Lý luận - phê bình

Mấy đặc trưng trong thơ Thăng Long - Hà Nội

Nhà thơ Vũ Quần Phương 06:55 13/10/2024

Để xác định những khác biệt của thơ Hà Nội so với thơ các địa phương khác cần nhìn lại cả quá trình phát triển của thơ từ thuở lập kinh đô, phải tính đến những tác phẩm không chỉ của những nhà thơ sinh ra và trưởng thành ở Hà Nội, mà còn của những nhà thơ từ những vùng quê khác về sống ở Thăng Long. Và chính họ, những nhà thơ bị (hoặc được) phong cách sống, phong cách thơ của Hà Nội đồng hóa, vốn đông đảo hơn các nhà thơ nguyên quán Hà Nội, đã đóng góp nhiều hơn để tạo nên phong cách trữ tình cho thơ đất đế đô.

den-ngoc-son-nhin-tu-tren-cao-anh-vietnamnet.jpg

Thời Lý, đạo Nho chưa độc tôn, đạo Phật đang nhập thế, quan hệ giữa vua quan và dân chúng chưa gay gắt, đời sống tinh thần, cả tư tưởng lẫn tình cảm còn nhiều cởi mở, đã tạo nên một thời kỳ phát triển lộng lẫy của nền thơ dân tộc. Thơ thời Lý vừa cụ thể, thiết thực giúp cho việc trị nước, an dân, khích lệ niềm vui sống, lòng yêu đời vừa thâm viễn, biện chứng bàn tới cõi huyền vi của sống chết, hưng vong. Đây là thời kỳ đất nước ta mới giành được độc lập thống nhất sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, cảm hứng thơ Thăng Long vì vậy có sức tự tin rất lớn (Mãn Giác, Từ Đạo Hạnh, Không Lộ... ). Sức tự tin này càng nổi trội trong thời Trần, thơ in dấu ba lần chiến thắng Nguyên Mông.

Nếu các thi sĩ thời Lý phần lớn là các thiền sư thì các thi sĩ nổi tiếng thời Trần lại là vua và các đại thần. Thơ thời Trần triết lý bản thể gắn nhiều với chính sự, võ công, khá đậm hơi hướng anh hùng ca, đặc biệt bàn nhiều về cách ứng xử, về những quan hệ. Đạo Phật trong thời Trần có những cải cách phù hợp với lối sống tích cực, nhập thế, cư trần lạc đạo. Thơ gần đời, ngay cả thơ của vua.
Thời Lê, tinh hoa thơ ca tụ lại ở Nguyễn Trãi và nhóm Tao Đàn với Lê Thánh Tông làm chủ soái. Thơ thời Lê tinh tế hơn trong những nỗi niềm cá thể, bộc lộ một lịch lãm hiểu người Non cao non thấp mây thuộc/ Cây cứng cây mềm gió hay, (Nguyễn Trãi); một cô đơn nhân tình thế thái, tự biết mình Lều cỏ việc đời không dính dáng/ Bóng non như cũ chiếu bên mình. (Lê Thánh Tôn). Đến thời Nguyễn, một loạt thi sĩ tài năng đã góp phần nâng cao cấp độ phản ánh hiện thực xã hội của thơ (Truyện Kiều), ngay cả ở các thể thơ vốn quen hình ảnh ước lệ (với Nguyễn Khuyến, Tú Xương), từ đó đặt nền móng cho chủ nghĩa nhân văn sâu sắc. Những thành tựu đó của thơ đã được thu hút và kết tụ ở thơ Thăng Long - Hà Nội, tạo nên phong cách thơ vừa đại diện cho thơ cả nước, vừa đặc thù cho thơ chốn đế đô.

Sang thời hiện đại, phong trào Thơ Mới, mới về hình thức (từ bỏ Đường luật), mới về nội dung (cái tôi của chủ nghĩa lãng mạn) đã diễn ra chủ yếu ở Hà Nội, gắn bó chặt chẽ với thành tựu của thơ Hà Nội. Chủ nghĩa nhân văn cổ điển về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi từ Nguyễn Du, Phạm Thái được phát huy với Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận và một loạt thi sĩ tài năng của giai đoạn 1932 - 1942.

Cách mạng tháng Tám 1945 tạo dựng một nền thơ mới về chất nhưng kế thừa hầu hết những đức tính của thơ quá khứ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Sự kế thừa này không phải đã đạt ngay trong một lúc mà là một quá trình khá gian lao, phải vượt qua nhiều cực đoan, ấu trĩ, hẹp hòi, không phải không ảnh hưởng tới sự phong phú của hơn nửa thế kỷ thơ ca cách mạng.

Phong cách trữ tình của thơ Hà Nội cũng như phong cách sống của người Hà Nội, ai cũng cảm nhận được nhưng diễn giải đầy đủ và cụ thể ra lại không dễ. Đó là một tổng hợp nhiều yếu tố liên quan hữu cơ với nhau:

Tính trữ tình lịch sử. Thủ đô, ở nước nào cũng vậy, đều là sân khấu của các sự kiện lịch sử dân tộc và thời đại. Thơ là ánh phản quang của các sự kiện đó qua tâm hồn các thi sĩ Thủ đô. Không khí cách mạng những ngày tháng Tám 1945, ngày toàn quốc kháng chiến tháng 12 năm 1946 không chỉ tràn vào thơ của các nhà thơ cách mạng, mà có mặt ở hầu hết các nhà thơ lãng mạn, những người còn được gọi là các nhà thơ tháp ngà, hay trốn tránh thực tại. Sau này, ngày tiếp quản Hà Nội 1954, ngày đại thắng thu non sông về một mối 1975 đều in bóng rất đậm vào thơ ca Hà Nội. Nếu giở lại những tuyển tập thơ Hà Nội, chúng ta dễ dàng được sống lại trong hồn mình tất cả những vui buồn của những năm tháng đó. Thơ Hà Nội đã lưu giữ trong lòng nó những khoảnh khắc đáng nhớ của lịch sử. Tiếng quả sấu rụng trên mái tôn buồn thời Hà Nội tạm chiếm, sự im lặng thảm sâu giữa hai loạt đạn bắn hạ giặc trời hồi chống chiến tranh phá hoại… Thơ Hà Nội đã thành cuốn sử biên niên của dân tộc, cuốn sử ghi trên tâm hồn con người.

mua-sen-trong-van-mieu-tranh-son-mai-cua-hoa-si-nguyen-chi-nguyen.jpg
Mùa sen trong Văn Miếu - tranh sơn mài của họa sĩ Nguyễn Chí Nguyện

Phẩm chất tinh tế, trang nhã, hào hoa… Có lẽ phải dùng nhiều hình dung từ nữa mới diễn đạt được đủ cái khái niệm thanh lịch của Tràng An. Thơ cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo, trên nền tảng công nông liên minh, nhưng lại do người Hà Nội viết nên vẫn cứ mang phẩm chất tinh tế hào hoa ấy. Đã có lắm rắc rối khi đánh giá phẩm chất này. Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng với những “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” đã bị phê phán khá nặng, trong nhiều năm vì cái gọi là tâm lý tiểu tư sản lạc lõng, thiếu ý chí chiến đấu. Thật ra đó chỉ là một khoảnh khắc tâm trạng của người trai Hà Nội những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, có cái hào hứng bồng bột đầy lãng mạn lúc ra đi không vương thê nhi thì tất yếu phải có lúc mơ dáng kiều thơm.Trong bài thơ “Sáng mát trong như sáng năm xưa”, Nguyễn Đình Thi mở đầu: “Sáng mát trong như sáng năm xưa/ Gió thổi mùa thu hương cốm mới/ Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em”. Sau này, bài thơ được sửa chữa thành bài “Đất nước”, cái dấu chân thơm trên cỏ bị xóa đi. Sinh thời, Nguyễn Đình Thi mỗi lần nhớ lại, vẫn tiếc, nhưng xóa đi cũng là tự anh, do anh nhạy cảm với từng thời điểm xã hội, thơ thời đó cần tác dụng cổ động, cần hòa với đa số. Ở đây cũng có những vấn đề đáng bàn, nhưng chúng tôi xin trở lại với khía cạnh hào hoa phong nhã của thơ Hà Nội. Trong quá trình trưởng thành, nền thơ cách mạng đã vượt dần những quan niệm thô thiển về chức năng thơ, tạo cơ hội cho thơ Hà Nội phát huy được yếu tố tinh tế sở trường mang tính thơ sâu đậm này.

Trữ tình của trí tuệ. Phong vị trữ tình Hà Nội kết tinh từ ngưỡng văn hóa dân tộc cao, hòa quyện với tinh hoa văn hóa nhân loại. Yếu tố này xuất phát từ trình độ dân trí của Thủ đô, nơi tập hợp những gương mặt trí thức lớn, những nhà thơ tài năng, nơi giao lưu những luồng tư tưởng mới, những cách tân thẩm mỹ. Phẩm chất trí tuệ của thơ Việt Nam thường được nâng cao từ những trung tâm giao lưu lớn như Sài Gòn, Huế, đặc biệt là ở Thủ đô. Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Việt Phương, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng,... từng tựa vào truyền thống thơ Thăng Long, từ các thiền sư đời Lý đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều... để đồng hóa những phẩm chất trí tuệ của thơ ca thế giới. Những cách tân thơ được khởi xướng ở nhiều nơi, nhưng thường đến đích ở Hà Nội. Phong trào Thơ Mới là một thí dụ. Thơ bậc thang, thơ chính luận rộng khổ cũng từng phát tích từ Hà Nội những năm 50, 60 thế kỷ trước. Hiện nay, các nhà thơ Hà Nội cũng đang nỗ lực một cách tự tin tìm tòi những hình thức mới cho thơ tương lai, góp phần tích cực của mình đối với nền thơ cả nước.

Chủ nghĩa nhân văn sâu đậm. Đây là đặc trưng bao quát, là hệ quả của các đặc trưng trên và xuyên suốt từ các thi sĩ lớn của các vương triều tới các nhà thơ tài năng đương đại. Đây chính là thiên lương của thơ. Thơ đương đại Hà Nội vừa tìm cảm hứng từ những đề tài lịch sử lớn lao vừa tỏ ra nhạy cảm với những buồn vui của từng cá thể người nhỏ bé. Chủ nghĩa nhân đạo trong thơ Hà Nội là kết tinh của tình cảm và cả của nhận thức. Thơ Hà Nội thật sự lớn lên từ khi biết nghiêng xuống những phận người bé nhỏ. Nỗi khổ, nỗi oan khiên của nhân dân không bao giờ chỉ là của một người. Nguyễn Du với “Văn chiêu hồn”, Tản Đà với “Thăm mả cũ bên đường”… và những bậc tiên liệt khác của không gian thơ Hà Nội luôn luôn toả sáng khích lệ những trái tim thơ lương thiện. Phẩm chất nhân văn của thơ Hà Nội bộc lộ phong phú, đa dạng tùy từng thời điểm lịch sử. Thời cách mạng 1945, nhân văn là ca ngợi sức mạnh giải phóng người lao khổ, thời kháng chiến là thể hiện tâm tình người đánh giặc cứu nước, là ghi ơn những hy sinh cao cả và thầm lặng của nhân dân, và giờ đây là tham gia xây dựng bằng được một xã hội công bằng dân chủ văn minh, xứng đáng với xương máu của biết bao thế hệ cha ông đã đổ.

Chúng ta hãy thử so sánh những tương đồng trong thành tựu của thơ Hà Nội trong già nửa thế kỷ qua với những thành công trong thơ ông cha ta: giọng anh hùng ca trong thơ thời Trần với giọng anh hùng ca của thơ thời chống Mỹ. “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi với thơ mừng đại thắng 1975 của Chế Lan Viên. Sự chăm sóc cái tôi thời Thơ Mới với mối quan tâm tới từng cá thể người của thơ thời Đổi Mới. Thành tựu sau kế thừa thành tựu trước và phát triển theo yêu cầu của thời đại. Thí dụ cái tôi thời Thơ Mới đòi hỏi tự do tình cảm, cái tôi bây giờ đòi hỏi tự do nhận thức. Một thí dụ khác: Có thời, như trong kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954, thơ cố gắng nhận đường, tìm đường để ra khỏi những tâm trạng cá thể riêng tư, để nhập vào sự kiện xã hội rộng lớn. Cái thời mà nhiều câu thơ kỳ ảo của “Tây Tiến” (Quang Dũng) bị phê phán và cách cảm nghĩ thiên về nội tâm của Nguyễn Đình Thi bị nhắc nhở. Việc thời ấy có lý do của thời ấy. Chỉ tiếc trong quan niệm, chúng ta thiếu sự rành mạch, chi tiết nên khi vận dụng đại trà làm sai lệch cả chủ trương. Thơ nên tránh sa vào tâm trạng của người ngồi trong “tháp ngà”, tách biệt với đời sống toàn dân kháng chiến hồi ấy, chứ không phải thơ tránh “tâm trạng”, tránh nội tâm để chỉ kể sự kiện. Từ quốc sách Đổi Mới, trong thơ Hà Nội thấy hiện rõ một hướng tìm: khám phá tâm trạng. Do vậy mà thơ phong phú hơn, hàm súc hơn, thâu tóm việc đời hơn. “Cuộc chia ly màu đỏ”, dựa trên một tứ thơ ước lệ (màu áo đỏ) làm hiện lên chân thật tâm trạng lứa thanh niên ra trận, cao cả xót đau. Đến nay, tôi nghĩ bài thơ của Nguyễn Mỹ vẫn ở hàng đầu trong chủ đề tiễn biệt chia ly của mọi thời.

Một điểm cần ghi nhận là rất khó tách những đặc trưng của thơ Hà Nội ra khỏi thành tựu của thơ Việt Nam chỉ vì Hà Nội là Thủ đô, mọi tinh hoa, kể cả tinh hoa thơ, của cả nước tụ về. Và rồi từ đấy lại khuếch tán ra toàn quốc các nhà thơ mang hộ khẩu Hà Nội có quyền tự hào với nền thơ Hà Nội và càng cần đòi hỏi mình trong lao động thơ, sao cho xứng với những đóng góp to lớn vào Hà Nội của các nhà thơ từ mọi quê hương trong cả nước./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Đánh thức di sản, tạo động lực phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô
    PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Uỷ viên chuyên trách, Uỷ ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội chia sẻ, Hà Nội là nơi mỗi bước chân đều có thể chạm vào lịch sử, mỗi tên phố, tên làng, mái đình, mặt hồ, nếp nhà, câu hát, món ăn, làn điệu, nghề thủ công đều có thể kể một câu chuyện về chiều sâu văn hiến của dân tộc. Nhưng trong kỷ nguyên mới, câu hỏi đặt ra không chỉ Hà Nội có bao nhiêu di sản, bao nhiêu văn nghệ sĩ, trí thức, không gian ký ức, mà là làm thế nào để những giá trị ấy trở thành nguồn lực phát triển, thành sức mạnh mềm, thành động lực sáng tạo, thành năng lực cạnh tranh của Thủ đô.
  • [Podcast] Tản văn: Chiếc ghế mây của cha
    Những ngày mưa to gió lớn, không đi làm nương được, mẹ rủ đám con gái chúng tôi lấy ghế mây ra đầu hè ngồi khâu vá. Bà nội tôi đeo kính lão xỏ kim, bà cười móm mém theo những câu chuyện kể tếu táo của đám trẻ chúng tôi. Chiếc ghế mây phát ra âm thanh kin kít chịu đựng sức nặng cơ thể con người theo những điệu cười khúc khích.
  • Triển lãm “Ngàn năm di sản” quy tụ hơn 120 tác phẩm hội họa
    Hướng tới chuỗi sự kiện trọng đại kỷ niệm 950 năm Quốc Tử Giám (1076 – 2026) cùng 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, triển lãm mỹ thuật mang tên “Ngàn năm di sản” sẽ chính thức khai mạc vào ngày 8/8 tại Nhà Thái Học, Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Sự kiện kéo dài đến ngày 25/9/2026 hứa hẹn trở thành điểm đến văn hóa đầy sức hút, góp phần làm phong phú đời sống nghệ thuật của Thủ đô trong mùa thu này.
  • “Thang đi tìm nhà” - câu chuyện về sự kết nối trong không gian sống nhiều thế hệ
    Thay vì xem thang máy gia đình là một thiết bị vận chuyển, Thang máy Huy Hoàng lựa chọn kể câu chuyện “Thang đi tìm nhà” - hành trình một sản phẩm tìm đến không gian phù hợp để trở thành một phần của kiến trúc, đời sống và ký ức gia đình.
  • Mỗi người dân Thủ đô sẽ có một Sổ sức khỏe điện tử thống nhất trên VNeID
    Nhằm nâng cao chất lượng quản lý y tế và hiện đại hóa dịch vụ công, Thành phố Hà Nội đã chính thức khởi động Chiến dịch làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu y tế chuyên ngành và tích hợp Sổ sức khỏe điện tử trên ứng dụng VNeID. Chương trình trọng điểm này hứa hẹn giúp mỗi người dân Thủ đô làm chủ một hồ sơ sức khỏe điện tử duy nhất, cho phép theo dõi và chăm sóc sức khỏe toàn diện theo vòng đời trên không gian mạng.
Đừng bỏ lỡ
  • Thực hiện Luật Thủ đô 2026, Hà Nội tăng cường quản lý nhà nước về dịch vụ lữ hành
    Triển khai Luật Thủ đô 2026 có hiệu lực từ ngày 1/7, các quy định của Luật Du lịch và văn bản hướng dẫn liên quan trong hoạt động kinh doanh du dịch; Sở Du lịch Hà Nội đề nghị các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành trên địa bàn thành phố thực hiện một số nội dung quan trọng. Qua đó góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển du lịch Hà Nội năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.
  • Ra mắt bộ sách "Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz" bằng tiếng Tây Ban Nha
    Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz (13/8/1926 - 13/8/2026) - nhà lãnh đạo kiệt xuất của Cách mạng Cuba, người bạn lớn, người đồng chí thủy chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, chiều 5/8, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Lễ giới thiệu bộ sách “Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz” gồm 24 tập bằng tiếng Tây Ban Nha.
  • Xây dựng Lễ hội Trung thu Thành cổ Sơn Tây thành sản phẩm văn hóa đặc trưng của Hà Nội
    Lễ hội “Trung thu Thành cổ - Sơn Tây xứ Đoài” năm 2026 do UBND phường Sơn Tây (TP Hà Nội) tổ chức sẽ diễn ra từ cuối tháng 8/2026. Hiện tại, công tác chuẩn bị Lễ hội đang được chính quyền phường Sơn Tây cùng các phòng, ban, ngành, đơn vị và 25 tổ dân phố khẩn trương triển khai, tạo khí thế sôi nổi, sẵn sàng mang đến cho Nhân dân và du khách một mùa Trung thu quy mô, đặc sắc và giàu bản sắc văn hóa xứ Đoài.
  • Phát động Cuộc thi trực tuyến “Thủ đô Hà Nội cùng dân tộc trong kỷ nguyên mới” trên ứng dụng iHanoi
    Không chỉ đơn thuần là một đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn, cuộc thi trực tuyến với tên gọi "Thủ đô Hà Nội cùng dân tộc trong kỷ nguyên mới" hướng đến việc biến những định hướng chiến lược trong Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị thành niềm tin, thành nhận thức chung của mỗi người dân.
  • Nửa chân trời trong sương
    Làng tôi ven sông Yên, một nhánh sông quanh năm lững lờ chảy qua những bãi bồi ngập cỏ. Con đường đất dẫn vào làng uốn cong cong, bốn mùa nồng nàn hương hoa cỏ. Những buổi hoàng hôn, khi nắng đã dịu xuống phía cuối sông, đám hoa tím lại thẫm màu như có ai vừa rắc lên một lớp khói.
  • Tôn vinh âm nhạc truyền thống tại “Cuộc thi Độc tấu và Hòa tấu nhạc cụ dân tộc toàn quốc - 2026”
    Ban tổ chức yêu cầu các tác phẩm tham dự “Cuộc thi Độc tấu và Hòa tấu nhạc cụ dân tộc toàn quốc - 2026” phải giữ được phong cách, âm hưởng dân gian đặc trưng hoặc được hòa âm, phối khí mới trên nền tảng làn điệu âm nhạc truyền thống Việt Nam, đồng thời phải được trình diễn trực tiếp bằng nhạc cụ dân tộc.
  • Chùm thơ của tác giả Nguyễn Thanh Kim
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Nguyễn Thanh Kim.
  • Âm nhạc cuối tuần: “Chất men” văn hóa giữa lòng Hà Nội
    Chiều cuối tuần tại Nhà Bát Giác, những thanh âm đầu tiên của "Hà Nội - Niềm tin và hy vọng" vang lên như một lời chào quen thuộc dành cho người dân và du khách. Tiếp sau đó, những giai điệu jazz kinh điển của thế giới lần lượt cất lên qua phần biểu diễn của NSƯT Quyền Văn Minh và các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club, mở ra một không gian âm nhạc giàu cảm xúc ngay giữa trung tâm Thủ đô.
  • Đưa nghệ thuật truyền thống đến gần công chúng, bồi đắp tình yêu lịch sử qua “Âm nhạc cộng đồng”
    Tối 2/8, tại Nhà Bát Giác, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện đã mang đến cho đông đảo người dân và du khách một không gian nghệ thuật đa sắc, nơi những làn điệu cải lương, ca cổ, tân cổ và các tiết mục múa hòa quyện trong không gian của phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Đặc biệt, chương trình có sự giao lưu của các nghệ sĩ đến từ phương Nam, góp phần tạo nên cuộc gặp gỡ nghệ thuật giàu cảm xúc.
  • “Chuyện Hà Nội - Một ngày rất Hà Nội”: Kích cầu du lịch văn hóa, kinh tế đêm Thủ đô
    “Chuyện Hà Nội - Một ngày rất Hà Nội” - chương trình nghệ thuật do Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long thực hiện, đã ra mắt công chúng vào tối 30/7 tại Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long (số 31 - 33 phố Lương Văn Can, phường Hoàn Kiếm).
Mấy đặc trưng trong thơ Thăng Long - Hà Nội
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO