Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Sơn Đồng - Nơi thổi hồn vào gỗ

Đào Thị Thu Hiền • 26/09/2023 15:08

Xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức nằm ở ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thủ đô khoảng chừng gần hai chục cây số về phía Tây, không chỉ nổi tiếng là đất khoa bảng mà còn được nhiều người trong và ngoài nước biết đến là một làng nghề làm đồ thờ và tượng gỗ, đặc biệt là tượng phật, tượng thánh.

1.-tam-quan-dinh-lang-son-dong-noi-tho-to-nghe-lam-tuong.jpg
Tam quan đình làng Sơn Đồng - Nơi thờ tổ nghề làm tượng.

Phải nói rằng, với óc thẩm mỹ tinh tế và đôi bàn tay đặc biệt tài hoa, những người thợ làng Sơn Đồng đã cho ra đời nhiều tác phẩm nghệ thuật rất đẹp, có thể nói là đạt đến đỉnh cao hiếm thấy nơi nào sánh được, như thể tượng Phật bà nghìn tay, nghìn mắt; tượng ông Thiện, ông Ác; tượng Tam Thế Phật; tượng phật A Di Đà; tượng phật Thích Ca Mâu Ni; tượng phật Di Lặc; tượng phật Địa Tạng Vương; tượng phật Tuyết Sơn; tượng phật Văn Thù - Phổ Hiền, tượng phật thập bát La Hán, tượng phật Mẫu Chuẩn Đề... Và bây giờ đi đến nhiều nơi trong nước; thậm chí ra nước ngoài, châu Á và châu Âu người ta đều trông thấy rất nhiều những pho tượng quý được bày trong các đình, đền, chùa, miếu, phủ do đôi bàn tay khéo léo của những người thợ Sơn Đồng tạo thành.

Đặt chân đến Sơn Đồng chúng ta như được bước vào thiên đường của thế giới chạm khắc đồ thờ, tượng phật, tượng thánh. Ở đây hầu như cả làng làm tượng, trên là trời dưới là tượng, nhất là tượng phật; có những pho tượng đang trong quá trình tạo tác ở trong xưởng, ngoài sân, có khi cả ngay bên lề đường; có những pho tượng đã được hoàn thiện đẹp đẽ tựa như “mặt hoa da phấn, mắt phượng mày ngài, cổ kiêu ba ngấn, miệng cười trăm hoa” (tượng Mẫu) hoặc “mặt sắt mày gươm, binh quyền muôn dặm” (tượng võ tướng) bày đặt trong những gian hàng ở khắp làng. Và rồi, theo vòng quay của thời gian, hết đêm lại tới ngày, dường như từ sáng đến tối, ở Sơn Đồng chỗ nào cũng vang lên những tiếng lách cách đục tượng; khắp nơi nhìn đâu cũng thấy cảnh mài tượng, sơn son thiếp vàng. Cứ thế, âm thầm và lặng lẽ, người thợ tài hoa Sơn Đồng đã tạc hàng trăm, hàng ngàn pho tượng có giá trị dâng lên cho biết bao đền, chùa, miếu, phủ trên khắp mọi miền đất nước từ suốt bao đời đến tận ngày nay.

2.-nghe-nhan-uu-tu-nguyen-viet-thanh-truc-tiep-truyen-nghe-cho-cac-lop-tho-sau.jpg
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Viết Thạnh trực tiếp truyền nghề cho các lớp thợ sau.

Tương truyền nghề làm tượng ở Sơn Đồng xuất hiện từ khá sớm. Từ bao giờ thì hẳn chẳng ai còn nhớ được một cách chính xác nhưng tên làng từ lâu đã gắn liền với tên nghề ở nơi đây. Theo truyền miệng và các ghi chép trong ngọc phả từ năm 976 còn lưu lại ở Đền Thượng của làng thì tổ nghề là Đức thánh Đào Trực. Đức thánh từng là Thượng tướng quân tiên phong của triều đình Đại Cồ Việt trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược. Sau khi chém được tên tướng Hầu Nhân Bảo và dẹp xong giặc phương Bắc ông đã đến Sơn Đồng mở trường dạy học và hướng dẫn mọi người trong làng nghề tạc tượng để mưu lợi cho dân. Với công lao này hậu thế giờ đây đã vinh danh ông làm tổ nghề của mình bằng một tên đường mới: Đường Đào Trực, đoạn đường từ ngã ba giao cắt đường Nguyễn Viết Thứ tại thôn Gạch đến ngã ba giao cắt đường liên xã Sơn Đồng - Yên Sở tại trường tiểu học. Trải qua quá trình hơn ngàn năm như thế đến nay đủ thấy nghề làm tượng ở Sơn Đồng đã trường tồn và song hành cùng sự phát triển của đạo phật cũng như đời sống tâm linh trong tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam. Người ta truyền rằng, kể từ khi Lý Công Uẩn rời đô từ Hoa Lư ra đất Đại La và đổi tên thành Thăng Long, đi qua hơn nghìn năm gắn với biết bao thăng trầm của thời thế cho đến bây giờ, nghệ nhân các đời ở Sơn Đồng đã sớm có mặt trong suốt trường kỳ lịch sử ấy để đóng góp không ít công sức xây dựng các đình đền, chùa, miếu… ở các kinh thành khi thì Thăng Long lúc lại ở Huế và rất nhiều nơi khác trên khắp mọi miền đất nước. Hẳn là những dấu tích ấy vẫn còn được nhắc đến và lưu dấu ở không ít các đình, đền, miếu, phủ, chùa chiền ở khắp nơi: Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Hà Nam, Thanh Hóa, Huế, thành phố Hồ Chí Minh và rất nhiều nơi khác; tỉ như đền Ngọc Sơn, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, chùa Một Cột, Kinh thành Huế hay đền thờ Bác Hồ ở Cô Tô, chùa ở Vân Đồn… Như thế thì bảo sao người Sơn Đồng không khỏi tự hào. Cứ thế, lặng lẽ chứ không ồn ào, truyền nhân các đời của làng nghề Sơn Đồng đã sáng tạo nên không ít các di sản văn hóa; đóng góp sức mình vào việc khôi phục và phát triển không ít những công trình văn hóa của thủ đô và đất nước, tô điểm những nét son tươi đẹp cho thành phố vì hòa bình; thủ đô ngàn năm văn hiến.

Đến Sơn Đồng chúng ta sẽ được nghe giới thiệu và hẳn sẽ nhận ra những nghệ nhân ở đây làm tượng theo những bí truyền của cha ông để lại. Người ta bảo đi khắp nơi, trong nước và ngoài nước, đến bất kỳ chỗ nào có tượng phật, tượng thánh, nếu là tượng của người Sơn Đồng thì chỉ cần nhác qua là nhận ngay ra. Nói như vậy, không có nghĩa là tất cả các tượng ở Sơn Đồng đều giống nhau. Những người thợ ở Sơn Đồng làm tượng chỉ giống nhau trên những nét nguyên lý chung của tổ nghề để lại. Bởi thế, mỗi pho tượng ở đây là một công trình sáng tạo nghệ thuật rất công phu và đầy sức hấp dẫn, làm theo những thủ pháp riêng được đúc kết qua thời gian của mỗi gia đình, mỗi hiệp thợ, mỗi nghệ nhân cho nên thế giới tượng ấy thống nhất theo khuôn mẫu nhưng có những nét riêng, rất phong phú và vô cùng tinh xảo; mỗi pho một vẻ, thâm trầm uy nghiêm cũng có mà tươi tắn rực rỡ sắc màu cũng có. Những pho tượng ấy nhìn trang nghiêm mà rất phúc hậu, mang dáng vóc Việt vừa thể hiện được những sắc màu tâm linh vừa mang dáng dấp trang nghiêm cổ kính, dễ dàng cho người xem thấy được cái đậm đà của hồn quê.

3.-nghe-nhan-uu-tu-nguyen-viet-thanh-va-cac-pho-tuong-dang-hoan-thien.jpg
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Viết Thạnh và các pho tượng đang hoàn thiện.

Tượng ở Sơn Đồng được làm từ các loại gỗ hương, gỗ mít, gỗ vàng tâm, gỗ dổi; trong đó chủ yếu là gỗ mít. Gỗ mít theo quan niệm trong dân gian là loại gỗ “thiêng”, rất thích hợp cho việc làm các loại đồ thờ cúng. Ngoài ra loại gỗ này có đặc điểm màu vàng tươi, độ bền rất cao, dẻo, mềm, thớ dặm, ít bị nứt, dễ gọt. Thường thì người ta mua gỗ mít từ Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Thọ, Thái Nguyên… trở về Sơn Đồng để làm tượng. Theo kinh nghiệm nếu làm tượng được làm bằng gỗ mít vườn nhà sẽ thích hơn mít rừng nhưng gỗ mít ở vườn nhà rất hiếm; khó mua, thân gỗ lại nhỏ, số lượng ít. Bởi thế gỗ mít ở rừng, ở đồi vẫn là nguyên liệu chủ yếu. Khi gỗ mít mang về người thợ sẽ tiến hành loại bỏ hết phần giác, chỉ dùng phần lõi để làm tượng. Cẩn thận, trước khi làm tượng, có người còn làm lễ trì chú cho gỗ để được hanh thông và linh thiêng.

Khi làm tượng, các nghệ nhân ở Sơn Đồng sử dụng công thức chung của tổ truyền. Đó là cách tính số đo, gọi là diện. Diện là khuôn mặt, được tính từ chân tóc tới cằm (bằng một đầu). Ví như, một pho tượng phật bà Quan âm ngồi thường là bốn diện, nhưng cũng có khi chỉ có ba diện rưỡi hoặc bốn diện rưỡi; tượng đứng thường làm khoảng bảy diện. Chẳng hạn tỉ lệ phân chia ở pho tượng đứng sẽ được tính: từ chân tóc tới cằm là một diện; từ cằm tới rốn là ba diện; từ rốn tới gót chân là ba diện, tổng là bảy diện. Ngoài tỷ lệ về chiều cao của thân tượng, người thợ Sơn Đồng còn tuân thủ theo một số công thức về vai, tay, thân. Cụ thể: vai tượng rộng từ hai đến bốn diện; tay dài khoảng ba diện; thân dày khoảng từ một diện rưỡi đến hai diện. Công thức này cũng có thể điều chỉnh tùy theo làm tượng béo hay tượng gầy, tượng nam hay tượng nữ. Chẳng hạn, tượng nam vai rộng hơn tượng nữ; tượng béo thì thân có độ dày hơn tượng gầy. Đôi khi tỷ lệ này cũng có một số dung sai do những cảm xúc thẩm mỹ của nghệ nhân trong quá trình tạo tác đem lại.

Trong quá trình tạo tác tượng phật, người thợ Sơn Đồng thường hay sử dụng một thước dây và một thước tầm để làm dụng cụ đo đạc. Bắt đầu từ bản mẫu hoặc tùy theo ý định của người thợ và kích thước của khối gỗ người ta đo thể tích để cắt gỗ: chiều cao, chiều ngang và bề dày (kích thước của một khối hình) sau đó cắt “dưỡng” - hình mẫu cắt theo “công tua” hai chiều: chiều nghiêng (nhìn mặt bên tượng) và chiều đứng (nhìn chính diện). Rồi áp từng dưỡng lên khối gỗ, cắt bỏ phần thừa – tạo ra một hình khối đại thể giống như mảnh ni lông hoặc mảnh vải trùm lên pho tượng. Khi làm thì phần đầu, mặt tượng bao giờ cũng được gia công trước tiên. Người thợ tiến hành đục phác thảo những khối mũ (nếu có) rồi đến trán, mũi, môi, tai... Các nghệ nhân ở Sơn Đồng thường phân đôi khối đầu, lấy đường vạch thẳng bổ giữa sống mũi, rồi đục một bên mặt trước; sau đó lấy sống mũi làm trục đối xứng, đục nốt nửa phần còn lại và đối chiếu với các chi tiết bên kia sao cho thật cân xứng. Trên khuôn mặt, các nghệ nhân cũng phân chia từng mảng một cách rất cụ thể. Đó là khoảng cách giữa các bộ phận: hai con mắt, chân tóc tới chân mày, chiều dài sống mũi, bề rộng cánh mũi, giữa môi trên và môi dưới, từ môi dưới tới cằm; độ dày của môi, tai… Trong đó họ rất chú ý thể hiện đôi tai của pho tượng. Tai phật thường to và chảy, đặt cân đối trong khoảng cách từ chân tóc ở hai bên đầu tới cằm, có khi nghệ nhân cho tai dài chạm vai. Ví dụ, tạc pho thượng A Di Đà, khi xong phần diện, họ lấy diện làm chuẩn, bắt đầu tính khoảng cách từ cằm tới tay, từ cằm tới khuỷu tay, từ dái tai tới vai, độ cong của lưng, bề rộng của hai vai, chiều cao của cổ... Sau đó đục dần từ cổ, vai xuống. Ở tượng A Di Đà bề rộng của hai đầu gối (ngồi xếp bằng tròn) thường bằng sáu mươi cm (mẫu tượng to bằng người thật). Nếu khối gỗ không đủ đáp ứng thì người thợ phải chắp gỗ từ khi cắt dưỡng để đảm bảo kích thước.

Sau tính toán tỉ lệ xong nghệ nhân làm tược bắt đầu tạc tượng. Đầu tiên là đục phá để phác lấy dáng chung (tạo dáng thô) suốt từ mặt tới bệ. Tạo dáng thô xong người thợ mới tiến hành tạo dáng chi tiết. Khi đó người làm tượng mới thể hiện dần từng bộ phận của pho tượng. Khâu này được coi là quan trọng nhất trong cả quá trình hoàn thành pho tượng. Trong khi đục người thợ vẫn phải chú ý phân chia các mảng khối, các khoảng cách để đảm bảo các tỷ lệ sao cho pho tượng nhìn phải cân xứng. Sau khi làm xong phần đục chi tiết, người thợ tiến hành gọt, nạo rồi dùng giấy ráp đánh cho nhẵn. Trong khi gọt người thợ dùng thường dùng loại đục dẹt, mỏng để tách các chi tiết sao cho các mảng các khối (chân tay và các ngón) không dính vào nhau, đồng thời thể hiện kỹ các đường lượn, các mảng miếng; chỗ nào cần nổi rõ thì làm bật ra, chỗ nào cầm chìm xuống thì phải dìm đi. Gọt, nạo tượng xong là hoàn chỉnh phần gỗ. Phần gỗ làm xong thì chuyển sang phần sơn.

4.-gian-hang-trung-bay-tuong-phat-cua-nghe-nhan-uu-tu-nguyen-viet-thanh-son-dong-hoai-duc-.jpg
Gian hàng trưng bày tượng phật của Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Viết Thạnh (Sơn Đồng - Hoài Đức).

Bình thường của nghề mộc thì gỗ trước khi làm phải phơi khô. Nhưng làm tượng thì không cần vậy vì sẽ rất mất công và gỗ khô cũng sẽ khó đục hơn hơn gỗ tươi. Bởi thế người thợ thường hay làm tượng khi gỗ còn tươi và sau khi đục xong mới làm cho tượng khô rồi mới tiến hành sơn. Trước khi đem sơn, nếu tượng có hiện tượng bị nứt, nẻ người thợ phải dùng dùng sơn ta trộn mùn cưa bả vào những chỗ bị khuyết tật, sau đó để khô rồi nạo cho nhẵn, từ chuyên môn gọi khâu này là “kẹt”. Kẹt xong mới tiến hành sơn. Kỹ thuật sơn son thếp vàng tượng ở Sơn Đồng cũng rất kỳ công, cầu kỳ như nghệ thuật làm vóc sơn mài. Công đoạn sơn cũng là một khâu quan trọng quyết định yếu tố thẩm mỹ của một pho tượng. Quy trình sơn tượng của người thợ Sơn Đồng phải trải qua ba bước: hom, cầm, thiếp. Hom là công đoạn đầu tiên của sơn. Người Sơn Đồng lấy sơn ta trộn với đất phù sa, tỷ lệ sao cho không được non sơn và cũng không được già sơn, rồi “bó” tượng bằng sơn sống, sau đó sơn “thí”. Sau mỗi công đoạn người ta phải mài tượng bằng đá và nước. Sơn lên rồi lại mài đi. Mài xong lại sơn tiếp ... Cứ làm như thế rất nhiều lần cho đến bao giờ thấy bề mặt tượng phẳng nhẵn và mọng lên. Sau đó lại dùng một lớp sơn khác phủ lên (gọi là sơn cầm thếp). Để sơn cầm thếp se (sờ tay thấy còn hơi dính) thì bắt đầu dán quỳ bạc hoặc quỳ vàng để hoàn thành tượng.

Để có lá quỳ bằng bạc hoặc bằng vàng dát lên pho tượng, người thợ phải dùng giấy dó, quét lên một loại mực làm từ nhựa thông, mùn cưa, hồ và keo da trâu. Rồi nấu vàng hoặc bạc chảy thành nước rồi đổ ra khuôn, tráng thành từng miếng mỏng. Tráng xong cắt từng miếng vuông khoảng một cm2 và xếp lên những mảnh giấy quỳ đã cắt vuông khoảng bốn cm2. Tiếp đến người thợ làm quỳ dùng vải mịn bọc chặt chồng giấy quỳ và vàng hoặc bạc để cố định vị trí; miếng vàng hoặc bạc được bọc vải, để lên phiến đá và dùng búa giã khoảng bốn mươi phút cho đến khi miếng vàng hoặc bạc trong đó mỏng ra. Xong lần giã thứ nhất người ta lấy lá vàng đã giã mỏng đem cắt thành mười sáu miếng bằng nhau. Sau đó lại đem xếp xen kẽ từng miếng vàng hoặc bạc với giấy quỳ để giã lần thứ hai, công đoạn này gọi là “trại” (lấy lá vàng hoặc bạc ở giấy quỳ ra). Trại xong thì “long quỳ”, nghĩa là lấy từng lá vàng hoặc bạc sau khi “trại” xếp xen kẽ với giấy và buộc thành từng quỳ. Mỗi quỳ vàng hoặc bạc theo đúng tiêu chuẩn sẽ có bốn trăm chín mươi lá. Thợ làm tượng ở Sơn Đồng thường mua quỳ về để thiếp chứ ít khi làm quỳ.

Tùy theo yêu cầu mà người thợ đem những quỳ vàng hoặc quỳ bạc để thiếp vào pho tượng. Người thợ phải cầm lá quỳ sao cho lá vàng hoặc lá bạc dính vào giấy, sau đó dán lên tượng nhưng không được dí tay. Cuối cùng, nghệ nhân dậm vàng (hay lau vàng) một cách tỉ mỉ để sản phẩm không bị rạn và không bị mất đi độ bóng. Để hoàn thành một pho tượng to người ta phải mất khoảng bốn mươi công đoạn khác nhau như thể đập bóc giấy, lướt quỳ mới, đập giấy vỡ, cắt dòng nong quỳ… Do vậy đòi hỏi người thợ phải thực sự kiên trì, tỉ mỉ với những thao tác kỹ thuật rất cao.

Có lẽ, nhờ sự cần cù, óc sáng tạo và đôi bàn tay tài hoa, khéo léo của người thợ Sơn Đồng mà cái nghề thổi hồn cho gỗ ấy bây giờ đang ngày một ăn nên làm ra đem lại thu nhập và công việc cho rất nhiều người và cũng trở nên nổi tiếng khắp cả nước. Chẳng thế mà năm 2007 sách Kỷ lục Việt Nam ghi nhận, đánh giá Sơn Đồng là làng nghề tạc tượng và làm đồ thờ lớn nhất cả nước; đồng thời cũng được bình chọn, xếp hạng là làng nghề lọt vào top mười làng nghề tiêu biểu của cả nước. Phải nói rằng để làm được cái thương hiệu vang danh, nức tiếng như thế quả không dễ một chút nào. Đó phải là biết bao tâm sức, trí tuệ truyền đời của các thế hệ nghệ nhân ở Sơn Đồng. Giờ đây, địa danh Sơn Đồng đã trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn của thủ đô được nhiều người biết đến; không chỉ là nơi có rất nhiều sự tích kể về con người và vùng đất mà còn là làng nghề độc đáo, tài hoa để cho du khách được trải nghiệm; được sống với cái hồn văn hóa của cha ông. Và cứ như thế, nghệ nhân Sơn Đồng lại âm thầm lưu giữ trong lòng người xem những tinh túy của ông cha; làm sống dậy cái hồn thiêng của dân tộc; lan tỏa và lưu truyền các giá trị nghệ thuật cho muôn đời sau. Mạch nguồn thầm lặng đó thật đáng quý và đáng yêu biết bao. Tiến tới, có lẽ không dừng lại ở việc là một điểm du lịch làng nghề, Sơn Đồng còn là một nơi trải nghiệm cho học sinh trong các nhà trường về một nghề mỹ nghệ truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc tuyệt vời cho các nhà trường trong và ngoài thành phố./.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Đào Thị Thu Hiền. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.
Bài liên quan
  • Hà Nội của tôi
    Hà Nội của tôi! Những năm tuổi thơ tôi thích cùng chúng bạn đi tàu điện leng keng ra Bờ Hồ chơi. Chúng tôi chạy lăng xăng trên cầu Thê Húc, chiếc cầu nhỏ cong cong như đi vào cổ tích, cùng ngắm những làn sóng lăn tăn lấp lánh trong nắng ban mai, cùng háo hức chờ ông Rùa nổi lên mặt nước, như chờ xem truyền thuyết Hồ Gươm. Tôi cũng rất thích trò chơi trốn tìm, núp mình sau những thân cây cổ thụ nghiêng nghiêng bên hồ, ngồi ngắm tháp rùa, đón làn gió mênh mang thổi qua mặt hồ xao động và thưởng thức kem Tràn
(0) Bình luận
  • Hà Nội trong mắt thế hệ mới
    Có một Hà Nội đang hiện ra trước mắt thế hệ trẻ với một diện mạo khác. Những cây cầu mới nối đôi bờ sông Hồng, những tuyến vành đai mở rộng không gian đô thị, những đại lộ kéo dài về phía ngoại thành, những khu đô thị và công trình mới đang từng ngày làm thay đổi cách người Hà Nội đi lại, làm việc, vui chơi và hình dung về tương lai. Hà Nội không còn chỉ nhìn về phía những gì đã làm nên mình mà đang bắt đầu nhìn xa hơn về phía chân trời.
  • Một buổi chiều đi qua nghìn năm
    Buổi chiều ấy, tôi đang học thì nhận được tin nhắn. Bạn đã ở chùa Trấn Quốc. Đợi tôi. Tôi nhìn đồng hồ. Buổi học vẫn chưa hết. Ngoài kia là một chiều Hà Nội tháng Tám còn lòng tôi đã chạy trước đến Hồ Tây. May sao gần bốn giờ, cô cho nghỉ sớm. Tôi thu vội sách vở. Ở tuổi ngoài bốn mươi, vẫn có những phút được tan học sớm khiến người ta vui như một cô học trò nhỏ.
  • Những người “giữ lại” Hà Nội
    Có những buổi sáng, Hà Nội thức dậy bằng những âm thanh rất khẽ. Tiếng chổi tre trên vỉa hè, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng xe đạp lướt qua con phố còn bảng lảng sương. Và đâu đó, giữa 36 phố phường, vẫn có những âm thanh mà tưởng như đã thuộc về một Hà Nội xa xưa: Tiếng búa gõ vào đe, tiếng giấy sột soạt dưới bàn tay người viết chữ, tiếng gọi nhau mua gói cốm, tiếng người bán hoa báo mùa đang tới.
  • Dịu dàng thu qua phố
    Hà Nội vào thu với những con đường đẹp như mơ, sắc vàng rực rỡ nhuộm cả khung trời. Những chiếc lá nhẹ rơi, bay bay trong gió, xào xạc theo bước chân như níu giữ người đi. Con đường Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu với những hàng cây cổ thụ rợp bóng, là nơi mà giới trẻ hay thích chụp ảnh, check in. Nơi đây cũng là nơi mà có rất nhiều những chiếc xe đạp của các mẹ, các chị chở đầy các loài hoa đến bán. Với bó hoa cúc Hoạ Mi trên tay, các cô gái trẻ hay cả những phụ nữ trong tà áo dài duyên dáng đang thả sức tạo kiểu để có bộ ảnh kỷ niệm. Một khung cảnh nên thơ, để ai đó đi ngang qua cũng không khỏi thốt lên: "Ôi sao thu dịu dàng, yên bình đến thế!".
  • Đi qua Hà Nội
    Trưa ấy, một người bạn xứ Bắc hẹn tôi ra Hàm Cá Mập. Bạn chỉ bảo muốn tôi có thêm một trải nghiệm riêng có của Hà Nội khi thành phố vừa chớm thu. Khi tôi đến, bạn đã nhẫn nại đợi ở đó, bên mình là chiếc máy ảnh cơ to và nặng. Bạn đã đi nhiều nơi, biết nhiều miền đất nước, lại khá tường tận Hà Nội. Nhưng hôm ấy, bạn không đưa tôi vào một di tích nào. Chỉ cùng tôi bước lên tầng hai của một chiếc xe buýt.
  • Có người gọi tên tôi giữa Hà Nội
    Không phải tiếng rao khuya, tiếng chuông tàu hay một câu hát cũ. Chỉ là giữa một buổi sáng ở Cát Linh, khi tôi đang lủi thủi theo dòng người, phía sau bỗng vang lên: - Chị Tâm ơi, lên xe nào!
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Hà Nội từ mùa thu giải phóng đến tầm nhìn trăm năm
    Kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2026) là dịp chúng ta tri ân các thế hệ đã cống hiến, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì sự nghiệp giải phóng, xây dựng và bảo vệ Hà Nội, để từ đó nhận thức sâu sắc hơn trách nhiệm đối với tương lai Thủ đô và đất nước. Trong kỷ nguyên mới, Hà Nội phải không ngừng nâng cao năng lực xây dựng và phát triển, để giá trị của Ngày Giải phóng tiếp tục được bồi đắp, giúp cho cuộc sống của Nhân dân ngày càng tốt đẹp và đóng góp xứng đáng cho đất nước.
  • Hà Nội công bố 292 công trình, dự án tạo động lực phát triển Thủ đô
    Chiều 9/10, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ khánh thành, khởi công và triển khai các công trình, dự án tiêu biểu của thành phố Hà Nội chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2026).
  • Hội sách quốc tế Frankfurt 2026: Dấu ấn văn hóa Hà Nội và Quốc Tử Giám - Trường Quốc học đầu tiên của Việt Nam
    Chiều ngày 6/10/2026 tại Trung tâm Triển lãm Messe Frankfurt, Frankfurt am Main (CHLB Đức) đã diễn ralễ khai mạc Hội sách quốc tế Frankfurt lần thứ 78 - năm 2026 (từ ngày 7 - 11/10). Đoàn công tác Thành phố Hà Nội do bà Nguyễn Thị Mai Hương - Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm trưởng đoàn đã đem đến hội sách lớn nhất thế giới nhiều đầu sách tiêu biểu về lịch sử - văn hóa Hà Nội và Việt Nam, đặc biệt là sách, tư liệu nhân kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám - Trường Quốc học đầu tiên của Vi
  • Hà Nội đặt mục tiêu đưa doanh thu hợp tác xã đạt 3,8 tỷ đồng/năm vào năm 2027
    Nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ từ số lượng sang chất lượng, Hà Nội đặt mục tiêu phát triển khu vực kinh tế tập thể năm 2027 theo hướng xanh, số và tuần hoàn. Thành phố phấn đấu thành lập mới từ 150 hợp tác xã, nâng tổng số đơn vị vượt mốc 3.000 với doanh thu bình quân 3,8 tỷ đồng/năm và thu nhập người lao động đạt 105 triệu đồng/năm...
  • Huế đưa vào hoạt động “Hiến kế”, “Hỗ trợ doanh nghiệp” và “Bản đồ số dự án thu hút đầu tư” trên Hue-S
    Các nền tảng số được TP Huế xây dựng để phục vụ công tác “tiếp nhận ý tưởng, giải pháp cho sự phát triển của TP Huế”, “giúp doanh nghiệp phản ánh khó khăn và theo dõi quá trình giải quyết” và “hỗ trợ nhà đầu tư tiếp cận thông tin các dự án ngoài ngân sách”.
Đừng bỏ lỡ
  • “Hành trình di sản Phú Thượng” được kể bằng công nghệ
    Họa đồ số "Phú Thượng - Phú Gia, nếp làng trong phố" vừa được ra mắt tại đình Phú Gia, mở ra một cách kể chuyện mới về vùng đất và con người nơi đây. Công nghệ số được đặt vào vai người giữ lửa cho di sản, nhất là với thế hệ trẻ.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Những hòn đá
    Không ai biết tại sao những người lạ lại chuyển thẳng vào cư trú trong cái làng bẩn thỉu, gồ ghề những đá là đá và quanh năm gió quật. Vợ chồng người lạ nọ đã mua một lâu đài đổ nát nằm trên đồi, sừng sững ở đó từ thuở ấu thơ của họ, và nó thuộc về ngôi làng...
  • Hà Nội biểu dương điển hình tiên tiến và vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú
    Chiều 9/10, Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội tổ chức hội nghị biểu dương điển hình tiên tiến, người tốt việc tốt; vinh danh “Công dân Thủ đô ưu tú” năm 2026.
  • Để tinh thần dám nghĩ, dám làm trở thành một giá trị trong văn hóa công vụ Thủ đô
    Đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng vừa ký ban hành Chương trình hành động số 18-CTr/TU ngày 01/10/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội về triển khai thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới. Không chỉ đặt ra những yêu cầu về cơ chế, tổ chức và công tác cán bộ, Chương trình còn hướng tới hình
  • Hội Nhà báo Thành phố Hà Nội khoá VIII: Phát huy truyền thống đoàn kết, xây dựng tập thể vững mạnh
    Chiều 8/10, Đại hội đại biểu Hội Nhà báo Thành phố Hà Nội khóa VIII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 diễn ra phiên họp chính thức. Đại hội là dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của Hội và đời sống báo chí Thủ đô trong kỷ nguyên mới.
  • Chương trình nghệ thuật đặc biệt “80 năm - vang mãi bản hùng ca Hà Nội”
    Tối 10/10/2026, tại khu vực Vườn hoa Đền Bà Kiệu (phường Hoàn Kiếm), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội phối hợp với Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt “80 năm - Vang mãi bản hùng ca Hà Nội”. Đây là chương trình nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống Lực lượng vũ trang Thủ đô Hà Nội (19/10/1946 - 19/10/2026).
  • Lớp học thời chiến và ký ức từ những vùng sơ tán
    Nhân kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2026), sáng 8/10, Bảo tàng Hà Nội tổ chức tọa đàm “Lớp học thời chiến - Ký ức từ những vùng sơ tán”. Những ký ức của những giáo viên, học sinh từng học tập, giảng dạy tại các vùng sơ tán trong những năm chiến tranh được chia sẻ trong tọa đàm đã tái hiện một giai đoạn đặc biệt của giáo dục Thủ đô.
  • Những tác phẩm điện ảnh kinh điển lên sóng Hà Nội 1
    Bắt đầu từ ngày 8/10/2026, chương trình “Hẹn với phim Việt” sẽ đến với khán giả vào lúc 20h30 hằng ngày trên kênh Hà Nội 1, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội. Những tác phẩm điện ảnh kinh điển cùng các bộ phim Việt Nam đặc sắc sẽ mở ra một cuộc hẹn với ký ức, lịch sử và những giá trị bền lâu của điện ảnh dân tộc.
  • [Podcast] Tản văn: Thoáng đến vội đi, hoa sưa lặng lẽ chia tay
    Nhà lan thanh vắng một mình/ Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay/ Thời trân thức thức sẵn bày/ Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường...
  • “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” - mạch nguồn nối dài qua các thế hệ
    80 năm đã đi qua kể từ mùa đông lịch sử năm 1946, nhưng tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” không chỉ được nhắc lại như một ký ức hào hùng. Tại Tọa đàm giao lưu nhân chứng lịch sử “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh - Bản hùng ca 80 năm” diễn ra tối 6/10, những câu chuyện từ chiến lũy Hà Nội năm 1946, trận địa phòng không năm 1972 đến thao trường, nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn và công việc của người lính hôm nay đã nối thành một mạch xuyên suốt.
Sơn Đồng - Nơi thổi hồn vào gỗ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO