Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Sơn Đồng - Nơi thổi hồn vào gỗ

Đào Thị Thu Hiền 26/09/2023 15:08

Xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức nằm ở ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thủ đô khoảng chừng gần hai chục cây số về phía Tây, không chỉ nổi tiếng là đất khoa bảng mà còn được nhiều người trong và ngoài nước biết đến là một làng nghề làm đồ thờ và tượng gỗ, đặc biệt là tượng phật, tượng thánh.

1.-tam-quan-dinh-lang-son-dong-noi-tho-to-nghe-lam-tuong.jpg
Tam quan đình làng Sơn Đồng - Nơi thờ tổ nghề làm tượng.

Phải nói rằng, với óc thẩm mỹ tinh tế và đôi bàn tay đặc biệt tài hoa, những người thợ làng Sơn Đồng đã cho ra đời nhiều tác phẩm nghệ thuật rất đẹp, có thể nói là đạt đến đỉnh cao hiếm thấy nơi nào sánh được, như thể tượng Phật bà nghìn tay, nghìn mắt; tượng ông Thiện, ông Ác; tượng Tam Thế Phật; tượng phật A Di Đà; tượng phật Thích Ca Mâu Ni; tượng phật Di Lặc; tượng phật Địa Tạng Vương; tượng phật Tuyết Sơn; tượng phật Văn Thù - Phổ Hiền, tượng phật thập bát La Hán, tượng phật Mẫu Chuẩn Đề... Và bây giờ đi đến nhiều nơi trong nước; thậm chí ra nước ngoài, châu Á và châu Âu người ta đều trông thấy rất nhiều những pho tượng quý được bày trong các đình, đền, chùa, miếu, phủ do đôi bàn tay khéo léo của những người thợ Sơn Đồng tạo thành.

Đặt chân đến Sơn Đồng chúng ta như được bước vào thiên đường của thế giới chạm khắc đồ thờ, tượng phật, tượng thánh. Ở đây hầu như cả làng làm tượng, trên là trời dưới là tượng, nhất là tượng phật; có những pho tượng đang trong quá trình tạo tác ở trong xưởng, ngoài sân, có khi cả ngay bên lề đường; có những pho tượng đã được hoàn thiện đẹp đẽ tựa như “mặt hoa da phấn, mắt phượng mày ngài, cổ kiêu ba ngấn, miệng cười trăm hoa” (tượng Mẫu) hoặc “mặt sắt mày gươm, binh quyền muôn dặm” (tượng võ tướng) bày đặt trong những gian hàng ở khắp làng. Và rồi, theo vòng quay của thời gian, hết đêm lại tới ngày, dường như từ sáng đến tối, ở Sơn Đồng chỗ nào cũng vang lên những tiếng lách cách đục tượng; khắp nơi nhìn đâu cũng thấy cảnh mài tượng, sơn son thiếp vàng. Cứ thế, âm thầm và lặng lẽ, người thợ tài hoa Sơn Đồng đã tạc hàng trăm, hàng ngàn pho tượng có giá trị dâng lên cho biết bao đền, chùa, miếu, phủ trên khắp mọi miền đất nước từ suốt bao đời đến tận ngày nay.

2.-nghe-nhan-uu-tu-nguyen-viet-thanh-truc-tiep-truyen-nghe-cho-cac-lop-tho-sau.jpg
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Viết Thạnh trực tiếp truyền nghề cho các lớp thợ sau.

Tương truyền nghề làm tượng ở Sơn Đồng xuất hiện từ khá sớm. Từ bao giờ thì hẳn chẳng ai còn nhớ được một cách chính xác nhưng tên làng từ lâu đã gắn liền với tên nghề ở nơi đây. Theo truyền miệng và các ghi chép trong ngọc phả từ năm 976 còn lưu lại ở Đền Thượng của làng thì tổ nghề là Đức thánh Đào Trực. Đức thánh từng là Thượng tướng quân tiên phong của triều đình Đại Cồ Việt trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược. Sau khi chém được tên tướng Hầu Nhân Bảo và dẹp xong giặc phương Bắc ông đã đến Sơn Đồng mở trường dạy học và hướng dẫn mọi người trong làng nghề tạc tượng để mưu lợi cho dân. Với công lao này hậu thế giờ đây đã vinh danh ông làm tổ nghề của mình bằng một tên đường mới: Đường Đào Trực, đoạn đường từ ngã ba giao cắt đường Nguyễn Viết Thứ tại thôn Gạch đến ngã ba giao cắt đường liên xã Sơn Đồng - Yên Sở tại trường tiểu học. Trải qua quá trình hơn ngàn năm như thế đến nay đủ thấy nghề làm tượng ở Sơn Đồng đã trường tồn và song hành cùng sự phát triển của đạo phật cũng như đời sống tâm linh trong tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam. Người ta truyền rằng, kể từ khi Lý Công Uẩn rời đô từ Hoa Lư ra đất Đại La và đổi tên thành Thăng Long, đi qua hơn nghìn năm gắn với biết bao thăng trầm của thời thế cho đến bây giờ, nghệ nhân các đời ở Sơn Đồng đã sớm có mặt trong suốt trường kỳ lịch sử ấy để đóng góp không ít công sức xây dựng các đình đền, chùa, miếu… ở các kinh thành khi thì Thăng Long lúc lại ở Huế và rất nhiều nơi khác trên khắp mọi miền đất nước. Hẳn là những dấu tích ấy vẫn còn được nhắc đến và lưu dấu ở không ít các đình, đền, miếu, phủ, chùa chiền ở khắp nơi: Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Hà Nam, Thanh Hóa, Huế, thành phố Hồ Chí Minh và rất nhiều nơi khác; tỉ như đền Ngọc Sơn, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, chùa Một Cột, Kinh thành Huế hay đền thờ Bác Hồ ở Cô Tô, chùa ở Vân Đồn… Như thế thì bảo sao người Sơn Đồng không khỏi tự hào. Cứ thế, lặng lẽ chứ không ồn ào, truyền nhân các đời của làng nghề Sơn Đồng đã sáng tạo nên không ít các di sản văn hóa; đóng góp sức mình vào việc khôi phục và phát triển không ít những công trình văn hóa của thủ đô và đất nước, tô điểm những nét son tươi đẹp cho thành phố vì hòa bình; thủ đô ngàn năm văn hiến.

Đến Sơn Đồng chúng ta sẽ được nghe giới thiệu và hẳn sẽ nhận ra những nghệ nhân ở đây làm tượng theo những bí truyền của cha ông để lại. Người ta bảo đi khắp nơi, trong nước và ngoài nước, đến bất kỳ chỗ nào có tượng phật, tượng thánh, nếu là tượng của người Sơn Đồng thì chỉ cần nhác qua là nhận ngay ra. Nói như vậy, không có nghĩa là tất cả các tượng ở Sơn Đồng đều giống nhau. Những người thợ ở Sơn Đồng làm tượng chỉ giống nhau trên những nét nguyên lý chung của tổ nghề để lại. Bởi thế, mỗi pho tượng ở đây là một công trình sáng tạo nghệ thuật rất công phu và đầy sức hấp dẫn, làm theo những thủ pháp riêng được đúc kết qua thời gian của mỗi gia đình, mỗi hiệp thợ, mỗi nghệ nhân cho nên thế giới tượng ấy thống nhất theo khuôn mẫu nhưng có những nét riêng, rất phong phú và vô cùng tinh xảo; mỗi pho một vẻ, thâm trầm uy nghiêm cũng có mà tươi tắn rực rỡ sắc màu cũng có. Những pho tượng ấy nhìn trang nghiêm mà rất phúc hậu, mang dáng vóc Việt vừa thể hiện được những sắc màu tâm linh vừa mang dáng dấp trang nghiêm cổ kính, dễ dàng cho người xem thấy được cái đậm đà của hồn quê.

3.-nghe-nhan-uu-tu-nguyen-viet-thanh-va-cac-pho-tuong-dang-hoan-thien.jpg
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Viết Thạnh và các pho tượng đang hoàn thiện.

Tượng ở Sơn Đồng được làm từ các loại gỗ hương, gỗ mít, gỗ vàng tâm, gỗ dổi; trong đó chủ yếu là gỗ mít. Gỗ mít theo quan niệm trong dân gian là loại gỗ “thiêng”, rất thích hợp cho việc làm các loại đồ thờ cúng. Ngoài ra loại gỗ này có đặc điểm màu vàng tươi, độ bền rất cao, dẻo, mềm, thớ dặm, ít bị nứt, dễ gọt. Thường thì người ta mua gỗ mít từ Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Thọ, Thái Nguyên… trở về Sơn Đồng để làm tượng. Theo kinh nghiệm nếu làm tượng được làm bằng gỗ mít vườn nhà sẽ thích hơn mít rừng nhưng gỗ mít ở vườn nhà rất hiếm; khó mua, thân gỗ lại nhỏ, số lượng ít. Bởi thế gỗ mít ở rừng, ở đồi vẫn là nguyên liệu chủ yếu. Khi gỗ mít mang về người thợ sẽ tiến hành loại bỏ hết phần giác, chỉ dùng phần lõi để làm tượng. Cẩn thận, trước khi làm tượng, có người còn làm lễ trì chú cho gỗ để được hanh thông và linh thiêng.

Khi làm tượng, các nghệ nhân ở Sơn Đồng sử dụng công thức chung của tổ truyền. Đó là cách tính số đo, gọi là diện. Diện là khuôn mặt, được tính từ chân tóc tới cằm (bằng một đầu). Ví như, một pho tượng phật bà Quan âm ngồi thường là bốn diện, nhưng cũng có khi chỉ có ba diện rưỡi hoặc bốn diện rưỡi; tượng đứng thường làm khoảng bảy diện. Chẳng hạn tỉ lệ phân chia ở pho tượng đứng sẽ được tính: từ chân tóc tới cằm là một diện; từ cằm tới rốn là ba diện; từ rốn tới gót chân là ba diện, tổng là bảy diện. Ngoài tỷ lệ về chiều cao của thân tượng, người thợ Sơn Đồng còn tuân thủ theo một số công thức về vai, tay, thân. Cụ thể: vai tượng rộng từ hai đến bốn diện; tay dài khoảng ba diện; thân dày khoảng từ một diện rưỡi đến hai diện. Công thức này cũng có thể điều chỉnh tùy theo làm tượng béo hay tượng gầy, tượng nam hay tượng nữ. Chẳng hạn, tượng nam vai rộng hơn tượng nữ; tượng béo thì thân có độ dày hơn tượng gầy. Đôi khi tỷ lệ này cũng có một số dung sai do những cảm xúc thẩm mỹ của nghệ nhân trong quá trình tạo tác đem lại.

Trong quá trình tạo tác tượng phật, người thợ Sơn Đồng thường hay sử dụng một thước dây và một thước tầm để làm dụng cụ đo đạc. Bắt đầu từ bản mẫu hoặc tùy theo ý định của người thợ và kích thước của khối gỗ người ta đo thể tích để cắt gỗ: chiều cao, chiều ngang và bề dày (kích thước của một khối hình) sau đó cắt “dưỡng” - hình mẫu cắt theo “công tua” hai chiều: chiều nghiêng (nhìn mặt bên tượng) và chiều đứng (nhìn chính diện). Rồi áp từng dưỡng lên khối gỗ, cắt bỏ phần thừa – tạo ra một hình khối đại thể giống như mảnh ni lông hoặc mảnh vải trùm lên pho tượng. Khi làm thì phần đầu, mặt tượng bao giờ cũng được gia công trước tiên. Người thợ tiến hành đục phác thảo những khối mũ (nếu có) rồi đến trán, mũi, môi, tai... Các nghệ nhân ở Sơn Đồng thường phân đôi khối đầu, lấy đường vạch thẳng bổ giữa sống mũi, rồi đục một bên mặt trước; sau đó lấy sống mũi làm trục đối xứng, đục nốt nửa phần còn lại và đối chiếu với các chi tiết bên kia sao cho thật cân xứng. Trên khuôn mặt, các nghệ nhân cũng phân chia từng mảng một cách rất cụ thể. Đó là khoảng cách giữa các bộ phận: hai con mắt, chân tóc tới chân mày, chiều dài sống mũi, bề rộng cánh mũi, giữa môi trên và môi dưới, từ môi dưới tới cằm; độ dày của môi, tai… Trong đó họ rất chú ý thể hiện đôi tai của pho tượng. Tai phật thường to và chảy, đặt cân đối trong khoảng cách từ chân tóc ở hai bên đầu tới cằm, có khi nghệ nhân cho tai dài chạm vai. Ví dụ, tạc pho thượng A Di Đà, khi xong phần diện, họ lấy diện làm chuẩn, bắt đầu tính khoảng cách từ cằm tới tay, từ cằm tới khuỷu tay, từ dái tai tới vai, độ cong của lưng, bề rộng của hai vai, chiều cao của cổ... Sau đó đục dần từ cổ, vai xuống. Ở tượng A Di Đà bề rộng của hai đầu gối (ngồi xếp bằng tròn) thường bằng sáu mươi cm (mẫu tượng to bằng người thật). Nếu khối gỗ không đủ đáp ứng thì người thợ phải chắp gỗ từ khi cắt dưỡng để đảm bảo kích thước.

Sau tính toán tỉ lệ xong nghệ nhân làm tược bắt đầu tạc tượng. Đầu tiên là đục phá để phác lấy dáng chung (tạo dáng thô) suốt từ mặt tới bệ. Tạo dáng thô xong người thợ mới tiến hành tạo dáng chi tiết. Khi đó người làm tượng mới thể hiện dần từng bộ phận của pho tượng. Khâu này được coi là quan trọng nhất trong cả quá trình hoàn thành pho tượng. Trong khi đục người thợ vẫn phải chú ý phân chia các mảng khối, các khoảng cách để đảm bảo các tỷ lệ sao cho pho tượng nhìn phải cân xứng. Sau khi làm xong phần đục chi tiết, người thợ tiến hành gọt, nạo rồi dùng giấy ráp đánh cho nhẵn. Trong khi gọt người thợ dùng thường dùng loại đục dẹt, mỏng để tách các chi tiết sao cho các mảng các khối (chân tay và các ngón) không dính vào nhau, đồng thời thể hiện kỹ các đường lượn, các mảng miếng; chỗ nào cần nổi rõ thì làm bật ra, chỗ nào cầm chìm xuống thì phải dìm đi. Gọt, nạo tượng xong là hoàn chỉnh phần gỗ. Phần gỗ làm xong thì chuyển sang phần sơn.

4.-gian-hang-trung-bay-tuong-phat-cua-nghe-nhan-uu-tu-nguyen-viet-thanh-son-dong-hoai-duc-.jpg
Gian hàng trưng bày tượng phật của Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Viết Thạnh (Sơn Đồng - Hoài Đức).

Bình thường của nghề mộc thì gỗ trước khi làm phải phơi khô. Nhưng làm tượng thì không cần vậy vì sẽ rất mất công và gỗ khô cũng sẽ khó đục hơn hơn gỗ tươi. Bởi thế người thợ thường hay làm tượng khi gỗ còn tươi và sau khi đục xong mới làm cho tượng khô rồi mới tiến hành sơn. Trước khi đem sơn, nếu tượng có hiện tượng bị nứt, nẻ người thợ phải dùng dùng sơn ta trộn mùn cưa bả vào những chỗ bị khuyết tật, sau đó để khô rồi nạo cho nhẵn, từ chuyên môn gọi khâu này là “kẹt”. Kẹt xong mới tiến hành sơn. Kỹ thuật sơn son thếp vàng tượng ở Sơn Đồng cũng rất kỳ công, cầu kỳ như nghệ thuật làm vóc sơn mài. Công đoạn sơn cũng là một khâu quan trọng quyết định yếu tố thẩm mỹ của một pho tượng. Quy trình sơn tượng của người thợ Sơn Đồng phải trải qua ba bước: hom, cầm, thiếp. Hom là công đoạn đầu tiên của sơn. Người Sơn Đồng lấy sơn ta trộn với đất phù sa, tỷ lệ sao cho không được non sơn và cũng không được già sơn, rồi “bó” tượng bằng sơn sống, sau đó sơn “thí”. Sau mỗi công đoạn người ta phải mài tượng bằng đá và nước. Sơn lên rồi lại mài đi. Mài xong lại sơn tiếp ... Cứ làm như thế rất nhiều lần cho đến bao giờ thấy bề mặt tượng phẳng nhẵn và mọng lên. Sau đó lại dùng một lớp sơn khác phủ lên (gọi là sơn cầm thếp). Để sơn cầm thếp se (sờ tay thấy còn hơi dính) thì bắt đầu dán quỳ bạc hoặc quỳ vàng để hoàn thành tượng.

Để có lá quỳ bằng bạc hoặc bằng vàng dát lên pho tượng, người thợ phải dùng giấy dó, quét lên một loại mực làm từ nhựa thông, mùn cưa, hồ và keo da trâu. Rồi nấu vàng hoặc bạc chảy thành nước rồi đổ ra khuôn, tráng thành từng miếng mỏng. Tráng xong cắt từng miếng vuông khoảng một cm2 và xếp lên những mảnh giấy quỳ đã cắt vuông khoảng bốn cm2. Tiếp đến người thợ làm quỳ dùng vải mịn bọc chặt chồng giấy quỳ và vàng hoặc bạc để cố định vị trí; miếng vàng hoặc bạc được bọc vải, để lên phiến đá và dùng búa giã khoảng bốn mươi phút cho đến khi miếng vàng hoặc bạc trong đó mỏng ra. Xong lần giã thứ nhất người ta lấy lá vàng đã giã mỏng đem cắt thành mười sáu miếng bằng nhau. Sau đó lại đem xếp xen kẽ từng miếng vàng hoặc bạc với giấy quỳ để giã lần thứ hai, công đoạn này gọi là “trại” (lấy lá vàng hoặc bạc ở giấy quỳ ra). Trại xong thì “long quỳ”, nghĩa là lấy từng lá vàng hoặc bạc sau khi “trại” xếp xen kẽ với giấy và buộc thành từng quỳ. Mỗi quỳ vàng hoặc bạc theo đúng tiêu chuẩn sẽ có bốn trăm chín mươi lá. Thợ làm tượng ở Sơn Đồng thường mua quỳ về để thiếp chứ ít khi làm quỳ.

Tùy theo yêu cầu mà người thợ đem những quỳ vàng hoặc quỳ bạc để thiếp vào pho tượng. Người thợ phải cầm lá quỳ sao cho lá vàng hoặc lá bạc dính vào giấy, sau đó dán lên tượng nhưng không được dí tay. Cuối cùng, nghệ nhân dậm vàng (hay lau vàng) một cách tỉ mỉ để sản phẩm không bị rạn và không bị mất đi độ bóng. Để hoàn thành một pho tượng to người ta phải mất khoảng bốn mươi công đoạn khác nhau như thể đập bóc giấy, lướt quỳ mới, đập giấy vỡ, cắt dòng nong quỳ… Do vậy đòi hỏi người thợ phải thực sự kiên trì, tỉ mỉ với những thao tác kỹ thuật rất cao.

Có lẽ, nhờ sự cần cù, óc sáng tạo và đôi bàn tay tài hoa, khéo léo của người thợ Sơn Đồng mà cái nghề thổi hồn cho gỗ ấy bây giờ đang ngày một ăn nên làm ra đem lại thu nhập và công việc cho rất nhiều người và cũng trở nên nổi tiếng khắp cả nước. Chẳng thế mà năm 2007 sách Kỷ lục Việt Nam ghi nhận, đánh giá Sơn Đồng là làng nghề tạc tượng và làm đồ thờ lớn nhất cả nước; đồng thời cũng được bình chọn, xếp hạng là làng nghề lọt vào top mười làng nghề tiêu biểu của cả nước. Phải nói rằng để làm được cái thương hiệu vang danh, nức tiếng như thế quả không dễ một chút nào. Đó phải là biết bao tâm sức, trí tuệ truyền đời của các thế hệ nghệ nhân ở Sơn Đồng. Giờ đây, địa danh Sơn Đồng đã trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn của thủ đô được nhiều người biết đến; không chỉ là nơi có rất nhiều sự tích kể về con người và vùng đất mà còn là làng nghề độc đáo, tài hoa để cho du khách được trải nghiệm; được sống với cái hồn văn hóa của cha ông. Và cứ như thế, nghệ nhân Sơn Đồng lại âm thầm lưu giữ trong lòng người xem những tinh túy của ông cha; làm sống dậy cái hồn thiêng của dân tộc; lan tỏa và lưu truyền các giá trị nghệ thuật cho muôn đời sau. Mạch nguồn thầm lặng đó thật đáng quý và đáng yêu biết bao. Tiến tới, có lẽ không dừng lại ở việc là một điểm du lịch làng nghề, Sơn Đồng còn là một nơi trải nghiệm cho học sinh trong các nhà trường về một nghề mỹ nghệ truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc tuyệt vời cho các nhà trường trong và ngoài thành phố./.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Đào Thị Thu Hiền. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.
Bài liên quan
  • Hà Nội của tôi
    Hà Nội của tôi! Những năm tuổi thơ tôi thích cùng chúng bạn đi tàu điện leng keng ra Bờ Hồ chơi. Chúng tôi chạy lăng xăng trên cầu Thê Húc, chiếc cầu nhỏ cong cong như đi vào cổ tích, cùng ngắm những làn sóng lăn tăn lấp lánh trong nắng ban mai, cùng háo hức chờ ông Rùa nổi lên mặt nước, như chờ xem truyền thuyết Hồ Gươm. Tôi cũng rất thích trò chơi trốn tìm, núp mình sau những thân cây cổ thụ nghiêng nghiêng bên hồ, ngồi ngắm tháp rùa, đón làn gió mênh mang thổi qua mặt hồ xao động và thưởng thức kem Tràn
(0) Bình luận
  • Chợ Gạ quê tôi
    Chợ Gạ một tháng năm phiên/ Ngày ba ngày tám như chuyên đèo bòng/ Thuyền từ xứ Bắc xứ Đông/ Trên song đậu cạnh Bãi Non, Bãi Già... (Ca dao).
  • Mưa rơi ngõ nhỏ
    Ngõ nhỏ ấy quanh năm ẩm thấp. Những ngày nồm, tường rịn nước như mồ hôi người ốm. Hai căn nhà đối diện nhau, cửa lúc nào cũng khép hờ. Người trong ngõ quen gọi chủ nhà bên trái là Nhẫn, còn bên phải là Kiên.
  • Một khoảng trời Tết Hà Nội yên bình trong ngôi trường tôi
    Có một khoảng trời ở trường tôi giữa Hà Nội rất đỗi yên bình và xanh cao. Có một khoảng trời mà chúng tôi đã luôn nhớ, luôn thương những ngọt ngào bên lề phố xá ngày qua ngày vội vã. Nơi ấy, Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội (HCCT) chúng tôi mỗi khi xuân về đều mang hơi thở ấm áp dệt nên nhiều mùa xuân của đất trời, của lòng người và của những yêu thương gắn kết. Khoảng trời nhẫn nại, dệt muôn thăm thẳm yên bình. Đã có một ngày tôi viết những dòng văn thật xinh, thật nghĩa tình bằng niềm thương và nỗi nhớ về một mùa xuân xanh sum vầy, gắn kết nơi mái trường HCCT thân yêu, đổi mới và sáng tạo cùng Hà Nội.
  • Người Hà Nội mang ký ức Kẻ Chợ đi gìn giữ hồn làng xứ Huế
    Ngô Quý Đức từng dành ba tháng đi dọc miền trung để tìm hiểu các làng nghề, trước khi anh dừng bước ở Huế trong một năm qua nhằm hồi sinh liễn làng Chuồn, một dòng tranh dân gian nổi tiếng của Huế nhưng đã thất truyền hơn một thập kỷ qua.
  • Nhớ Tết ở khu gia đình Hà Nội thời chưa xa
    Chúng ta, ai cũng có những năm tháng không thể nào quên. Cho dù những năm tháng ấy cuộc sống chưa hẳn đã thật tốt, chưa no đủ dư thừa. Trong sự thiếu thốn triền miên về vật chất thì tình người, sự sẻ chia lại ăm ắp như bát nước đầy, để rồi in sâu vào tâm thức như một quãng đời đã được lập trình trong bản đồ số mệnh.
  • Xúc cảm Hà Nội
    Thơ viết về Hà Nội tôi có câu: “… Đường thơm hương sữa/ Níu lòng người xa/ Phố phường Hà Nội/ Lưu luyến Hào hoa”.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Tạo thế và lực “xuất khẩu” văn hóa Việt Nam
    Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra mục tiêu nước ta vươn lên nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm, với các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 9% GDP vào năm 2045. Để hiện thực hóa khát vọng này, chúng ta phải dịch chuyển tư duy coi văn hóa là lĩnh vực bảo tồn, giao lưu phong trào sang tư duy kiến tạo một nền công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn, tạo động lực phát triển kinh tế và định vị vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Hoa thủy tiên của mẹ (Kỳ 1)
    Đã nhiều năm trôi qua chúng tôi không lên bờ đón Tết. Mẹ nói đời mẹ gửi cả vào sông. Sống ở trên sông. Mai này mẹ nằm lại đáy sông, nhờ sông giữ giùm phần linh hồn người thiên cổ. Mẹ không muốn xa dòng sông nửa bước. Tôi lớn lên trên chiếc ghe chòng chành sóng nước, qua bao mùa gió trăng. Mùa xuân này tôi ra lái thuyền ngồi chải tóc.
  • Bước chuyển chiến lược để Hà Nội thành đô thị sáng tạo toàn cầu
    Hà Nội với bề dày ngàn năm văn hiến, sở hữu “kho báu” di sản văn hóa mà hiếm đô thị nào trên thế giới có được. Song một thời gian dài, văn hóa chủ yếu được nhìn nhận mang tính tinh thần nhiều hơn là một ngành kinh tế mới. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới” đã đặt công nghiệp văn hóa vào vị trí “mũi nhọn”, biến di sản thành tài sản, đánh thức tiềm năng thành động lực tăng trưởng bứt phá của Hà Nội.
  • Giá trị lịch sử và định hướng phát triển kinh tế hợp tác trong kỷ nguyên mới
    Trước yêu cầu tái cấu trúc sản xuất và nâng cao giá trị gia tăng, kinh tế hợp tác xã đang đứng trước cơ hội chuyển mình. Tại Diễn đàn Hợp tác xã quốc gia năm 2026, các chuyên gia đã chỉ ra những điểm nghẽn và đề xuất giải pháp thúc đẩy hợp tác xã liên kết sâu, gia tăng giá trị và thích ứng với kinh tế số.
  • Trưng bày nhiều tư liệu quý về chuyến bay vào vũ trụ đầu tiên của người Việt Nam
    Ngày 10/4, tại Hà Nội, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước (Bộ Nội vụ) phối hợp với Đại sứ quán Liên bang Nga tại Việt Nam và nhiều cơ quan liên quan tổ chức khai mạc trưng bày “Chuyến bay Liên hợp 37 - Biểu tượng hợp tác vũ trụ Việt Nam - Liên bang Nga”. Trưng bày là hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 65 năm chuyến bay đầu tiên của con người vào vũ trụ (12/4/1961 - 12/4/2026) - một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử khoa học và văn minh nhân loại.
Đừng bỏ lỡ
  • Tiếp tục lan tỏa giá trị văn hóa tại không gian âm nhạc mở chiều 12/4
    Trở lại sân khấu mở “Nhà Bát Giác” vào lúc 15h30 ngày 12/4, “Âm nhạc cuối tuần” hứa hẹn đem đến nhiều tiết mục đặc sắc, giai điệu sôi động, những trải nghiệm nghệ thuật gần gũi, hấp dẫn đối với nhiều người dân và du khách khi đến với Hà Nội. Đây không chỉ là sân khấu biểu diễn đơn thuần, mà còn là bước đi chiến lược của thành phố nhằm đưa nghệ thuật chất lượng cao vào đời sống, góp phần định vị thương hiệu thành phố sáng tạo.
  • Liên hoan tiếng hát Dân ca Người cao tuổi Hà Nội các khu vực năm 2026
    Liên hoan tiếng hát Dân ca Người cao tuổi Hà Nội các khu vực năm 2026 nhằm tôn vinh, giữ gìn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân gian, đặc biệt là dân ca, nhạc cụ truyền thống của vùng, miền, địa phương trên địa bàn thành phố Hà Nội; Tạo điều kiện để NCT tham gia hoạt động văn hóa, văn nghệ, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, hỗ trợ NCT sống vui, sống khỏe...
  • Bài 1: Hành trình gieo mầm hy vọng cho “lồng ngực trái”
    Giữa nhịp sống hối hả của Thủ đô, nơi dòng người ngược xuôi qua những con phố cổ kính, có một nơi mà thời gian dường như được đo bằng từng nhịp đập, nơi ranh giới giữa hơi thở và hư vô đôi khi chỉ cách nhau một ánh nhìn lướt qua trên màn hình điện tâm đồ. Đó là Bệnh viện Tim Hà Nội. Suốt một phần tư thế kỷ trôi qua, nơi đây không chỉ là một địa chỉ y tế, mà đã trở thành một “địa chỉ đỏ” của sự hồi sinh, nơi người thầy thuốc lặng lẽ viết nên bản trường ca về lòng nhân ái, về hành trình bền bỉ gieo mầm hy vọ
  • Hà Nội có hai làng nghề trở thành thành viên Mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    “Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ, xã Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng, xã Sơn Đồng là thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới gắn với trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề” dự kiến tổ chức từ ngày 08/5/2026 - 10/5/2026 tại Hoàng Thành Thăng Long Hà Nội.
  • [Infographic] Văn Miếu - Quốc Tử Giám: Chuỗi hoạt động văn hóa đặc sắc tháng 4/2026
    Chào mừng kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (tháng 11/2026) - Trường Quốc học đầu tiên của Việt Nam, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám (TP. Hà Nội) tổ chức nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc trong tháng 4/2026. Qua đó góp phần quảng bá giá trị Di sản quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám, nơi lưu giữ 82 bia tiến sĩ đã được UNESCO ghi danh là Di sản tư liệu thế giới tới người dân và du khách quốc tế.
  • Xây dựng văn hóa tiết kiệm – động lực phát triển bền vững của Thủ đô
    Chỉ thị số 11-CT/TU ngày 08/4/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đặt ra yêu cầu cấp thiết về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng trong xây dựng văn hóa tiết kiệm, phòng, chống lãng phí, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, củng cố kỷ luật, kỷ cương và thúc đẩy phát triển Thủ đô nhanh, bền vững.
  • Lát cắt chân thực về cuộc sống qua tranh chân dung của họa sĩ Nguyễn Công Hoài
    Vào lúc 18h ngày 10/4/2026, tại không gian QS Art Space, thuộc Bảo tàng Nghệ thuật Quang San (189B/3 Nguyễn Văn Hưởng, phường An Khánh, TP Hồ Chí Minh) sẽ diễn ra lễ khai mạc triển lãm “Cuộc sống tiếp diễn” của họa sĩ Nguyễn Công Hoài.
  • Xã Thanh Oai triển khai Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng năm 2026
    Thực hiện Kế hoạch của Thành ủy Hà Nội về tổ chức Cuộc thi chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ Sáu, năm 2026 trên địa bàn Thành phố Hà Nội; Ban Thường vụ Đảng ủy xã Thanh Oai đã ban hành kế hoạch và phát động tổ chức Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ Sáu năm 2026 trên địa bàn.
  • Không gian trưng bày đèn lồng đặc sắc “Vườn Ánh sáng” tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám
    Hướng tới dấu mốc 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076–2026), một trong những biểu tượng lâu đời của truyền thống hiếu học Việt Nam, chương trình “Vườn Ánh sáng”. Không gian trưng bày nghệ thuật đèn lồng đặc sắc "Vườn ánh sáng" tại Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) sẽ mở cửa đón khách tham quan từ ngày 10 - 19/4.
  • Nữ nhạc trưởng Zahia Ziouani sẽ biểu diễn tại Việt Nam cùng hai dàn nhạc hàng đầu
    Nữ nhạc trưởng Zahia Ziouani sẽ có chuyến lưu diễn tại Việt Nam với hai điểm dừng tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, biểu diễn cùng hai dàn nhạc giao hưởng hàng đầu là Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam (VNSO) và Dàn nhạc Giao hưởng TP Hồ Chí Minh (HBSO). Sự kiện được xem là cuộc gặp gỡ nghệ thuật đáng chú ý giữa một gương mặt tiêu biểu của đời sống âm nhạc Pháp và các thiết chế âm nhạc lớn của Việt Nam.
Sơn Đồng - Nơi thổi hồn vào gỗ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO