Lý luận - phê bình

Mấy đặc trưng trong thơ Thăng Long - Hà Nội

Nhà thơ Vũ Quần Phương 06:55 13/10/2024

Để xác định những khác biệt của thơ Hà Nội so với thơ các địa phương khác cần nhìn lại cả quá trình phát triển của thơ từ thuở lập kinh đô, phải tính đến những tác phẩm không chỉ của những nhà thơ sinh ra và trưởng thành ở Hà Nội, mà còn của những nhà thơ từ những vùng quê khác về sống ở Thăng Long. Và chính họ, những nhà thơ bị (hoặc được) phong cách sống, phong cách thơ của Hà Nội đồng hóa, vốn đông đảo hơn các nhà thơ nguyên quán Hà Nội, đã đóng góp nhiều hơn để tạo nên phong cách trữ tình cho thơ đất đế đô.

den-ngoc-son-nhin-tu-tren-cao-anh-vietnamnet.jpg

Thời Lý, đạo Nho chưa độc tôn, đạo Phật đang nhập thế, quan hệ giữa vua quan và dân chúng chưa gay gắt, đời sống tinh thần, cả tư tưởng lẫn tình cảm còn nhiều cởi mở, đã tạo nên một thời kỳ phát triển lộng lẫy của nền thơ dân tộc. Thơ thời Lý vừa cụ thể, thiết thực giúp cho việc trị nước, an dân, khích lệ niềm vui sống, lòng yêu đời vừa thâm viễn, biện chứng bàn tới cõi huyền vi của sống chết, hưng vong. Đây là thời kỳ đất nước ta mới giành được độc lập thống nhất sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, cảm hứng thơ Thăng Long vì vậy có sức tự tin rất lớn (Mãn Giác, Từ Đạo Hạnh, Không Lộ... ). Sức tự tin này càng nổi trội trong thời Trần, thơ in dấu ba lần chiến thắng Nguyên Mông.

Nếu các thi sĩ thời Lý phần lớn là các thiền sư thì các thi sĩ nổi tiếng thời Trần lại là vua và các đại thần. Thơ thời Trần triết lý bản thể gắn nhiều với chính sự, võ công, khá đậm hơi hướng anh hùng ca, đặc biệt bàn nhiều về cách ứng xử, về những quan hệ. Đạo Phật trong thời Trần có những cải cách phù hợp với lối sống tích cực, nhập thế, cư trần lạc đạo. Thơ gần đời, ngay cả thơ của vua.
Thời Lê, tinh hoa thơ ca tụ lại ở Nguyễn Trãi và nhóm Tao Đàn với Lê Thánh Tông làm chủ soái. Thơ thời Lê tinh tế hơn trong những nỗi niềm cá thể, bộc lộ một lịch lãm hiểu người Non cao non thấp mây thuộc/ Cây cứng cây mềm gió hay, (Nguyễn Trãi); một cô đơn nhân tình thế thái, tự biết mình Lều cỏ việc đời không dính dáng/ Bóng non như cũ chiếu bên mình. (Lê Thánh Tôn). Đến thời Nguyễn, một loạt thi sĩ tài năng đã góp phần nâng cao cấp độ phản ánh hiện thực xã hội của thơ (Truyện Kiều), ngay cả ở các thể thơ vốn quen hình ảnh ước lệ (với Nguyễn Khuyến, Tú Xương), từ đó đặt nền móng cho chủ nghĩa nhân văn sâu sắc. Những thành tựu đó của thơ đã được thu hút và kết tụ ở thơ Thăng Long - Hà Nội, tạo nên phong cách thơ vừa đại diện cho thơ cả nước, vừa đặc thù cho thơ chốn đế đô.

Sang thời hiện đại, phong trào Thơ Mới, mới về hình thức (từ bỏ Đường luật), mới về nội dung (cái tôi của chủ nghĩa lãng mạn) đã diễn ra chủ yếu ở Hà Nội, gắn bó chặt chẽ với thành tựu của thơ Hà Nội. Chủ nghĩa nhân văn cổ điển về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi từ Nguyễn Du, Phạm Thái được phát huy với Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận và một loạt thi sĩ tài năng của giai đoạn 1932 - 1942.

Cách mạng tháng Tám 1945 tạo dựng một nền thơ mới về chất nhưng kế thừa hầu hết những đức tính của thơ quá khứ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Sự kế thừa này không phải đã đạt ngay trong một lúc mà là một quá trình khá gian lao, phải vượt qua nhiều cực đoan, ấu trĩ, hẹp hòi, không phải không ảnh hưởng tới sự phong phú của hơn nửa thế kỷ thơ ca cách mạng.

Phong cách trữ tình của thơ Hà Nội cũng như phong cách sống của người Hà Nội, ai cũng cảm nhận được nhưng diễn giải đầy đủ và cụ thể ra lại không dễ. Đó là một tổng hợp nhiều yếu tố liên quan hữu cơ với nhau:

Tính trữ tình lịch sử. Thủ đô, ở nước nào cũng vậy, đều là sân khấu của các sự kiện lịch sử dân tộc và thời đại. Thơ là ánh phản quang của các sự kiện đó qua tâm hồn các thi sĩ Thủ đô. Không khí cách mạng những ngày tháng Tám 1945, ngày toàn quốc kháng chiến tháng 12 năm 1946 không chỉ tràn vào thơ của các nhà thơ cách mạng, mà có mặt ở hầu hết các nhà thơ lãng mạn, những người còn được gọi là các nhà thơ tháp ngà, hay trốn tránh thực tại. Sau này, ngày tiếp quản Hà Nội 1954, ngày đại thắng thu non sông về một mối 1975 đều in bóng rất đậm vào thơ ca Hà Nội. Nếu giở lại những tuyển tập thơ Hà Nội, chúng ta dễ dàng được sống lại trong hồn mình tất cả những vui buồn của những năm tháng đó. Thơ Hà Nội đã lưu giữ trong lòng nó những khoảnh khắc đáng nhớ của lịch sử. Tiếng quả sấu rụng trên mái tôn buồn thời Hà Nội tạm chiếm, sự im lặng thảm sâu giữa hai loạt đạn bắn hạ giặc trời hồi chống chiến tranh phá hoại… Thơ Hà Nội đã thành cuốn sử biên niên của dân tộc, cuốn sử ghi trên tâm hồn con người.

mua-sen-trong-van-mieu-tranh-son-mai-cua-hoa-si-nguyen-chi-nguyen.jpg
Mùa sen trong Văn Miếu - tranh sơn mài của họa sĩ Nguyễn Chí Nguyện

Phẩm chất tinh tế, trang nhã, hào hoa… Có lẽ phải dùng nhiều hình dung từ nữa mới diễn đạt được đủ cái khái niệm thanh lịch của Tràng An. Thơ cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo, trên nền tảng công nông liên minh, nhưng lại do người Hà Nội viết nên vẫn cứ mang phẩm chất tinh tế hào hoa ấy. Đã có lắm rắc rối khi đánh giá phẩm chất này. Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng với những “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” đã bị phê phán khá nặng, trong nhiều năm vì cái gọi là tâm lý tiểu tư sản lạc lõng, thiếu ý chí chiến đấu. Thật ra đó chỉ là một khoảnh khắc tâm trạng của người trai Hà Nội những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, có cái hào hứng bồng bột đầy lãng mạn lúc ra đi không vương thê nhi thì tất yếu phải có lúc mơ dáng kiều thơm.Trong bài thơ “Sáng mát trong như sáng năm xưa”, Nguyễn Đình Thi mở đầu: “Sáng mát trong như sáng năm xưa/ Gió thổi mùa thu hương cốm mới/ Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em”. Sau này, bài thơ được sửa chữa thành bài “Đất nước”, cái dấu chân thơm trên cỏ bị xóa đi. Sinh thời, Nguyễn Đình Thi mỗi lần nhớ lại, vẫn tiếc, nhưng xóa đi cũng là tự anh, do anh nhạy cảm với từng thời điểm xã hội, thơ thời đó cần tác dụng cổ động, cần hòa với đa số. Ở đây cũng có những vấn đề đáng bàn, nhưng chúng tôi xin trở lại với khía cạnh hào hoa phong nhã của thơ Hà Nội. Trong quá trình trưởng thành, nền thơ cách mạng đã vượt dần những quan niệm thô thiển về chức năng thơ, tạo cơ hội cho thơ Hà Nội phát huy được yếu tố tinh tế sở trường mang tính thơ sâu đậm này.

Trữ tình của trí tuệ. Phong vị trữ tình Hà Nội kết tinh từ ngưỡng văn hóa dân tộc cao, hòa quyện với tinh hoa văn hóa nhân loại. Yếu tố này xuất phát từ trình độ dân trí của Thủ đô, nơi tập hợp những gương mặt trí thức lớn, những nhà thơ tài năng, nơi giao lưu những luồng tư tưởng mới, những cách tân thẩm mỹ. Phẩm chất trí tuệ của thơ Việt Nam thường được nâng cao từ những trung tâm giao lưu lớn như Sài Gòn, Huế, đặc biệt là ở Thủ đô. Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Việt Phương, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng,... từng tựa vào truyền thống thơ Thăng Long, từ các thiền sư đời Lý đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều... để đồng hóa những phẩm chất trí tuệ của thơ ca thế giới. Những cách tân thơ được khởi xướng ở nhiều nơi, nhưng thường đến đích ở Hà Nội. Phong trào Thơ Mới là một thí dụ. Thơ bậc thang, thơ chính luận rộng khổ cũng từng phát tích từ Hà Nội những năm 50, 60 thế kỷ trước. Hiện nay, các nhà thơ Hà Nội cũng đang nỗ lực một cách tự tin tìm tòi những hình thức mới cho thơ tương lai, góp phần tích cực của mình đối với nền thơ cả nước.

Chủ nghĩa nhân văn sâu đậm. Đây là đặc trưng bao quát, là hệ quả của các đặc trưng trên và xuyên suốt từ các thi sĩ lớn của các vương triều tới các nhà thơ tài năng đương đại. Đây chính là thiên lương của thơ. Thơ đương đại Hà Nội vừa tìm cảm hứng từ những đề tài lịch sử lớn lao vừa tỏ ra nhạy cảm với những buồn vui của từng cá thể người nhỏ bé. Chủ nghĩa nhân đạo trong thơ Hà Nội là kết tinh của tình cảm và cả của nhận thức. Thơ Hà Nội thật sự lớn lên từ khi biết nghiêng xuống những phận người bé nhỏ. Nỗi khổ, nỗi oan khiên của nhân dân không bao giờ chỉ là của một người. Nguyễn Du với “Văn chiêu hồn”, Tản Đà với “Thăm mả cũ bên đường”… và những bậc tiên liệt khác của không gian thơ Hà Nội luôn luôn toả sáng khích lệ những trái tim thơ lương thiện. Phẩm chất nhân văn của thơ Hà Nội bộc lộ phong phú, đa dạng tùy từng thời điểm lịch sử. Thời cách mạng 1945, nhân văn là ca ngợi sức mạnh giải phóng người lao khổ, thời kháng chiến là thể hiện tâm tình người đánh giặc cứu nước, là ghi ơn những hy sinh cao cả và thầm lặng của nhân dân, và giờ đây là tham gia xây dựng bằng được một xã hội công bằng dân chủ văn minh, xứng đáng với xương máu của biết bao thế hệ cha ông đã đổ.

Chúng ta hãy thử so sánh những tương đồng trong thành tựu của thơ Hà Nội trong già nửa thế kỷ qua với những thành công trong thơ ông cha ta: giọng anh hùng ca trong thơ thời Trần với giọng anh hùng ca của thơ thời chống Mỹ. “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi với thơ mừng đại thắng 1975 của Chế Lan Viên. Sự chăm sóc cái tôi thời Thơ Mới với mối quan tâm tới từng cá thể người của thơ thời Đổi Mới. Thành tựu sau kế thừa thành tựu trước và phát triển theo yêu cầu của thời đại. Thí dụ cái tôi thời Thơ Mới đòi hỏi tự do tình cảm, cái tôi bây giờ đòi hỏi tự do nhận thức. Một thí dụ khác: Có thời, như trong kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954, thơ cố gắng nhận đường, tìm đường để ra khỏi những tâm trạng cá thể riêng tư, để nhập vào sự kiện xã hội rộng lớn. Cái thời mà nhiều câu thơ kỳ ảo của “Tây Tiến” (Quang Dũng) bị phê phán và cách cảm nghĩ thiên về nội tâm của Nguyễn Đình Thi bị nhắc nhở. Việc thời ấy có lý do của thời ấy. Chỉ tiếc trong quan niệm, chúng ta thiếu sự rành mạch, chi tiết nên khi vận dụng đại trà làm sai lệch cả chủ trương. Thơ nên tránh sa vào tâm trạng của người ngồi trong “tháp ngà”, tách biệt với đời sống toàn dân kháng chiến hồi ấy, chứ không phải thơ tránh “tâm trạng”, tránh nội tâm để chỉ kể sự kiện. Từ quốc sách Đổi Mới, trong thơ Hà Nội thấy hiện rõ một hướng tìm: khám phá tâm trạng. Do vậy mà thơ phong phú hơn, hàm súc hơn, thâu tóm việc đời hơn. “Cuộc chia ly màu đỏ”, dựa trên một tứ thơ ước lệ (màu áo đỏ) làm hiện lên chân thật tâm trạng lứa thanh niên ra trận, cao cả xót đau. Đến nay, tôi nghĩ bài thơ của Nguyễn Mỹ vẫn ở hàng đầu trong chủ đề tiễn biệt chia ly của mọi thời.

Một điểm cần ghi nhận là rất khó tách những đặc trưng của thơ Hà Nội ra khỏi thành tựu của thơ Việt Nam chỉ vì Hà Nội là Thủ đô, mọi tinh hoa, kể cả tinh hoa thơ, của cả nước tụ về. Và rồi từ đấy lại khuếch tán ra toàn quốc các nhà thơ mang hộ khẩu Hà Nội có quyền tự hào với nền thơ Hà Nội và càng cần đòi hỏi mình trong lao động thơ, sao cho xứng với những đóng góp to lớn vào Hà Nội của các nhà thơ từ mọi quê hương trong cả nước./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
  • Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
    Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
  • Ngô Thanh Vân, vẻ đẹp kỳ diệu của nỗi buồn
    Người xưa rất coi trọng phần nội tâm (tình) trong thơ. Không có văn bản văn học nào thể hiện cái tôi cá nhân rõ như thơ. Nói như nhà văn Trịnh Bích Ngân: “Thơ không chịu được sự che đậy... Dũng cảm phơi bày. Chân thành phơi bày”.
  • Thao thức với phần đời chiến trận
    Có thể nói cuộc kháng chiến trường kỳ hào hùng và bi tráng của dân tộc, ở bất kỳ trạng huống nào dường như đã chi phối và tạo động lực cho đội ngũ văn nghệ sĩ, những người cầm bút suy nghĩ và sáng tạo. Ta hiểu vì sao ngay trong cuộc sống thời bình, trong đời sống dân sự, những hình ảnh của ngày hôm qua vẫn khiến con người luôn “thao thức với phần đời chiến trận”.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Từ quản lý đến “quản trị và kiến tạo” văn hóa Thủ đô Hà Nội
    Chương trình Hành động số 08-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đã phát đi một thông điệp: Hà Nội chuyển đổi tư duy từ “quản lý hành chính” sang “quản trị và kiến tạo” về văn hóa. Đây là một sự thay đổi mang tính cách mạng về nhận thức, mở đường khơi thông nguồn lực, biến văn hóa thực sự trở thành nguồn sức mạnh nội sinh và động lực phát triển đột phá của Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới.
  • Dự thảo Luật Thủ đô 2024 (sửa đổi): Khung cơ chế đột phá, định hình diện mạo Hà Nội trong kỷ nguyên mới
    Hà Nội đang đứng trước những áp lực của quá trình đô thị hóa, từ bài toán quá tải hạ tầng, ùn tắc giao thông, cho đến thách thức trong việc cải tạo các khu chung cư cũ và bảo tồn di sản. Trong bối cảnh đó, Điều 12 trong Dự thảo Luật Thủ đô 2024 (sửa đổi) không chỉ là một quy định pháp lý, mà là một khung cơ chế mang tính đột phá, đặc biệt cần thiết để định hình diện mạo Thủ đô trong kỷ nguyên mới.
  • Tạo thế và lực “xuất khẩu” văn hóa Việt Nam
    Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra mục tiêu nước ta vươn lên nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm, với các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 9% GDP vào năm 2045. Để hiện thực hóa khát vọng này, chúng ta phải dịch chuyển tư duy coi văn hóa là lĩnh vực bảo tồn, giao lưu phong trào sang tư duy kiến tạo một nền công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn, tạo động lực phát triển kinh tế và định vị vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
  • Hà Nội đẩy mạnh công tác chăm sóc trẻ em
    Tháng hành động vì trẻ em năm 2026 được tổ chức từ ngày 01 đến ngày 30 tháng 6, thực hiện theo chỉ đạo của Cục Bà mẹ và Trẻ em - Bộ Y tế, với mục tiêu xây dựng môi trường lành mạnh, an toàn và bổ sung những trải nghiệm vui vẻ, ý nghĩa cho các em nhỏ.
  • Đại học Quốc gia Hà Nội chuẩn bị đón 15.000 sinh viên học tập tại Hòa Lạc
    Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU) cho biết, 15.000 sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ lên học tập tại Hòa Lạc, gồm nhóm từ trường Khoa học Tự nhiên, trong khi học sinh THPT HES dự kiến về lại nội đô.
Đừng bỏ lỡ
  • Góp sức phát huy giá trị văn hóa dân gian truyền thống Việt Nam
    Thiết thực bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân gian truyền thống cũng như thực hiện Chương trình Hành động số 08-Ctr/TU của Thành ủy Hà Nội, Hội Người cao tuổi phường Tùng Thiện (TP. Hà Nội) vừa tổ chức Liên hoan tiếng hát dân ca Người cao tuổi phường Tùng Thiện 2026. Qua đây cũng góp phần tạo sân chơi bổ ích để hội viên người cao tuổi giao lưu, nâng cao đời sống tinh thần, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.
  • Triển lãm “Cuộc chơi với lá”: Dấu ấn 60 năm sáng tạo của nghệ sĩ Tạ Hải
    Từ ngày 15/4 đến 19/4/2026, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (66 Nguyễn Thái Học, Đống Đa, Hà Nội) sẽ diễn ra triển lãm “Cuộc chơi với lá” của nghệ sĩ, nhà báo Tạ Hải. Triển lãm giới thiệu hơn 80 tác phẩm mới nhất được sáng tạo từ chất liệu lá và hoa khô.
  • Phát triển Thủ đô từ việc kiến tạo các không gian văn hoá
    Chiều 12/4, tại Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ, trong khuôn khổ chương trình “Âm nhạc cuối tuần”, những giai điệu của ca khúc “Em ơi Hà Nội phố” của nhạc sĩ Phú Quang được phổ từ thơ Phan Vũ đã vang lên giữa không gian hồ Gươm lịch sử. Từ một ca khúc, một buổi biểu diễn, có thể thấy rõ hơn cách Hà Nội đang từng bước hiện thực hóa chiến lược phát triển văn hóa bằng những trải nghiệm cụ thể, gần gũi, nơi văn hóa hiện diện trong đời sống hằng ngày của người dân.
  • “Người thổi bong bóng làng Kashi”: Ngụ ngôn hiện đại về sự sống, cái chết và tự do
    Tri Thức Trẻ Books liên kết với NXB Thế Giới vừa ra mắt bạn đọc cuốn sách “Người thổi bong bóng làng Kashi” của tác giả Nguyễn Quang Vũ. Tác phẩm được viết theo hình thức ngụ ngôn hiện đại xoay quanh hành trình nhận thức về sự sống, cái chết và tự do.
  • Lan tỏa tri thức khoa học xã hội qua trưng bày chuyên đề
    Từ ngày 11/4 đến 15/5/2026, tại tòa Trống đồng, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (đường Nguyễn Văn Huyên, phường Nghĩa Đô, Hà Nội) diễn ra trưng bày “Không gian bảo tồn văn hóa và lan tỏa tri thức khoa học xã hội”. Với hệ thống tư liệu, hình ảnh và hiện vật phong phú, trưng bày mang đến cái nhìn toàn diện về những đóng góp của khoa học xã hội đối với đời sống đương đại, qua đó góp phần khơi dậy tinh thần nghiên cứu, sáng tạo và ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa trong cộng đồng”
  • Ẩm thực và nghệ thuật hòa quyện trong chương trình “Dạ yến Hoàng cung”
    Du khách có thể thưởng thức các món ăn cung đình và những tiết mục nghệ thuật đặc sắc trong chương trình “Dạ yến Hoàng cung” tại Nhà hát Duyệt Thị Đường (Đại nội Huế) vào đêm 29/4, 1/5.
  • Tiếp tục lan tỏa giá trị văn hóa tại không gian âm nhạc mở chiều 12/4
    Trở lại sân khấu mở “Nhà Bát Giác” vào lúc 15h30 ngày 12/4, “Âm nhạc cuối tuần” hứa hẹn đem đến nhiều tiết mục đặc sắc, giai điệu sôi động, những trải nghiệm nghệ thuật gần gũi, hấp dẫn đối với nhiều người dân và du khách khi đến với Hà Nội. Đây không chỉ là sân khấu biểu diễn đơn thuần, mà còn là bước đi chiến lược của thành phố nhằm đưa nghệ thuật chất lượng cao vào đời sống, góp phần định vị thương hiệu thành phố sáng tạo.
  • Liên hoan tiếng hát Dân ca Người cao tuổi Hà Nội các khu vực năm 2026
    Liên hoan tiếng hát Dân ca Người cao tuổi Hà Nội các khu vực năm 2026 nhằm tôn vinh, giữ gìn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân gian, đặc biệt là dân ca, nhạc cụ truyền thống của vùng, miền, địa phương trên địa bàn thành phố Hà Nội; Tạo điều kiện để NCT tham gia hoạt động văn hóa, văn nghệ, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, hỗ trợ NCT sống vui, sống khỏe...
  • Bài 1: Hành trình gieo mầm hy vọng cho “lồng ngực trái”
    Giữa nhịp sống hối hả của Thủ đô, nơi dòng người ngược xuôi qua những con phố cổ kính, có một nơi mà thời gian dường như được đo bằng từng nhịp đập, nơi ranh giới giữa hơi thở và hư vô đôi khi chỉ cách nhau một ánh nhìn lướt qua trên màn hình điện tâm đồ. Đó là Bệnh viện Tim Hà Nội. Suốt một phần tư thế kỷ trôi qua, nơi đây không chỉ là một địa chỉ y tế, mà đã trở thành một “địa chỉ đỏ” của sự hồi sinh, nơi người thầy thuốc lặng lẽ viết nên bản trường ca về lòng nhân ái, về hành trình bền bỉ gieo mầm hy vọ
  • Hà Nội có hai làng nghề trở thành thành viên Mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    “Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ, xã Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng, xã Sơn Đồng là thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới gắn với trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề” dự kiến tổ chức từ ngày 08/5/2026 - 10/5/2026 tại Hoàng Thành Thăng Long Hà Nội.
Mấy đặc trưng trong thơ Thăng Long - Hà Nội
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO