sợi tơ,

Một mình trước ngọn đèn lạnh, nước mắt thầm rơi.

Trần Lê Văn dịch thơ:

Đừng lo bền mãi thân hư ảo,

Mây hợp rồi tan, bọt nước trôi.

Phép Phật huyền vi bừng nhớ lại,

Đèn xanh một bóng lệ thầm rơi.

Với những điều được ghi trong sách Đại Việt sử ký toàn thư và sáng tác thơ văn còn lại, có thể thấy Trần Anh Tông là ông vua sáng suốt, một người nối nghiệp có bản lĩnh, ham học hỏi và biết rút ra những bài học trong việc trị nước an dân. Trên tư cách hoàng đế, ông có nhiều bài thơ vịnh sử phương Bắc, qua đó liên hệ, đúc rút kinh nghiệm cho chính mình. Trên tư cách người yêu chuộng đạo Phật, ông có quan hệ gắn bó với giới tăng lữ, làm thơ bày tỏ cảm quan Phật giáo và đề vịnh, hòa đồng với thiên nhiên Phật. Trên tư cách thi nhân, ông có được những tứ thơ thanh thoát, vừa giàu tính thời sự vừa gián cách với cõi đời, tạo nên tiếng thơ in đậm sắc thái tâm tình nhà nghệ sĩ, thi sĩ./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Cỗ gà lão làng Triều Đông
    Triều Đông là một trong năm làng của xã Tân Minh, huyện Thường Tín (nay thuộc xã Thượng Phúc, Thành phố Hà Nội), thờ ba vị thần Việt Hồng, Việt Tuấn và Việt Chân.
  • Huế khảo sát, định hướng phát huy giá trị các di sản và không gian văn hóa
    TP Huế khảo sát, định hướng kết nối giữa các điểm di tích, không gian văn hóa và cảnh quan sông nước để hình thành những sản phẩm văn hóa, du lịch đặc trưng và nâng cao chất lượng trải nghiệm của du khách.
  • Gìn giữ và phát huy giá trị Di sản văn hóa thế giới Hoàng Thành Thăng Long
    Điện Kính Thiên là cung điện quan trọng nhất nằm giữa trung tâm Cấm thành Thăng Long, nơi ngự trị của các Hoàng đế và là biểu tượng cho quyền lực tối cao của nước Đại Việt thời kỳ nhà Lê từ thế kỷ XV đến XVIII. Đây là nơi diễn ra các nghi thức quan trọng nhất của quốc gia như: lễ Đăng cơ (Hoàng đế lên ngôi), lễ Đại triều và lễ đón tiếp sứ thần các nước... Việc nghiên cứu phục dựng Chính điện Kính Thiên, góp phần phát huy giá trị di sản. Đây là một dấu mốc quan trọng trong hành trình bảo tồn và phát huy giá
  • “Thanh âm Gốm”- cách cảm nhận mới về di sản làng nghề
    Trong khuôn khổ Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026, tối 19/9, chương trình biểu diễn nghệ thuật “Thanh âm Gốm” diễn ra tại Làng gốm Bát Tràng đưa công chúng đến với một cách cảm nhận mới về di sản làng nghề, khi gốm không chỉ được nhìn ngắm qua hình dáng, màu men mà còn được lắng nghe qua âm thanh, chuyển động và nghệ thuật trình diễn đương đại.
  • Định vị Cổ Loa trong lịch sử khu vực và văn minh nhân loại
    Lưu giữ dấu tích của một kinh đô cổ cùng những truyền thuyết gắn với buổi đầu dựng nước, Cổ Loa đồng thời chứa đựng những giá trị có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một di sản quốc gia. Trên cơ sở nhận diện, làm rõ giá trị nổi bật toàn cầu, Hà Nội đang từng bước triển khai chuẩn bị hồ sơ đề cử Khu di tích Cổ Loa trình UNESCO xem xét ghi danh vào Danh mục Di sản thế giới, qua đó làm nổi bật vị thế của kinh đô Âu Lạc trong lịch sử Đông Nam Á và tiến trình hình thành các nền văn minh của nhân loại.
  • Đưa giá trị văn hóa khoa cử tái hiện vào thiết kế thời trang đương đại
    Tối 4/9, tại sân Thái Học, Văn Miếu - Quốc Tử Giám diễn ra Đêm Chung kết và Lễ trao giải Cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu - Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • 126 tác phẩm đoạt giải Cuộc thi Chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng năm 2026 trên địa bàn Thủ đô
    Sáng 13/10, Thành ủy Hà Nội đã tổ chức Lễ trao giải Cuộc thi Chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ sáu, năm 2026 trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
  • Hà Nội khơi thông “điểm nghẽn”, thúc đẩy công nghiệp văn hoá Thủ đô
    Cụ thể hóa Điều 27 Luật Thủ đô 2026, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã ban hành Nghị quyết quy định về phát triển kinh tế ban đêm trên địa bàn Thành phố (Nghị quyết số 34/2026/NQ-HĐND). Đây là văn bản pháp lý quan trọng, góp phần giải quyết các “điểm nghẽn” của phát triển kinh tế đêm, định hướng lại không gian phát triển, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng cường ứng dụng công nghệ và nâng cao hiệu quả quản trị đô thị ban đêm của Hà Nội trong thời kỳ mới.
  • Đánh thức tiềm năng văn hóa, di sản, đưa du lịch Hà Nội vươn tầm quốc tế
    Với bề dày lịch sử nghìn năm văn hiến, hệ thống di sản phong phú cùng sức sáng tạo của con người Thủ đô, Hà Nội có nhiều lợi thế để phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Chương trình số 20-CTr/TU ngày 9/10/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đặt ra những định hướng và mục tiêu cụ thể nhằm khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa, di sản, xây dựng sản phẩm đặc sắc, phát triển du lịch thông minh, xanh và bền vững, từng bước nâng cao vị thế du lịch Thủ đô trong khu vực và quốc tế.
  • Hành trình "tái sinh" những nụ cười không trọn vẹn
    Sảnh Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cuba rộn ràng từ sáng sớm. Hàng trăm gia đình miền núi phía Bắc mang theo những đứa trẻ chịu khiếm khuyết bẩm sinh vùng hàm mặt hội tụ về đây. Ánh mắt đau đớn, bàn tay nắm chặt của các bậc phụ huynh gửi gắm một khát vọng lớn lao: tìm lại diện mạo bình thường và tiếng nói tròn vành cho con em.
  • Doanh nghiệp du lịch Việt cần gì để cạnh tranh quốc tế?
    Theo PGS.TS. Phạm Trung Lương - nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, hiện là thành viên Tổ chuyên gia Tư vấn Quy hoạch Quốc gia, sức cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch không chỉ nằm ở quy mô vốn hay số lượng dự án. Khả năng mở thị trường, làm chủ mạng lưới phân phối và tạo ra sản phẩm mang dấu ấn riêng là những yếu tố giúp doanh nghiệp Việt tiến xa trên thị trường quốc tế.
Đừng bỏ lỡ
  • Phát vé miễn phí cho khán giả xem Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng 2026
    Từ 9h hôm nay ngày 13/10, Ban tổ chức Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng 2026 bắt đầu phát vé miễn phí phục vụ khán giả tại Rạp Đại Nam (số 89 phố Huế, phường Hai Bà Trưng, Hà Nội). Liên hoan diễn ra từ ngày 14 đến 23/10, quy tụ 15 đơn vị nghệ thuật với 15 tác phẩm, biểu diễn tại 10 địa điểm trên địa bàn Thủ đô.
  • Hà Nội kiểm kê hơn 2.000 di sản văn hóa phi vật thể
    Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Vũ Thu Hà vừa chính thức phê duyệt việc tổng kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn Thủ đô. Với 2.098 di sản thuộc 6 loại hình trải rộng khắp 126 xã, phường, đây được xem là bước đi quan trọng nhằm nhận diện, giữ gìn và khơi dậy sức sống cho kho tàng văn hóa dân gian phong phú của Hà Nội.
  • Cỗ gà lão làng Triều Đông
    Triều Đông là một trong năm làng của xã Tân Minh, huyện Thường Tín (nay thuộc xã Thượng Phúc, Thành phố Hà Nội), thờ ba vị thần Việt Hồng, Việt Tuấn và Việt Chân.
  • Lan tỏa tình yêu Hà Nội từ không gian âm nhạc cộng đồng
    Tối 11/10, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Không gian Âm nhạc cộng đồng – Điểm hẹn cuối tuần” do Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội tổ chức mang đến cho công chúng không gian âm nhạc giàu cảm xúc, nơi những giai điệu dân gian truyền thống hòa quyện cùng các ca khúc về Hà Nội, quê hương, đất nước.
  • Ra mắt tiểu thuyết “Xứ sở vô danh” của nhà văn người Pháp gốc Việt Đoan Bui
    Chiều ngày 11/10/2026, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức buổi giao lưu, ra mắt tiểu thuyết “Xứ sở vô danh” của nhà văn người Pháp gốc Việt Doan Bui, do dịch giả Thuận chuyển ngữ. Tác phẩm từng được đề cử Giải Femina (Prix Femina) - một giải thưởng văn chương danh giá của Pháp.
  • “Tán Đa Show #02”: Hà Nội tháng Mười ngân vang dưới tán cây trăm tuổi
    Tối 10/10, giữa không khí rộn ràng kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô, khoảng sân nhìn ra hồ Hoàn Kiếm của Báo Nhân Dân (71 Hàng Trống) đông kín người. Gần 2.000 khán giả đã đến với “Tán Đa Show #02”, nhiều gấp đôi so với đêm diễn đầu tiên. Trong hai giờ, từ 19h đến 21h, họ nghe nhạc, trò chuyện với nghệ sĩ và cùng nhau thưởng thức một buổi tối thu Hà Nội.
  • “Âm nhạc cuối tuần” nối dài điểm hẹn jazz bên hồ Gươm
    Chiều 11/10, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội) tiếp tục giới thiệu đến công chúng những sắc thái khác nhau của jazz, từ các tác phẩm kinh điển thế giới đến những ca khúc Việt Nam quen thuộc. Dưới sự dẫn dắt của NSƯT Quyền Văn Minh cùng các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club, buổi biểu diễn hứa hẹn mang đến một cuộc gặp gỡ âm nhạc gần gũi giữa lòng Hà Nội.
  • NSND Trung Hiếu: “Nhà hát Kịch Hà Nội tiến tới là điểm sáng về công nghiệp văn hóa Thủ đô”
    Trao đổi về chương trình “Thời khắc” vừa ra mắt tại Rạp Công Nhân (Hà Nội), NSND Trung Hiếu – Giám đốc Nhà hát Kịch Hà Nội cho biết: “Sau khi được sửa chữa, nâng cấp, Nhà hát Kịch Hà Nội sẽ diễn khoảng 500 suất mỗi năm. Chương trình Thời khắc là sự kiện mở đầu của Nhà hát Kịch Hà Nội, sau đó đơn vị sẽ thực hiện nhiều sự kiện khác, đưa Nhà hát Kịch Hà Nội (số 42 Tràng Tiền) thành một điểm sáng của văn hóa Hà Nội”.
  • “Nhịp sống mới" của Thủ đô được kể qua ống kính nhiếp ảnh
    Nhân dịp kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 – 10/10/2026), Hội Nhiếp ảnh nghệ thuật Hà Nội khai mạc Triển lãm Ảnh nghệ thuật Hà Nội lần thứ 56 năm 2026 tại Không gian vườn hoa Hàng Trống (số 42 phố Nhà Chung, Hà Nội).
  • “Hành trình di sản Phú Thượng” được kể bằng công nghệ
    Họa đồ số "Phú Thượng - Phú Gia, nếp làng trong phố" vừa được ra mắt tại đình Phú Gia, mở ra một cách kể chuyện mới về vùng đất và con người nơi đây. Công nghệ số được đặt vào vai người giữ lửa cho di sản, nhất là với thế hệ trẻ.
Trần Anh Tông – hoàng đế, thi nhân một thời thịnh trị
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO