Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Sơn Đồng - Nơi thổi hồn vào gỗ

Đào Thị Thu Hiền 26/09/2023 15:08

Xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức nằm ở ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thủ đô khoảng chừng gần hai chục cây số về phía Tây, không chỉ nổi tiếng là đất khoa bảng mà còn được nhiều người trong và ngoài nước biết đến là một làng nghề làm đồ thờ và tượng gỗ, đặc biệt là tượng phật, tượng thánh.

1.-tam-quan-dinh-lang-son-dong-noi-tho-to-nghe-lam-tuong.jpg
Tam quan đình làng Sơn Đồng - Nơi thờ tổ nghề làm tượng.

Phải nói rằng, với óc thẩm mỹ tinh tế và đôi bàn tay đặc biệt tài hoa, những người thợ làng Sơn Đồng đã cho ra đời nhiều tác phẩm nghệ thuật rất đẹp, có thể nói là đạt đến đỉnh cao hiếm thấy nơi nào sánh được, như thể tượng Phật bà nghìn tay, nghìn mắt; tượng ông Thiện, ông Ác; tượng Tam Thế Phật; tượng phật A Di Đà; tượng phật Thích Ca Mâu Ni; tượng phật Di Lặc; tượng phật Địa Tạng Vương; tượng phật Tuyết Sơn; tượng phật Văn Thù - Phổ Hiền, tượng phật thập bát La Hán, tượng phật Mẫu Chuẩn Đề... Và bây giờ đi đến nhiều nơi trong nước; thậm chí ra nước ngoài, châu Á và châu Âu người ta đều trông thấy rất nhiều những pho tượng quý được bày trong các đình, đền, chùa, miếu, phủ do đôi bàn tay khéo léo của những người thợ Sơn Đồng tạo thành.

Đặt chân đến Sơn Đồng chúng ta như được bước vào thiên đường của thế giới chạm khắc đồ thờ, tượng phật, tượng thánh. Ở đây hầu như cả làng làm tượng, trên là trời dưới là tượng, nhất là tượng phật; có những pho tượng đang trong quá trình tạo tác ở trong xưởng, ngoài sân, có khi cả ngay bên lề đường; có những pho tượng đã được hoàn thiện đẹp đẽ tựa như “mặt hoa da phấn, mắt phượng mày ngài, cổ kiêu ba ngấn, miệng cười trăm hoa” (tượng Mẫu) hoặc “mặt sắt mày gươm, binh quyền muôn dặm” (tượng võ tướng) bày đặt trong những gian hàng ở khắp làng. Và rồi, theo vòng quay của thời gian, hết đêm lại tới ngày, dường như từ sáng đến tối, ở Sơn Đồng chỗ nào cũng vang lên những tiếng lách cách đục tượng; khắp nơi nhìn đâu cũng thấy cảnh mài tượng, sơn son thiếp vàng. Cứ thế, âm thầm và lặng lẽ, người thợ tài hoa Sơn Đồng đã tạc hàng trăm, hàng ngàn pho tượng có giá trị dâng lên cho biết bao đền, chùa, miếu, phủ trên khắp mọi miền đất nước từ suốt bao đời đến tận ngày nay.

2.-nghe-nhan-uu-tu-nguyen-viet-thanh-truc-tiep-truyen-nghe-cho-cac-lop-tho-sau.jpg
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Viết Thạnh trực tiếp truyền nghề cho các lớp thợ sau.

Tương truyền nghề làm tượng ở Sơn Đồng xuất hiện từ khá sớm. Từ bao giờ thì hẳn chẳng ai còn nhớ được một cách chính xác nhưng tên làng từ lâu đã gắn liền với tên nghề ở nơi đây. Theo truyền miệng và các ghi chép trong ngọc phả từ năm 976 còn lưu lại ở Đền Thượng của làng thì tổ nghề là Đức thánh Đào Trực. Đức thánh từng là Thượng tướng quân tiên phong của triều đình Đại Cồ Việt trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược. Sau khi chém được tên tướng Hầu Nhân Bảo và dẹp xong giặc phương Bắc ông đã đến Sơn Đồng mở trường dạy học và hướng dẫn mọi người trong làng nghề tạc tượng để mưu lợi cho dân. Với công lao này hậu thế giờ đây đã vinh danh ông làm tổ nghề của mình bằng một tên đường mới: Đường Đào Trực, đoạn đường từ ngã ba giao cắt đường Nguyễn Viết Thứ tại thôn Gạch đến ngã ba giao cắt đường liên xã Sơn Đồng - Yên Sở tại trường tiểu học. Trải qua quá trình hơn ngàn năm như thế đến nay đủ thấy nghề làm tượng ở Sơn Đồng đã trường tồn và song hành cùng sự phát triển của đạo phật cũng như đời sống tâm linh trong tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam. Người ta truyền rằng, kể từ khi Lý Công Uẩn rời đô từ Hoa Lư ra đất Đại La và đổi tên thành Thăng Long, đi qua hơn nghìn năm gắn với biết bao thăng trầm của thời thế cho đến bây giờ, nghệ nhân các đời ở Sơn Đồng đã sớm có mặt trong suốt trường kỳ lịch sử ấy để đóng góp không ít công sức xây dựng các đình đền, chùa, miếu… ở các kinh thành khi thì Thăng Long lúc lại ở Huế và rất nhiều nơi khác trên khắp mọi miền đất nước. Hẳn là những dấu tích ấy vẫn còn được nhắc đến và lưu dấu ở không ít các đình, đền, miếu, phủ, chùa chiền ở khắp nơi: Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Hà Nam, Thanh Hóa, Huế, thành phố Hồ Chí Minh và rất nhiều nơi khác; tỉ như đền Ngọc Sơn, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, chùa Một Cột, Kinh thành Huế hay đền thờ Bác Hồ ở Cô Tô, chùa ở Vân Đồn… Như thế thì bảo sao người Sơn Đồng không khỏi tự hào. Cứ thế, lặng lẽ chứ không ồn ào, truyền nhân các đời của làng nghề Sơn Đồng đã sáng tạo nên không ít các di sản văn hóa; đóng góp sức mình vào việc khôi phục và phát triển không ít những công trình văn hóa của thủ đô và đất nước, tô điểm những nét son tươi đẹp cho thành phố vì hòa bình; thủ đô ngàn năm văn hiến.

Đến Sơn Đồng chúng ta sẽ được nghe giới thiệu và hẳn sẽ nhận ra những nghệ nhân ở đây làm tượng theo những bí truyền của cha ông để lại. Người ta bảo đi khắp nơi, trong nước và ngoài nước, đến bất kỳ chỗ nào có tượng phật, tượng thánh, nếu là tượng của người Sơn Đồng thì chỉ cần nhác qua là nhận ngay ra. Nói như vậy, không có nghĩa là tất cả các tượng ở Sơn Đồng đều giống nhau. Những người thợ ở Sơn Đồng làm tượng chỉ giống nhau trên những nét nguyên lý chung của tổ nghề để lại. Bởi thế, mỗi pho tượng ở đây là một công trình sáng tạo nghệ thuật rất công phu và đầy sức hấp dẫn, làm theo những thủ pháp riêng được đúc kết qua thời gian của mỗi gia đình, mỗi hiệp thợ, mỗi nghệ nhân cho nên thế giới tượng ấy thống nhất theo khuôn mẫu nhưng có những nét riêng, rất phong phú và vô cùng tinh xảo; mỗi pho một vẻ, thâm trầm uy nghiêm cũng có mà tươi tắn rực rỡ sắc màu cũng có. Những pho tượng ấy nhìn trang nghiêm mà rất phúc hậu, mang dáng vóc Việt vừa thể hiện được những sắc màu tâm linh vừa mang dáng dấp trang nghiêm cổ kính, dễ dàng cho người xem thấy được cái đậm đà của hồn quê.

3.-nghe-nhan-uu-tu-nguyen-viet-thanh-va-cac-pho-tuong-dang-hoan-thien.jpg
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Viết Thạnh và các pho tượng đang hoàn thiện.

Tượng ở Sơn Đồng được làm từ các loại gỗ hương, gỗ mít, gỗ vàng tâm, gỗ dổi; trong đó chủ yếu là gỗ mít. Gỗ mít theo quan niệm trong dân gian là loại gỗ “thiêng”, rất thích hợp cho việc làm các loại đồ thờ cúng. Ngoài ra loại gỗ này có đặc điểm màu vàng tươi, độ bền rất cao, dẻo, mềm, thớ dặm, ít bị nứt, dễ gọt. Thường thì người ta mua gỗ mít từ Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Thọ, Thái Nguyên… trở về Sơn Đồng để làm tượng. Theo kinh nghiệm nếu làm tượng được làm bằng gỗ mít vườn nhà sẽ thích hơn mít rừng nhưng gỗ mít ở vườn nhà rất hiếm; khó mua, thân gỗ lại nhỏ, số lượng ít. Bởi thế gỗ mít ở rừng, ở đồi vẫn là nguyên liệu chủ yếu. Khi gỗ mít mang về người thợ sẽ tiến hành loại bỏ hết phần giác, chỉ dùng phần lõi để làm tượng. Cẩn thận, trước khi làm tượng, có người còn làm lễ trì chú cho gỗ để được hanh thông và linh thiêng.

Khi làm tượng, các nghệ nhân ở Sơn Đồng sử dụng công thức chung của tổ truyền. Đó là cách tính số đo, gọi là diện. Diện là khuôn mặt, được tính từ chân tóc tới cằm (bằng một đầu). Ví như, một pho tượng phật bà Quan âm ngồi thường là bốn diện, nhưng cũng có khi chỉ có ba diện rưỡi hoặc bốn diện rưỡi; tượng đứng thường làm khoảng bảy diện. Chẳng hạn tỉ lệ phân chia ở pho tượng đứng sẽ được tính: từ chân tóc tới cằm là một diện; từ cằm tới rốn là ba diện; từ rốn tới gót chân là ba diện, tổng là bảy diện. Ngoài tỷ lệ về chiều cao của thân tượng, người thợ Sơn Đồng còn tuân thủ theo một số công thức về vai, tay, thân. Cụ thể: vai tượng rộng từ hai đến bốn diện; tay dài khoảng ba diện; thân dày khoảng từ một diện rưỡi đến hai diện. Công thức này cũng có thể điều chỉnh tùy theo làm tượng béo hay tượng gầy, tượng nam hay tượng nữ. Chẳng hạn, tượng nam vai rộng hơn tượng nữ; tượng béo thì thân có độ dày hơn tượng gầy. Đôi khi tỷ lệ này cũng có một số dung sai do những cảm xúc thẩm mỹ của nghệ nhân trong quá trình tạo tác đem lại.

Trong quá trình tạo tác tượng phật, người thợ Sơn Đồng thường hay sử dụng một thước dây và một thước tầm để làm dụng cụ đo đạc. Bắt đầu từ bản mẫu hoặc tùy theo ý định của người thợ và kích thước của khối gỗ người ta đo thể tích để cắt gỗ: chiều cao, chiều ngang và bề dày (kích thước của một khối hình) sau đó cắt “dưỡng” - hình mẫu cắt theo “công tua” hai chiều: chiều nghiêng (nhìn mặt bên tượng) và chiều đứng (nhìn chính diện). Rồi áp từng dưỡng lên khối gỗ, cắt bỏ phần thừa – tạo ra một hình khối đại thể giống như mảnh ni lông hoặc mảnh vải trùm lên pho tượng. Khi làm thì phần đầu, mặt tượng bao giờ cũng được gia công trước tiên. Người thợ tiến hành đục phác thảo những khối mũ (nếu có) rồi đến trán, mũi, môi, tai... Các nghệ nhân ở Sơn Đồng thường phân đôi khối đầu, lấy đường vạch thẳng bổ giữa sống mũi, rồi đục một bên mặt trước; sau đó lấy sống mũi làm trục đối xứng, đục nốt nửa phần còn lại và đối chiếu với các chi tiết bên kia sao cho thật cân xứng. Trên khuôn mặt, các nghệ nhân cũng phân chia từng mảng một cách rất cụ thể. Đó là khoảng cách giữa các bộ phận: hai con mắt, chân tóc tới chân mày, chiều dài sống mũi, bề rộng cánh mũi, giữa môi trên và môi dưới, từ môi dưới tới cằm; độ dày của môi, tai… Trong đó họ rất chú ý thể hiện đôi tai của pho tượng. Tai phật thường to và chảy, đặt cân đối trong khoảng cách từ chân tóc ở hai bên đầu tới cằm, có khi nghệ nhân cho tai dài chạm vai. Ví dụ, tạc pho thượng A Di Đà, khi xong phần diện, họ lấy diện làm chuẩn, bắt đầu tính khoảng cách từ cằm tới tay, từ cằm tới khuỷu tay, từ dái tai tới vai, độ cong của lưng, bề rộng của hai vai, chiều cao của cổ... Sau đó đục dần từ cổ, vai xuống. Ở tượng A Di Đà bề rộng của hai đầu gối (ngồi xếp bằng tròn) thường bằng sáu mươi cm (mẫu tượng to bằng người thật). Nếu khối gỗ không đủ đáp ứng thì người thợ phải chắp gỗ từ khi cắt dưỡng để đảm bảo kích thước.

Sau tính toán tỉ lệ xong nghệ nhân làm tược bắt đầu tạc tượng. Đầu tiên là đục phá để phác lấy dáng chung (tạo dáng thô) suốt từ mặt tới bệ. Tạo dáng thô xong người thợ mới tiến hành tạo dáng chi tiết. Khi đó người làm tượng mới thể hiện dần từng bộ phận của pho tượng. Khâu này được coi là quan trọng nhất trong cả quá trình hoàn thành pho tượng. Trong khi đục người thợ vẫn phải chú ý phân chia các mảng khối, các khoảng cách để đảm bảo các tỷ lệ sao cho pho tượng nhìn phải cân xứng. Sau khi làm xong phần đục chi tiết, người thợ tiến hành gọt, nạo rồi dùng giấy ráp đánh cho nhẵn. Trong khi gọt người thợ dùng thường dùng loại đục dẹt, mỏng để tách các chi tiết sao cho các mảng các khối (chân tay và các ngón) không dính vào nhau, đồng thời thể hiện kỹ các đường lượn, các mảng miếng; chỗ nào cần nổi rõ thì làm bật ra, chỗ nào cầm chìm xuống thì phải dìm đi. Gọt, nạo tượng xong là hoàn chỉnh phần gỗ. Phần gỗ làm xong thì chuyển sang phần sơn.

4.-gian-hang-trung-bay-tuong-phat-cua-nghe-nhan-uu-tu-nguyen-viet-thanh-son-dong-hoai-duc-.jpg
Gian hàng trưng bày tượng phật của Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Viết Thạnh (Sơn Đồng - Hoài Đức).

Bình thường của nghề mộc thì gỗ trước khi làm phải phơi khô. Nhưng làm tượng thì không cần vậy vì sẽ rất mất công và gỗ khô cũng sẽ khó đục hơn hơn gỗ tươi. Bởi thế người thợ thường hay làm tượng khi gỗ còn tươi và sau khi đục xong mới làm cho tượng khô rồi mới tiến hành sơn. Trước khi đem sơn, nếu tượng có hiện tượng bị nứt, nẻ người thợ phải dùng dùng sơn ta trộn mùn cưa bả vào những chỗ bị khuyết tật, sau đó để khô rồi nạo cho nhẵn, từ chuyên môn gọi khâu này là “kẹt”. Kẹt xong mới tiến hành sơn. Kỹ thuật sơn son thếp vàng tượng ở Sơn Đồng cũng rất kỳ công, cầu kỳ như nghệ thuật làm vóc sơn mài. Công đoạn sơn cũng là một khâu quan trọng quyết định yếu tố thẩm mỹ của một pho tượng. Quy trình sơn tượng của người thợ Sơn Đồng phải trải qua ba bước: hom, cầm, thiếp. Hom là công đoạn đầu tiên của sơn. Người Sơn Đồng lấy sơn ta trộn với đất phù sa, tỷ lệ sao cho không được non sơn và cũng không được già sơn, rồi “bó” tượng bằng sơn sống, sau đó sơn “thí”. Sau mỗi công đoạn người ta phải mài tượng bằng đá và nước. Sơn lên rồi lại mài đi. Mài xong lại sơn tiếp ... Cứ làm như thế rất nhiều lần cho đến bao giờ thấy bề mặt tượng phẳng nhẵn và mọng lên. Sau đó lại dùng một lớp sơn khác phủ lên (gọi là sơn cầm thếp). Để sơn cầm thếp se (sờ tay thấy còn hơi dính) thì bắt đầu dán quỳ bạc hoặc quỳ vàng để hoàn thành tượng.

Để có lá quỳ bằng bạc hoặc bằng vàng dát lên pho tượng, người thợ phải dùng giấy dó, quét lên một loại mực làm từ nhựa thông, mùn cưa, hồ và keo da trâu. Rồi nấu vàng hoặc bạc chảy thành nước rồi đổ ra khuôn, tráng thành từng miếng mỏng. Tráng xong cắt từng miếng vuông khoảng một cm2 và xếp lên những mảnh giấy quỳ đã cắt vuông khoảng bốn cm2. Tiếp đến người thợ làm quỳ dùng vải mịn bọc chặt chồng giấy quỳ và vàng hoặc bạc để cố định vị trí; miếng vàng hoặc bạc được bọc vải, để lên phiến đá và dùng búa giã khoảng bốn mươi phút cho đến khi miếng vàng hoặc bạc trong đó mỏng ra. Xong lần giã thứ nhất người ta lấy lá vàng đã giã mỏng đem cắt thành mười sáu miếng bằng nhau. Sau đó lại đem xếp xen kẽ từng miếng vàng hoặc bạc với giấy quỳ để giã lần thứ hai, công đoạn này gọi là “trại” (lấy lá vàng hoặc bạc ở giấy quỳ ra). Trại xong thì “long quỳ”, nghĩa là lấy từng lá vàng hoặc bạc sau khi “trại” xếp xen kẽ với giấy và buộc thành từng quỳ. Mỗi quỳ vàng hoặc bạc theo đúng tiêu chuẩn sẽ có bốn trăm chín mươi lá. Thợ làm tượng ở Sơn Đồng thường mua quỳ về để thiếp chứ ít khi làm quỳ.

Tùy theo yêu cầu mà người thợ đem những quỳ vàng hoặc quỳ bạc để thiếp vào pho tượng. Người thợ phải cầm lá quỳ sao cho lá vàng hoặc lá bạc dính vào giấy, sau đó dán lên tượng nhưng không được dí tay. Cuối cùng, nghệ nhân dậm vàng (hay lau vàng) một cách tỉ mỉ để sản phẩm không bị rạn và không bị mất đi độ bóng. Để hoàn thành một pho tượng to người ta phải mất khoảng bốn mươi công đoạn khác nhau như thể đập bóc giấy, lướt quỳ mới, đập giấy vỡ, cắt dòng nong quỳ… Do vậy đòi hỏi người thợ phải thực sự kiên trì, tỉ mỉ với những thao tác kỹ thuật rất cao.

Có lẽ, nhờ sự cần cù, óc sáng tạo và đôi bàn tay tài hoa, khéo léo của người thợ Sơn Đồng mà cái nghề thổi hồn cho gỗ ấy bây giờ đang ngày một ăn nên làm ra đem lại thu nhập và công việc cho rất nhiều người và cũng trở nên nổi tiếng khắp cả nước. Chẳng thế mà năm 2007 sách Kỷ lục Việt Nam ghi nhận, đánh giá Sơn Đồng là làng nghề tạc tượng và làm đồ thờ lớn nhất cả nước; đồng thời cũng được bình chọn, xếp hạng là làng nghề lọt vào top mười làng nghề tiêu biểu của cả nước. Phải nói rằng để làm được cái thương hiệu vang danh, nức tiếng như thế quả không dễ một chút nào. Đó phải là biết bao tâm sức, trí tuệ truyền đời của các thế hệ nghệ nhân ở Sơn Đồng. Giờ đây, địa danh Sơn Đồng đã trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn của thủ đô được nhiều người biết đến; không chỉ là nơi có rất nhiều sự tích kể về con người và vùng đất mà còn là làng nghề độc đáo, tài hoa để cho du khách được trải nghiệm; được sống với cái hồn văn hóa của cha ông. Và cứ như thế, nghệ nhân Sơn Đồng lại âm thầm lưu giữ trong lòng người xem những tinh túy của ông cha; làm sống dậy cái hồn thiêng của dân tộc; lan tỏa và lưu truyền các giá trị nghệ thuật cho muôn đời sau. Mạch nguồn thầm lặng đó thật đáng quý và đáng yêu biết bao. Tiến tới, có lẽ không dừng lại ở việc là một điểm du lịch làng nghề, Sơn Đồng còn là một nơi trải nghiệm cho học sinh trong các nhà trường về một nghề mỹ nghệ truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc tuyệt vời cho các nhà trường trong và ngoài thành phố./.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Đào Thị Thu Hiền. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.
Bài liên quan
  • Hà Nội của tôi
    Hà Nội của tôi! Những năm tuổi thơ tôi thích cùng chúng bạn đi tàu điện leng keng ra Bờ Hồ chơi. Chúng tôi chạy lăng xăng trên cầu Thê Húc, chiếc cầu nhỏ cong cong như đi vào cổ tích, cùng ngắm những làn sóng lăn tăn lấp lánh trong nắng ban mai, cùng háo hức chờ ông Rùa nổi lên mặt nước, như chờ xem truyền thuyết Hồ Gươm. Tôi cũng rất thích trò chơi trốn tìm, núp mình sau những thân cây cổ thụ nghiêng nghiêng bên hồ, ngồi ngắm tháp rùa, đón làn gió mênh mang thổi qua mặt hồ xao động và thưởng thức kem Tràn
(0) Bình luận
  • Nhớ Tết ở khu gia đình Hà Nội thời chưa xa
    Chúng ta, ai cũng có những năm tháng không thể nào quên. Cho dù những năm tháng ấy cuộc sống chưa hẳn đã thật tốt, chưa no đủ dư thừa. Trong sự thiếu thốn triền miên về vật chất thì tình người, sự sẻ chia lại ăm ắp như bát nước đầy, để rồi in sâu vào tâm thức như một quãng đời đã được lập trình trong bản đồ số mệnh.
  • Xúc cảm Hà Nội
    Thơ viết về Hà Nội tôi có câu: “… Đường thơm hương sữa/ Níu lòng người xa/ Phố phường Hà Nội/ Lưu luyến Hào hoa”.
  • Văn Miếu - Quốc Tử Giám - Nơi hội tụ hiền tài
    Tôi bước chân qua cổng Văn Miếu vào một buổi sớm thu, khi nắng vàng vửa trải nhẹ qua từng vòm lá, gió hanh hao đưa theo hương hoa sữa thơm nức góc phố. Không gian lặng như một lời thì thầm của lịch sử, của quá khứ vọng về từ từng phiến gạch rêu phong, từ mái ngói cong vút dáng cổ kính của ngôi trường đại học đầu tiên trong lịch sử nước nhà.
  • Chợ hoa xuân Hà Nội
    Đã thành thông lệ, cứ độ “Tết đến Xuân về” Hà Nội lại mở hàng trăm điểm Chợ Hoa Tết. Thật ra gọi chợ Hoa Xuân, vì sau tết các điểm chợ hoa ấy vẫn bày bán cây cảnh, hoa và những cành đào, mận, lê, nhánh hay khóm phong lan… đẹp nét hoang sơ, hồn hậu và phóng khoáng, cảm nhận khí xuân ấm áp từ núi rừng Việt Bắc ùa về.
  • Lẵng hoa tươi Hồ Gươm
    Hồ Gươm giữa lòng Hà Nội. Hồ như chiếc gương ngọc soi những con phố nhỏ, những ngôi nhà “mái ngói thâm nâu” vừa mộc mạc vừa phóng khoáng nét hào hoa, tao nhã. Khung cảnh Hồ Gươm bốn mùa mắt biếc, thu vào đây cả bầu trời xanh lơ.
  • Tôi đi “nhặt” Hà Nội xưa cùng Nguyễn Công Hoan
    Tôi thuộc thế hệ 8X, gắn bó với Hà Nội khi tiếng còi xe đã át đi nhiều âm thanh của một thời xa vắng. Ký ức về Hà Nội trong tôi là những con phố đã đổi thay tên gọi, những tòa nhà cao tầng vươn mình che khuất bóng cổ thụ, và những câu chuyện về quá khứ chỉ còn là lời kể của ông bà, cha mẹ. Tôi chưa từng hít thở bầu không khí của Hà Nội đầu thế kỷ 20, chưa từng bước chân trên con đường Cổ Ngư còn thắp đèn dầu hỏa năm 1918, hay lắng nghe tiếng "kèn đuổi ma" rờn rợn ở dốc Hàng Gà.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • “Những tương lai được đánh thức”: Thức tỉnh để đồng hành cùng con
    Trong nhiều năm trở lại đây, giáo dục và nuôi dạy con trở thành mối quan tâm lớn của xã hội. Sách về phương pháp học tập, kỹ năng nuôi dạy con, mô hình giáo dục hiện đại xuất hiện ngày càng nhiều. Tuy nhiên, giữa vô vàn lời khuyên dành cho trẻ, câu hỏi căn bản nhất đôi khi lại bị bỏ quên: Người lớn đã thực sự hiểu con hay chưa? Người lớn đã sẵn sàng thay đổi chính mình hay chưa?
  • “Việt Nam - Nhìn từ biển”: Bức tranh sinh động về biển đảo Việt Nam
    Biển từ lâu đã trở thành một phần không thể tách rời trong tiến trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Không chỉ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng - an ninh, biển còn là không gian văn hóa, lịch sử gắn bó mật thiết với tiến trình hình thành và phát triển của dân tộc. Qua những trang viết giàu hình ảnh và đầy xúc cảm, “Việt Nam - Nhìn từ biển” (NXB Chính trị quốc gia Sự thật) đưa người đọc bước vào một hành trình khám phá bức tranh sinh động, nhiều chiều và đầy sắc màu về biển đảo Việt Nam hôm nay.
  • Ra mắt sách “80 năm Quốc hội Việt Nam - Những dấu ấn lịch sử”
    Chiều 5/1/2026, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Văn phòng Quốc hội tổ chức Lễ ra mắt cuốn sách “80 năm Quốc hội Việt Nam - Những dấu ấn lịch sử”. Đây là công trình được biên soạn công phu, có ý nghĩa chính trị, lịch sử và thực tiễn sâu sắc, tái hiện một cách hệ thống và sinh động hành trình 80 năm xây dựng, phát triển của Quốc hội Việt Nam qua các giai đoạn cách mạng.
  • Chương trình "Xuân Quê hương 2026" sẽ diễn ra vào ngày 8/2
    Nhân dịp Tết Bính Ngọ 2026, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài - Bộ Ngoại giao phối hợp các cơ quan liên quan tổ chức Chương trình Xuân Quê hương 2026 với chủ đề "Khát vọng Việt Nam: Hòa bình, Thịnh vượng" vào ngày 8/2/2026 (tức ngày 21 tháng Chạp năm Ất Tỵ).
  • 39 dự án được xác định đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên địa bàn Hà Nội
    Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP. Hà Nội Dương Đức Tuấn vừa ban hành Quyết định 02/QĐ-UBND ngày 4/1/2026 về việc công bố thông tin dự án được xác định đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội (Đợt 1).
Đừng bỏ lỡ
  • Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng 2026 quy tụ khoảng 900 đại biểu, nghệ sĩ
    Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng (DANAFF) lần thứ Tư dự kiến có khoảng 900 đại biểu, nghệ sĩ, nhà làm phim, chuyên gia tham dự, trong đó khoảng 200 khách mời quốc tế. Liên hoan phim tiếp tục trao các giải thưởng cho phim châu Á, phim Việt Nam xuất sắc, đạo diễn, diễn viên và kịch bản.
  • Nhộn nhịp chợ hoa đêm Quảng An
    Khi phố phường Hà Nội dần chìm vào giấc ngủ, bên bờ hồ Tây, một không gian khác lại tấp nập kẻ mua, người bán. Chợ hoa đêm Quảng An (phường Hồng Hà) bắt đầu nhộn nhịp từ khoảng 23 giờ đêm và kéo dài đến rạng sáng. Đây không chỉ là chợ đầu mối cung cấp hoa lớn nhất Thủ đô mà còn là một “thế giới không ngủ”, nơi sắc hương và nhịp sống hòa quyện trong đêm.
  • Khát vọng thành thực - đường đến thơ
    Có thể coi bài thơ “Tự bạch” là “căn cước thơ” của nhà báo kỳ cựu Đỗ Quảng khi sinh hạ liền ba tập thơ “Thương lắm Sài Gòn ơi”, “Vui buồn tháng Tư”, “Những lời nói thật”, in liền trong mấy năm gần đây (2022 - 2025). Ba tập thơ gối kề với gần 180 bài thơ là một “con số biết nói”.
  • Về Ngôi nhà chung vui Tết bản làng
    Từ ngày 5 đến 31/1/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra chuỗi hoạt động tháng 1 với chủ đề “Tết bản làng”, giới thiệu các hoạt động đón xuân, nghi lễ, lễ hội và phong tục tập quán truyền thống của các dân tộc Việt Nam.
  • Xã Thường Tín để mùa lễ hội diễn ra an toàn, văn minh, giàu bản sắc
    Nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, xây dựng hình ảnh Thủ đô Hà Nội văn minh, thanh lịch, UBND xã Thường Tín đã ban hành kế hoạch triển khai thực hiện “Bộ tiêu chí về môi trường văn hóa trong lễ hội truyền thống” trên địa bàn xã năm 2026.
  • Âm nhạc cuối tuần: Khi giai điệu chào xuân lan tỏa giữa không gian văn hóa Thủ đô
    Chiều Chủ nhật đầu tiên của năm mới 2026, không gian Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ trở nên ấm áp và giàu cảm xúc khi chương trình “Âm nhạc cuối tuần” diễn ra trong sự quan tâm của đông đảo người dân và du khách.
  • Đón năm mới 2026 bằng những thanh âm mùa xuân cùng “Âm nhạc cuối tuần”
    Trong chương trình cuối cùng của năm 2025, với nhiều nhạc phẩm quốc tế hiện đại, phóng khoáng đan xen cùng những giai điệu mùa xuân, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” sẽ tiếp tục trở lại trong không khí hân hoan của cả nước đón chào năm mới 2026 vào ngày 04/01.
  • Văn Miếu - Quốc Tử Giám ra mắt tour đêm “Âm sắc Việt”
    Đón năm mới 2026, tối 1/1, tại Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám ra mắt tour đêm “Âm sắc Việt”. Đây là một trong những sản phẩm văn hóa - du lịch mới mang tính thử nghiệm nhằm mang đến trải nghiệm mới cho du khách vào dịp Tết Dương lịch 2026.
  • Nhiều hoạt động xúc tiến, quảng bá, kích cầu của ngành Du lịch Thủ đô đầu năm 2026
    Nhằm chuẩn bị tốt nhất các điều kiện phục vụ du khách trong dịp Tết Dương lịch 2026, Chào mừng Đại hội Đảng lần thứ XIV và Tết Nguyên đán Bính Ngọ, Sở Du lịch Hà Nội đã có văn bản gửi các phường, xã, các đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoạt động du lịch trên địa bàn sẵn sàng phục vụ người dân và du khách, đồng thời tăng cường công tác đảm bảo an ninh trật tự,...
  • Người dân Thủ đô hân hoan ngắm pháo hoa, chào năm mới 2026
    Đúng 23h45 ngày 31/12/2025, màn pháo hoa tuyệt đẹp chào đón năm mới 2026 rực sáng trên bầu trời Hà Nội như lời chúc năm mới sức khoẻ, hạnh phúc đến với hàng triệu người dân Thủ đô.
Sơn Đồng - Nơi thổi hồn vào gỗ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO