Văn hóa – Di sản

Trần Anh Tông – hoàng đế, thi nhân một thời thịnh trị

Nguyễn Hữu Sơn 01/11/2023 16:40

Trần Anh Tông (1276 - 1320), tên thật là Trần Thuyên, con trưởng vua Trần Nhân Tông và là vị vua thứ tư triều đại Trần. Ông lên ngôi năm 1293, khi đất nước đã trải qua ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông và bước vào thời kỳ củng cố, ổn định, phát triển. Trong 21 năm ở ngôi vua, ông biết tự tu dưỡng, lo sửa sang chính sự, coi trọng người hiền tài, mở mang việc học, quan tâm đời sống chúng dân, đối xử mềm dẻo với nhà Nguyên, giữ vững nền độc lập tự chủ, khiến cho văn hiến đất nước Đại Việt ngày một thịnh đạt. Ông chịu nhiều ảnh hưởng đạo Phật, gắn bó với giới tăng lữ, ham đọc kinh sách nhà Phật và tiếp tục cho xây dựng nhà chùa.

tran-anh-tong.jpeg
Ảnh phác họa vua Trần Anh Tông.

Dưới triều Trần Anh Tông, nhiều nhân vật trẻ tuổi nổi tiếng như Nguyễn Trung Ngạn, Mạc Đĩnh Chi, Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu... đều được trọng dùng, giúp cho đất nước ngày một hưng thịnh. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi rõ: “Vua đối với người tôn thất như Bảo Hưng thân yêu hết mực nhưng không trao cho việc chính sự, vì không có tài. Còn như Nhữ Hài chỉ là một nho sinh thôi, nhưng vì có tài nên không ngại trong việc ủy dụng nhanh chóng”... Năm Giáp Dần (1314), Trần Anh Tông nhường ngôi cho thái tử Mạnh, lui về làm Thượng hoàng. Sách Đại Việt sử ký toàn thư tóm tắt việc làm và nhân cách Trần Anh Tông:

“Thượng hoàng tính trời khiêm tốn, hòa nhã, hòa mục với người trong họ, mọi việc của triều đình đều tự mình quyết đoán. Khi thư rỗi trong muôn việc bận, Thượng hoàng để tâm tới việc trước thuật. Nhưng viết được gì, vẽ được gì, ngài đều đốt cả. Tập thơ ngự chế tên là Thủy vẫn tùy bút, trước khi mất, cũng đốt đi.

Hồi còn trẻ, thích uống rượu, Nhân Tông răn bảo chuyện đó, từ đấy không bao giờ uống nữa. Ngài từng ban tước hơi nhiều cho các quan trọng triều. Nhân Tông biết được, sai lấy sổ xem rồi ghi vào trong đó rằng: “Sao lại có một nước bé bằng bàn tay mà phong quan tước nhiều như thế”, từ đó lại càng thận trọng khi ban chức tước. Ngài không ngại sửa lỗi như vậy đó.

Quan nô là Hoàng Hộc và Thiên Kiện dùng mưa kế xảo trá, đánh lừa hình quan, người trong hương rốt cuộc phải chịu tội vu cáo. Thượng hoàng biết chuyện, bảo hình quan rằng: “Tên Hộc gian ngoan xảo quyệt đến thế mà ngục quan không biết suy xét tình lý. Tình ngay lý gian thì không được lấy lý bỏ tình. Phải suy xét cả tình và lý, tình lý không xung đột thì mới là giỏi xử án. Nếu biết tình không gian thì theo lý mà làm thì phải. Nếu tình quả là gian rồi thì lại phải suy xét xem lý ngay hay cong. Như vậy, điều gian dối sẽ tự khắc hiện ra, càng không nên tách rời tình lý làm hai mà xét”. Ngài sáng suốt, thận trọng về hình phạt lại như thế đấy.

Huy Tư được phong hoàng phi, khi theo hầu chưa được ngồi kiệu. Bảo Từ lấy kiệu mình vẫn đi ban cho bà thì ngài trách: “Bảo Từ có thương yêu Huy Tư thì cho thứ khác là phải, chứ cái kiệu ngồi thì còn điển chế cũ, không thể cho được!”.

Nguyễn Sĩ Cố, Chu Bộ là cận thần của thái tử. Đến khi thái tử lên ngôi, Cố và Bộ đều vì không có đức hạnh nên đều không được cất nhắc. Cố làm đến Thiên chương các Học sĩ, chức này thực đặt làm vì chứ không có quyền hành gì. Bộ thì chỉ coi mấy bộ cấm binh thôi. Khi thượng hoàng thân đi đánh Chiêm Thành, Bộ chết trận, Cố thì chết trên đường đi. Hai người này phục vụ thượng hoàng khó nhọc lâu ngày, nhưng vì tài không thể dùng được, nên đặt họ vào chức nhàn tản và đều cho bổng lộc, tước trật ưu hậu cả mà không trao cho thực quyền.

Nguyễn Quốc Phụ làm Nội thư chánh chưởng là cận thần của Nhân Tông. Khoảng năm Hưng Long (1293-1314) khuyết chức Hành khiển. Có lần thượng hoàng chầu Nhân Tông ở chùa Sùng Nghiêm, Nhân Tông bảo: “Quốc Phụ được đấy!”. Thượng hoàng thưa: “Nếu lấy ngôi thứ mà bàn thì Quốc Phụ được rồi, chỉ hiềm hắn nghiện rượu thôi!”. Nhân Tông im lặng rồi không dùng. Quốc Phụ cuối cùng vẫn giữ chức cũ cho đến khi chết. Ngài thận trọng đối với những chức vị quan trọng lại như thế đấy”...

Tác phẩm của Trần Anh Tông có tập Thủy vân tùy bút (Tùy bút nước mây) và bài Thạch dược châm (Bài châm về những lời can ngăn trung trực) nhưng chính ông đã sai đốt trước khi qua đời. Hiện chỉ còn 14 bài thơ chép trong các sách An Nam chí lược, Thánh đăng ngữ lục (Thế kỷ XIV), Trần triều thế phả hành trạng (Thế kỷ XIV - XV), Việt âm thi tập (1459), Đại Việt sử ký toàn thư (1479), Toàn Việt thi lục (1768)...

Căn cứ số lượng 13 bài còn lại có thể thấy mối quan tâm nổi bật của Trần Anh Tông là đề tài vịnh Bắc sử, chiếm tới 6 bài. Cả 6 bài thơ đều đề vịnh về các hoàng đế nổi tiếng Trung Hoa. Khác với nhiều thi nhân, Trần Anh Tông vừa có khen vừa có chê, đặc biệt chú ý nhấn mạnh những mặt khuất lấp trong nhân cách, tư tưởng và hành động của từng vị hoàng đế. Ngoại trừ sự biện minh cho Hán Cao Tổ (256? - 195 tr. CN) trong việc hại công thần, còn lại ông lên tiếng phê phán các vua Hán Văn Đế (202 - 107 tr. CN) phung phí tiền của cho kẻ lộng hành, chê Hán Quang Vũ (6 tr. CN - 57) làm chủ nhà Đông Hán mà không sử dụng được bậc hiền tài Nghiêm Quang, Đường Túc Tông (711 - 762) bị vợ và bề tôi khống chế nhưng rồi lại cướp ngôi cha, Tống Độ Tông (1242 - 1274) quá tin kẻ chuyên quyền... Ông phản biện, nhìn ra những mặt trái trong nhân cách các hoàng đế và cũng là một cách tự ý thức, tự cảnh tỉnh chính mình.

Trên tư cách hoàng đế, nhân việc Trần Thì Kiến được thăng chức Nhập nội hành khiển Hữu gián nghị đại phu (1298), Trần Anh Tông ban cho cái hốt kèm theo bài minh có bốn câu thơ để khuyến khích và khẳng định nhân cách kẻ bề tôi:

Thái Sơn trinh cao,

Tượng hốt trinh liệt.

Linh trãi tiến giác,

Vi hốt nan chiết.

(Thái Sơn rất cao,

Hốt ngà rất cứng.

Trãi thiêng dâng sừng,

Làm hốt khó gãy)

Trần Anh Tông còn làm thơ ngợi ca chiến thắng nhân việc đi đánh Chiêm Thành trở về vào khoảng giữa năm Nhâm Tý (1312), đậu thuyền ở cửa biển Phúc Thành (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Trong tâm trạng của người vừa hoàn thành công việc hệ trọng, ông nhấn mạnh niềm hứng khởi, thanh thản hòa cùng thế giới thiên nhiên và cuộc đời bình dị:

Cẩm lãm qui lai hệ lão dung,

Hiểu sương hoa trọng thấp vân bồng.

Sơn gia vũ cước thanh tùng nguyệt,

Ngư quốc triều đầu hồng liểu phong.

Vạn đội tinh kỳ quang hải tạng,

Ngũ canh tiêu cổ lạc thiên củng.

Thuyền song nhất chẩm giang hồ noãn,

Bất phục du chàng nhập mộng trung.

Dịch nghĩa:

Thuyền kéo bằng dây gấm trở về buộc dưới gốc đa già,

Sương sớm nặng hạt làm ướt đẫm mui thuyền.

Xóm núi dưới chân mưa, vầng trăng trên ngọn thông xanh,

Làng chài ở đầu ngọn thủy triều, gió lướt bãi răm đỏ.

Muôn đội cờ xí sáng rực mặt biển,

Năm canh tiếng kèn trống rơi từ trên cung trời xuống.

Gối đầu bên cửa sổ thuyền, lòng giang hồ ấm lại,

Bóng màn trướng không còn đi vào giấc mơ nữa.

Phạm Tú Châu dịch thơ:

Thuyền gấm đường về buộc gốc đa,

Sương mai nặng hạt ướt mui là.

Đầu thông xóm núi trăng vừa ló,

Răm đỏ làng chài gió đã qua.

Muôn đội cờ bay vùng biển rạng,

Năm canh kèn trống điện trời sa.

Bên song chợt ấm lòng sông biển,

Màn trưởng thôi vương giấc mộng hoa.

Trong quan hệ bang giao, Trần Anh Tông để lại bài thơ đề cao sự hòa hiếu với phương Bắc nhân việc tiễn sứ nhà Nguyên năm Mậu Thân (1308). Trong hai câu kết, ông nhấn mạnh vai trò sứ giả, trước sau cốt đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết:

Thái bình hữu tượng bằng quân ngữ,

Hỷ dật tân tân nhập sắc mi.

(Có cảnh thái bình nhờ ông nói giúp,

Niềm vui mừng của tôi tràn ngập sắc mặt nét mày)

Trên tư cách một thi nhân - thiền sư, Trần Anh Tông làm thơ đề vịnh vẻ đẹp chùa Đông Sơn (nay thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) và am Vân Tiêu (nay ở núi Tam Đảo, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc), nơi thờ cả Phật và đạo thần tiên. Đến am Vân Tiêu, ông hòa nhập trong cảnh giới thiên nhiên Phật, đắm mình trong vẻ đẹp vĩnh hằng của gió và trăng:

Đình đình bảo cái cao ma vân,

Kim tiêu cung khuyết vô phàm trần.

Tuyệt phong cánh hữu học phật giả,

Thanh phong minh nguyệt tương vi lần.

Thanh phong táp địa vô hưu yết,

Minh nguyệt đương không kiểu băng tuyết.

Thử phong thử nguyệt dữ thử nhân, Hợp thành thiên hạ tam kỳ tuyệt.

Dịch nghĩa:

Chiếc lọng báu sừng sững cao chạm từng mây,

Là cung khuyết Kim tiên không gợn chút bụi trần.

Trên đỉnh tột vời lại có người học đạo Phật,

Cùng kết bạn xóm giềng với gió mát trăng trong.

Gió mát thổi quanh mặt đất không lúc nào ngừng,

Trăng trong lơ lửng trên không sáng như băng tuyết.

Gió ấy, trăng ấy với người ấy, Họp thành ba thứ kỳ tuyệt trong thiên hạ.

Ngoài ra, Trần Anh Tông còn làm thơ gửi tặng sư Pháp Loa (1284-1330), vị tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử, trong đó bộc lộ sự thấm nhuần lẽ sắc không và khả năng đạt tới trạng thái tinh thần thanh tịnh, thuận theo đời sống tự nhiên. Bài thơ được chép trong sách Thánh đăng ngữ lục:

Huyễn khu tuy kiên bất túc ưu,

Khách vân tụ tán, thủy phù bào.

Ức lai Phật pháp nguy như lũ,

Độc đối hàn đăng lệ ám lưu.

Dịch nghĩa:

Tấm thân hư ảo dẫu vững chắc cũng chẳng đáng lo,

Như mây trôi khi hợp khi tan, như bọt nước nổi.

Nghĩ thấy đạo Phật mỏng manh như sợi tơ,

Một mình trước ngọn đèn lạnh, nước mắt thầm rơi.

Trần Lê Văn dịch thơ:

Đừng lo bền mãi thân hư ảo,

Mây hợp rồi tan, bọt nước trôi.

Phép Phật huyền vi bừng nhớ lại,

Đèn xanh một bóng lệ thầm rơi.

Với những điều được ghi trong sách Đại Việt sử ký toàn thư và sáng tác thơ văn còn lại, có thể thấy Trần Anh Tông là ông vua sáng suốt, một người nối nghiệp có bản lĩnh, ham học hỏi và biết rút ra những bài học trong việc trị nước an dân. Trên tư cách hoàng đế, ông có nhiều bài thơ vịnh sử phương Bắc, qua đó liên hệ, đúc rút kinh nghiệm cho chính mình. Trên tư cách người yêu chuộng đạo Phật, ông có quan hệ gắn bó với giới tăng lữ, làm thơ bày tỏ cảm quan Phật giáo và đề vịnh, hòa đồng với thiên nhiên Phật. Trên tư cách thi nhân, ông có được những tứ thơ thanh thoát, vừa giàu tính thời sự vừa gián cách với cõi đời, tạo nên tiếng thơ in đậm sắc thái tâm tình nhà nghệ sĩ, thi sĩ./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
  • Bánh cuốn Thanh Trì (phường Vĩnh Hưng - TP Hà Nội: Hương vị mộc mạc lưu giữ ký ức Hà thành
    Giữa sự thay đổi không ngừng của văn hoá ẩm thực Hà Nội, bánh cuốn Thanh Trì vẫn giữ được dấu ấn riêng bằng hương vị giản dị và kỹ thuật chế biến thủ công đặc trưng. Từ những gánh hàng rong xưa đến những cơ sở sản xuất ngày nay, món ăn làm từ hạt gạo quê này không chỉ phản ánh nét tinh tế trong văn hóa ẩm thực Thủ đô mà còn lưu giữ câu chuyện về một nghề truyền thống đã được duy trì qua nhiều thế hệ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Chương trình “Khúc quân hành” 2026: Hành trình "một thập kỷ" nghĩa tình tri ân
    Sáng 18/7, đoàn công tác Chương trình "Khúc quân hành” lần thứ X - năm 2026 do Tạp chí Người Hà Nội tổ chức nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026) đã đến viếng, dâng hoa, dâng hương tri ân các anh hùng, liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Đông Khê (Cao Bằng). Mở đầu chuỗi hoạt động, tại xã Đông Khê đoàn đã trao 150 suất quà tặng các thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Phía sau bước chân người lên đường
    Sinh trưởng ở xứ Đoài mây trắng, từng làm việc ở Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây, (nay là Hà Nội), Phan Quế - hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội đến với thơ từ buổi đầu sáng tác và ông cũng được bạn đọc biết đến khá sớm. Tuy nhiều năm qua Phan Quế dành thời gian và tâm sức nhiều cho tiểu thuyết, nhưng thơ đối với ông vẫn là nỗi niềm canh cánh trong lòng.
  • [Podcast] Tản văn: Nơi gió được sinh ra
    Gió không về với nhân gian mà dạo chơi nữa. Trưa, nắng gắt gao nở một nụ cười bí hiểm. Yên gió, hàng cây đứng lặng ngả bóng vào nhau. Lá rơm rớm giọt sầu gục xuống. Phố thấp thoáng những bóng người chạy trốn, bịt kín khuôn mặt. Từng luồng bụi vẫn bay lơ lửng trên không trung, biến hình mờ ảo bám vào nóc nhà, khe cửa, vấn vít hàng quán, vỉa hè, lối người qua lại. Tôi chạy vội về với cánh đồng trong cơn mơ, gió yên lặng ngả xuống vai mình.
  • Hà Nội chú trọng quan tâm chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi
    Sáng 19/7, tại trụ sở phường Tây Hồ (Hà Nội), Hội Người cao tuổi (NCT) phường Tây Hồ phối hợp với Công ty Cổ phần Ao Vua tổ chức tọa đàm chia sẻ kiến thức chăm sóc sức khỏe dành cho người cao tuổi. Chương trình thu hút sự tham gia của hơn 200 hội viên người cao tuổi cùng nhiều đại biểu Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam, góp phần lan tỏa thông điệp sống khỏe, sống vui, sống hạnh phúc và chủ động chăm sóc sức khỏe trong cộng đồng.
  • Khởi động Vietnam AI Innovation Challenge 2026
    Từ 17 đến 19/7/2026, Vòng chung kết Chương trình Vietnam AI Innovation Challenge 2026 (VAIC 2026) diễn ra tại Hà Nội. Là giải đấu Hackathon định hướng phát triển ứng dụng AI cốt lõi (AI-native) quy mô lớn, kéo dài trong 48 giờ liên tục.
Đừng bỏ lỡ
  • Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam
    Các nhà khoa học, chuyên gia và nhà quản lý... trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm cùng các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại TP Huế.
  • Hà Nội hỗ trợ mức cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể
    Theo nghị quyết mới được thông qua, phạm vi và đối tượng áp dụng được điều chỉnh hướng tới các chủ thể di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố, bao gồm Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, các câu lạc bộ, nhóm thực hành, nghệ nhân và người thực hành di sản. Đáng chú ý, Hà Nội quyết định giữ nguyên mức hỗ trợ rất cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể.
  • Đánh thức bảo tàng bằng ứng dụng nghệ thuật liên ngành
    Hệ thống bảo tàng đang đứng trước những yêu cầu thay đổi theo hướng đa dạng, linh hoạt và hấp dẫn hơn trong cách tổ chức trưng bày nhằm thu hút du khách. Theo đó, bên cạnh các tư liệu, hiện vật, sự kết hợp giữa công nghệ, nghệ thuật sắp đặt và các yếu tố liên ngành đóng vai trò quan trọng, mang đến cho khách tham quan một hành trình thấu hiểu quá khứ theo nhiều cách khác nhau.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Quy định mới của Hà Nội về phân bổ nguồn vốn cho văn hóa và tỷ lệ đối ứng cấp xã
    Nguồn vốn hỗ trợ cấp xã được xác định minh bạch theo thang điểm về dân số, diện tích, mức trợ cấp và số lượng di tích lịch sử. Song song đó, các địa phương nhận hỗ trợ phải bố trí vốn đối ứng tối thiểu từ 10% đến 20% tùy điều kiện ngân sách thực tế nhằm nâng cao tính tự chủ của cơ sở trong việc phát triển toàn diện văn hóa Thủ đô.
  • Cải lương đến gần công chúng qua sân khấu mở giữa lòng Thủ đô
    Tối 19/7, tại sân khấu Nhà Bát Giác (phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội), chương trình "Biểu diễn nghệ thuật cộng đồng" của Nhà hát Cải lương Hà Nội đã thu hút đông đảo người dân và du khách. Đặc biệt, trích đoạn cải lương Kẻ sỹ Thăng Long trở thành điểm nhấn, góp phần đưa nghệ thuật truyền thống đến gần hơn với công chúng trong không gian văn hóa mở của Thủ đô.
  • Những giai điệu nuôi dưỡng một Thủ đô hạnh phúc
    Giá trị của một đô thị hiện đại không chỉ được nhận diện qua diện mạo đổi thay hay nhịp phát triển kinh tế, mà còn được đo bằng chất lượng đời sống tinh thần của người dân. Khi nghệ thuật hiện diện trong những không gian mở, trở thành một phần của sinh hoạt thường nhật, văn hóa dần thấm sâu vào cộng đồng bằng những cách tự nhiên nhất.
  • Quảng bá di sản văn hóa, du lịch, ẩm thực và làng nghề Huế tại Hàn Quốc
    Trong khuôn khổ tham dự Kỳ họp lần thứ 48 của Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO, đoàn công tác của TP Huế triển khai chuỗi hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch, ẩm thực và làng nghề tại Hàn Quốc.
  • Uỷ ban MTTQ Việt Nam TP Hà Nội: Phát động đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng dịp 27/7
    Chiều 17/7, Ủy ban MTTQ Việt Nam Thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị triển khai các hoạt động tuyên truyền, kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), đồng thời phát động đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng với chủ đề "Uống nước nhớ nguồn - Đền ơn đáp nghĩa".
  • Hà Nội trong tôi những ngày tháng 6
    Tôi trở lại “thăm” Hà Nội vào những ngày giữa tháng 6. Cũng hơn một năm rồi tôi mới có dịp ghé thăm “cố nhân” của mình. Tôi coi Hà Nội như người bạn cũ, bạn tri âm tri kỷ. Bởi vậy, đêm trước khi lên xe xuôi về trái tim của dải đất cong cong hình chữ S xinh đẹp lòng tôi có chút bồi hồi cộng thêm sự háo hức. Lần nào cũng vậy cái cảm xúc ấy vẫn vẹn nguyên như thủa ban đầu đôi khi chẳng gọi được thành tên. Chỉ biết rằng sớm mai thôi tôi và “bạn” sẽ gặp lại với bao điều muốn nói,…
Trần Anh Tông – hoàng đế, thi nhân một thời thịnh trị
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO