Lý luận - phê bình

Mấy đặc trưng trong thơ Thăng Long - Hà Nội

Nhà thơ Vũ Quần Phương 06:55 13/10/2024

Để xác định những khác biệt của thơ Hà Nội so với thơ các địa phương khác cần nhìn lại cả quá trình phát triển của thơ từ thuở lập kinh đô, phải tính đến những tác phẩm không chỉ của những nhà thơ sinh ra và trưởng thành ở Hà Nội, mà còn của những nhà thơ từ những vùng quê khác về sống ở Thăng Long. Và chính họ, những nhà thơ bị (hoặc được) phong cách sống, phong cách thơ của Hà Nội đồng hóa, vốn đông đảo hơn các nhà thơ nguyên quán Hà Nội, đã đóng góp nhiều hơn để tạo nên phong cách trữ tình cho thơ đất đế đô.

den-ngoc-son-nhin-tu-tren-cao-anh-vietnamnet.jpg

Thời Lý, đạo Nho chưa độc tôn, đạo Phật đang nhập thế, quan hệ giữa vua quan và dân chúng chưa gay gắt, đời sống tinh thần, cả tư tưởng lẫn tình cảm còn nhiều cởi mở, đã tạo nên một thời kỳ phát triển lộng lẫy của nền thơ dân tộc. Thơ thời Lý vừa cụ thể, thiết thực giúp cho việc trị nước, an dân, khích lệ niềm vui sống, lòng yêu đời vừa thâm viễn, biện chứng bàn tới cõi huyền vi của sống chết, hưng vong. Đây là thời kỳ đất nước ta mới giành được độc lập thống nhất sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, cảm hứng thơ Thăng Long vì vậy có sức tự tin rất lớn (Mãn Giác, Từ Đạo Hạnh, Không Lộ... ). Sức tự tin này càng nổi trội trong thời Trần, thơ in dấu ba lần chiến thắng Nguyên Mông.

Nếu các thi sĩ thời Lý phần lớn là các thiền sư thì các thi sĩ nổi tiếng thời Trần lại là vua và các đại thần. Thơ thời Trần triết lý bản thể gắn nhiều với chính sự, võ công, khá đậm hơi hướng anh hùng ca, đặc biệt bàn nhiều về cách ứng xử, về những quan hệ. Đạo Phật trong thời Trần có những cải cách phù hợp với lối sống tích cực, nhập thế, cư trần lạc đạo. Thơ gần đời, ngay cả thơ của vua.
Thời Lê, tinh hoa thơ ca tụ lại ở Nguyễn Trãi và nhóm Tao Đàn với Lê Thánh Tông làm chủ soái. Thơ thời Lê tinh tế hơn trong những nỗi niềm cá thể, bộc lộ một lịch lãm hiểu người Non cao non thấp mây thuộc/ Cây cứng cây mềm gió hay, (Nguyễn Trãi); một cô đơn nhân tình thế thái, tự biết mình Lều cỏ việc đời không dính dáng/ Bóng non như cũ chiếu bên mình. (Lê Thánh Tôn). Đến thời Nguyễn, một loạt thi sĩ tài năng đã góp phần nâng cao cấp độ phản ánh hiện thực xã hội của thơ (Truyện Kiều), ngay cả ở các thể thơ vốn quen hình ảnh ước lệ (với Nguyễn Khuyến, Tú Xương), từ đó đặt nền móng cho chủ nghĩa nhân văn sâu sắc. Những thành tựu đó của thơ đã được thu hút và kết tụ ở thơ Thăng Long - Hà Nội, tạo nên phong cách thơ vừa đại diện cho thơ cả nước, vừa đặc thù cho thơ chốn đế đô.

Sang thời hiện đại, phong trào Thơ Mới, mới về hình thức (từ bỏ Đường luật), mới về nội dung (cái tôi của chủ nghĩa lãng mạn) đã diễn ra chủ yếu ở Hà Nội, gắn bó chặt chẽ với thành tựu của thơ Hà Nội. Chủ nghĩa nhân văn cổ điển về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi từ Nguyễn Du, Phạm Thái được phát huy với Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận và một loạt thi sĩ tài năng của giai đoạn 1932 - 1942.

Cách mạng tháng Tám 1945 tạo dựng một nền thơ mới về chất nhưng kế thừa hầu hết những đức tính của thơ quá khứ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Sự kế thừa này không phải đã đạt ngay trong một lúc mà là một quá trình khá gian lao, phải vượt qua nhiều cực đoan, ấu trĩ, hẹp hòi, không phải không ảnh hưởng tới sự phong phú của hơn nửa thế kỷ thơ ca cách mạng.

Phong cách trữ tình của thơ Hà Nội cũng như phong cách sống của người Hà Nội, ai cũng cảm nhận được nhưng diễn giải đầy đủ và cụ thể ra lại không dễ. Đó là một tổng hợp nhiều yếu tố liên quan hữu cơ với nhau:

Tính trữ tình lịch sử. Thủ đô, ở nước nào cũng vậy, đều là sân khấu của các sự kiện lịch sử dân tộc và thời đại. Thơ là ánh phản quang của các sự kiện đó qua tâm hồn các thi sĩ Thủ đô. Không khí cách mạng những ngày tháng Tám 1945, ngày toàn quốc kháng chiến tháng 12 năm 1946 không chỉ tràn vào thơ của các nhà thơ cách mạng, mà có mặt ở hầu hết các nhà thơ lãng mạn, những người còn được gọi là các nhà thơ tháp ngà, hay trốn tránh thực tại. Sau này, ngày tiếp quản Hà Nội 1954, ngày đại thắng thu non sông về một mối 1975 đều in bóng rất đậm vào thơ ca Hà Nội. Nếu giở lại những tuyển tập thơ Hà Nội, chúng ta dễ dàng được sống lại trong hồn mình tất cả những vui buồn của những năm tháng đó. Thơ Hà Nội đã lưu giữ trong lòng nó những khoảnh khắc đáng nhớ của lịch sử. Tiếng quả sấu rụng trên mái tôn buồn thời Hà Nội tạm chiếm, sự im lặng thảm sâu giữa hai loạt đạn bắn hạ giặc trời hồi chống chiến tranh phá hoại… Thơ Hà Nội đã thành cuốn sử biên niên của dân tộc, cuốn sử ghi trên tâm hồn con người.

mua-sen-trong-van-mieu-tranh-son-mai-cua-hoa-si-nguyen-chi-nguyen.jpg
Mùa sen trong Văn Miếu - tranh sơn mài của họa sĩ Nguyễn Chí Nguyện

Phẩm chất tinh tế, trang nhã, hào hoa… Có lẽ phải dùng nhiều hình dung từ nữa mới diễn đạt được đủ cái khái niệm thanh lịch của Tràng An. Thơ cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo, trên nền tảng công nông liên minh, nhưng lại do người Hà Nội viết nên vẫn cứ mang phẩm chất tinh tế hào hoa ấy. Đã có lắm rắc rối khi đánh giá phẩm chất này. Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng với những “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” đã bị phê phán khá nặng, trong nhiều năm vì cái gọi là tâm lý tiểu tư sản lạc lõng, thiếu ý chí chiến đấu. Thật ra đó chỉ là một khoảnh khắc tâm trạng của người trai Hà Nội những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, có cái hào hứng bồng bột đầy lãng mạn lúc ra đi không vương thê nhi thì tất yếu phải có lúc mơ dáng kiều thơm.Trong bài thơ “Sáng mát trong như sáng năm xưa”, Nguyễn Đình Thi mở đầu: “Sáng mát trong như sáng năm xưa/ Gió thổi mùa thu hương cốm mới/ Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em”. Sau này, bài thơ được sửa chữa thành bài “Đất nước”, cái dấu chân thơm trên cỏ bị xóa đi. Sinh thời, Nguyễn Đình Thi mỗi lần nhớ lại, vẫn tiếc, nhưng xóa đi cũng là tự anh, do anh nhạy cảm với từng thời điểm xã hội, thơ thời đó cần tác dụng cổ động, cần hòa với đa số. Ở đây cũng có những vấn đề đáng bàn, nhưng chúng tôi xin trở lại với khía cạnh hào hoa phong nhã của thơ Hà Nội. Trong quá trình trưởng thành, nền thơ cách mạng đã vượt dần những quan niệm thô thiển về chức năng thơ, tạo cơ hội cho thơ Hà Nội phát huy được yếu tố tinh tế sở trường mang tính thơ sâu đậm này.

Trữ tình của trí tuệ. Phong vị trữ tình Hà Nội kết tinh từ ngưỡng văn hóa dân tộc cao, hòa quyện với tinh hoa văn hóa nhân loại. Yếu tố này xuất phát từ trình độ dân trí của Thủ đô, nơi tập hợp những gương mặt trí thức lớn, những nhà thơ tài năng, nơi giao lưu những luồng tư tưởng mới, những cách tân thẩm mỹ. Phẩm chất trí tuệ của thơ Việt Nam thường được nâng cao từ những trung tâm giao lưu lớn như Sài Gòn, Huế, đặc biệt là ở Thủ đô. Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Việt Phương, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng,... từng tựa vào truyền thống thơ Thăng Long, từ các thiền sư đời Lý đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều... để đồng hóa những phẩm chất trí tuệ của thơ ca thế giới. Những cách tân thơ được khởi xướng ở nhiều nơi, nhưng thường đến đích ở Hà Nội. Phong trào Thơ Mới là một thí dụ. Thơ bậc thang, thơ chính luận rộng khổ cũng từng phát tích từ Hà Nội những năm 50, 60 thế kỷ trước. Hiện nay, các nhà thơ Hà Nội cũng đang nỗ lực một cách tự tin tìm tòi những hình thức mới cho thơ tương lai, góp phần tích cực của mình đối với nền thơ cả nước.

Chủ nghĩa nhân văn sâu đậm. Đây là đặc trưng bao quát, là hệ quả của các đặc trưng trên và xuyên suốt từ các thi sĩ lớn của các vương triều tới các nhà thơ tài năng đương đại. Đây chính là thiên lương của thơ. Thơ đương đại Hà Nội vừa tìm cảm hứng từ những đề tài lịch sử lớn lao vừa tỏ ra nhạy cảm với những buồn vui của từng cá thể người nhỏ bé. Chủ nghĩa nhân đạo trong thơ Hà Nội là kết tinh của tình cảm và cả của nhận thức. Thơ Hà Nội thật sự lớn lên từ khi biết nghiêng xuống những phận người bé nhỏ. Nỗi khổ, nỗi oan khiên của nhân dân không bao giờ chỉ là của một người. Nguyễn Du với “Văn chiêu hồn”, Tản Đà với “Thăm mả cũ bên đường”… và những bậc tiên liệt khác của không gian thơ Hà Nội luôn luôn toả sáng khích lệ những trái tim thơ lương thiện. Phẩm chất nhân văn của thơ Hà Nội bộc lộ phong phú, đa dạng tùy từng thời điểm lịch sử. Thời cách mạng 1945, nhân văn là ca ngợi sức mạnh giải phóng người lao khổ, thời kháng chiến là thể hiện tâm tình người đánh giặc cứu nước, là ghi ơn những hy sinh cao cả và thầm lặng của nhân dân, và giờ đây là tham gia xây dựng bằng được một xã hội công bằng dân chủ văn minh, xứng đáng với xương máu của biết bao thế hệ cha ông đã đổ.

Chúng ta hãy thử so sánh những tương đồng trong thành tựu của thơ Hà Nội trong già nửa thế kỷ qua với những thành công trong thơ ông cha ta: giọng anh hùng ca trong thơ thời Trần với giọng anh hùng ca của thơ thời chống Mỹ. “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi với thơ mừng đại thắng 1975 của Chế Lan Viên. Sự chăm sóc cái tôi thời Thơ Mới với mối quan tâm tới từng cá thể người của thơ thời Đổi Mới. Thành tựu sau kế thừa thành tựu trước và phát triển theo yêu cầu của thời đại. Thí dụ cái tôi thời Thơ Mới đòi hỏi tự do tình cảm, cái tôi bây giờ đòi hỏi tự do nhận thức. Một thí dụ khác: Có thời, như trong kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954, thơ cố gắng nhận đường, tìm đường để ra khỏi những tâm trạng cá thể riêng tư, để nhập vào sự kiện xã hội rộng lớn. Cái thời mà nhiều câu thơ kỳ ảo của “Tây Tiến” (Quang Dũng) bị phê phán và cách cảm nghĩ thiên về nội tâm của Nguyễn Đình Thi bị nhắc nhở. Việc thời ấy có lý do của thời ấy. Chỉ tiếc trong quan niệm, chúng ta thiếu sự rành mạch, chi tiết nên khi vận dụng đại trà làm sai lệch cả chủ trương. Thơ nên tránh sa vào tâm trạng của người ngồi trong “tháp ngà”, tách biệt với đời sống toàn dân kháng chiến hồi ấy, chứ không phải thơ tránh “tâm trạng”, tránh nội tâm để chỉ kể sự kiện. Từ quốc sách Đổi Mới, trong thơ Hà Nội thấy hiện rõ một hướng tìm: khám phá tâm trạng. Do vậy mà thơ phong phú hơn, hàm súc hơn, thâu tóm việc đời hơn. “Cuộc chia ly màu đỏ”, dựa trên một tứ thơ ước lệ (màu áo đỏ) làm hiện lên chân thật tâm trạng lứa thanh niên ra trận, cao cả xót đau. Đến nay, tôi nghĩ bài thơ của Nguyễn Mỹ vẫn ở hàng đầu trong chủ đề tiễn biệt chia ly của mọi thời.

Một điểm cần ghi nhận là rất khó tách những đặc trưng của thơ Hà Nội ra khỏi thành tựu của thơ Việt Nam chỉ vì Hà Nội là Thủ đô, mọi tinh hoa, kể cả tinh hoa thơ, của cả nước tụ về. Và rồi từ đấy lại khuếch tán ra toàn quốc các nhà thơ mang hộ khẩu Hà Nội có quyền tự hào với nền thơ Hà Nội và càng cần đòi hỏi mình trong lao động thơ, sao cho xứng với những đóng góp to lớn vào Hà Nội của các nhà thơ từ mọi quê hương trong cả nước./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
    Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
  • Ngô Thanh Vân, vẻ đẹp kỳ diệu của nỗi buồn
    Người xưa rất coi trọng phần nội tâm (tình) trong thơ. Không có văn bản văn học nào thể hiện cái tôi cá nhân rõ như thơ. Nói như nhà văn Trịnh Bích Ngân: “Thơ không chịu được sự che đậy... Dũng cảm phơi bày. Chân thành phơi bày”.
  • Thao thức với phần đời chiến trận
    Có thể nói cuộc kháng chiến trường kỳ hào hùng và bi tráng của dân tộc, ở bất kỳ trạng huống nào dường như đã chi phối và tạo động lực cho đội ngũ văn nghệ sĩ, những người cầm bút suy nghĩ và sáng tạo. Ta hiểu vì sao ngay trong cuộc sống thời bình, trong đời sống dân sự, những hình ảnh của ngày hôm qua vẫn khiến con người luôn “thao thức với phần đời chiến trận”.
  • Phát huy vai trò của văn nghệ sĩ Thủ đô trong phát triển công nghiệp văn hóa
    Hà Nội - Thủ đô tự nhiên của lưu vực sông Hồng, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước từ ngàn xưa đã là nơi hội tụ và đào luyện nhân tài. Phần lớn danh nhân Việt Nam từng sống, làm việc, sáng tạo ở Thăng Long - Hà Nội, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc. Ở mảnh đất hội tụ tinh hoa văn hóa bốn phương ấy, con người Thăng Long mang trong mình nét tài hoa, đa tài, đa nghệ, thấm đẫm bản sắc trí tuệ và tinh thần sáng tạo. Trong đó, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ - những người sinh ra, lớn lên
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 2026: Kết nối cộng đồng, tôn vinh di sản tại Ngôi nhà chung
    Từ ngày 17 đến 19/4/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức chuỗi hoạt động Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam. Sự kiện không chỉ là dịp tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống mà còn góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh phát triển mới.
  • [Podcast] Tản văn: Những cơn mưa mùa hạ
    Hè về, không chỉ có tiếng ve râm ran hay ánh nắng chói chang nhuộm vàng lối đi mà còn có những cơn mưa. Mưa mùa hạ ồn ào, vội vã kéo đến cùng những trận giông bất chợt. Nó không buồn bã, dai dẳng như mưa phùn cuối đông mà dứt khoát, mạnh mẽ, đổ ào xuống rồi vội vã tạnh. Mưa tạt vào những ô cửa kính, len lỏi qua từng ngóc ngách ký ức, khẽ đánh thức một miền tuổi thơ xa xăm, ướt đẫm hương mưa và kỷ niệm.
  • Nâng cao nhận thức về Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới
    “Tài liệu bồi dưỡng nhận thức về Đảng” (xuất bản lần thứ 24, có sửa chữa, bổ sung theo Văn kiện Đại hội XIV) cập nhật toàn diện các quan điểm chỉ đạo mới, đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng lý luận trong kỷ nguyên phát triển của dân tộc. Nội dung tài liệu tập trung làm rõ tầm nhìn về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đồng thời khơi dậy khát vọng cống hiến của thế hệ trẻ. Đây là hành trang chính trị quan trọng, góp phần hình thành bản lĩnh, tư duy để học viên lớp đối tượng kết nạp Đảng sẵn sàng đứng vào hàng ngũ của Đảng.
  • Đẩy mạnh truyền thông an toàn thực phẩm: Nâng cao nhận thức, bảo vệ sức khỏe cộng đồng Thủ đô
    Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Công văn số 632-CV/BTGDVTU ngày 31/3/2026, yêu cầu tăng cường công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và Nhân dân trong bảo đảm an toàn thực phẩm. Trong bối cảnh còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ vi phạm, nhiệm vụ này không chỉ mang tính cấp thiết mà còn có ý nghĩa lâu dài đối với sức khỏe cộng đồng và trật tự xã hội.
  • Phát động “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”
    Phát động 500 ngày đêm và phấn đấu đến dịp kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ sẽ tìm kiếm, quy tập được 7.000 hài cốt liệt sĩ, xác định danh tính được khoảng 18.000 mẫu.
Đừng bỏ lỡ
  • Phát huy sức lan tỏa của Cuộc thi chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tại Thủ đô
    Đồng chí Nguyễn Trọng Đông, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội vừa ký ban hành Quyết định số 1460-QĐ/TU ngày 30/3/2026 về việc thành lập Ban Chỉ đạo Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ Sáu, năm 2026 trên địa bàn Thành phố Hà Nội, tạo cơ sở để tổ chức cuộc thi bài bản, hiệu quả, góp phần nâng cao nhận thức và lan tỏa giá trị trong toàn xã hội.
  • Hà Nội xếp hạng 6 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh
    Phó Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Thu Hà vừa ký ban hành Quyết định 1458/QĐ-UBND về việc xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Bảo tàng Hà Nội được công nhận điểm du lịch
    UBND Thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định 1423/QĐ-UBND về việc công nhận điểm du lịch Bảo tàng Hà Nội. Bảo tàng Hà Nội sẽ từng bước chuyển hóa di sản thành tài sản, góp phần phát triển công nghiệp văn hóa và nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến.
  • Ra mắt bộ sách tranh “Truyện cổ mới về gã sói”
    Crabit Kidbooks liên kết với NXB Hà Nội vừa ra mắt độc giả Việt Nam bộ sách tranh thiếu nhi “Truyện cổ mới về gã sói” của tác giả, họa sĩ người Pháp Philippe Jalbert. Bộ sách gồm ba tựa: Vụ trộm lúc nửa đêm, Theo chân cô gà mái mơ, Món mới cho kẻ sành ăn.
  • Lễ Giỗ tổ 2026: Nhiều hoạt động mang đậm giá trị văn hóa thời đại Hùng Vương
    Năm 2026, UBND tỉnh Phú Thọ tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng và Tuần Văn hóa - Du lịch Đất Tổ với các nghi thức trang nghiêm, thành kính và nhiều hoạt động văn hóa, thể thao phong phú, đặc sắc, mang đậm giá trị văn hóa thời đại Hùng Vương, được kế thừa và lan tỏa trong đời sống đương đại.
  • Trình chiếu 17 bộ phim Việt Nam tiêu biểu tại DANAFF IV
    Tại Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng lần thứ IV (DANAFF IV) năm nay, 17 tác phẩm điện ảnh tiêu biểu sẽ được trình chiếu tại chương trình đặc biệt mang tên “Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm thời kỳ Đổi mới”. Đây là dịp hiếm có để công chúng thưởng thức lại những thước phim mang đậm dấu ấn lịch sử trên màn ảnh rộng.
  • Đẩy mạnh truyền thông mô hình thư viện cơ sở, lan tỏa văn hóa đọc
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa ban hành Quyết định số 560/QĐ-BVHTTDL ngày 18/3/2026 quyết định ban hành Kế hoạch triển khai các hoạt động truyền thông đối với mô hình thư viện cơ sở trong phát triển văn hóa đọc.
  • Khai mạc Lễ hội Di tích Quốc gia đặc biệt đền Bạch Mã năm 2026
    Là một trong “Thăng Long tứ trấn”, đền Bạch Mã giữ vị trí đặc biệt trong không gian văn hóa tâm linh của kinh đô cổ, đóng vai trò điểm tựa tinh thần bền vững cho đời sống xã hội và sự phát triển của khu phố cổ Hà Nội.
  • Cơ hội trải nghiệm sắc màu văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Ngôi nhà chung
    Từ ngày 1/4 đến 3/5/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam sẽ diễn ra chuỗi hoạt động tháng 4 với chủ đề “Sắc màu văn hóa các dân tộc Việt Nam”. Chuỗi sự kiện được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú, đa dạng, góp phần giới thiệu, quảng bá và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.
  • Nghị quyết số 02-NQ/TW: Kiến tạo, phát triển không gian đô thị Hà Nội vươn tầm thế giới
    Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới, đã định hình cuộc cách mạng không gian với tầm nhìn thế kỷ cho Thủ đô. Từ đó, Hà Nội vươn mình trở thành một chùm đô thị đa cực, xanh, thông minh, nơi giao thông và hệ sinh thái đóng vai trò là hai trụ cột song hành trong thời kỳ phát triển mới.
Mấy đặc trưng trong thơ Thăng Long - Hà Nội
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO