Lý luận - phê bình

Mấy đặc trưng trong thơ Thăng Long - Hà Nội

Nhà thơ Vũ Quần Phương 06:55 13/10/2024

Để xác định những khác biệt của thơ Hà Nội so với thơ các địa phương khác cần nhìn lại cả quá trình phát triển của thơ từ thuở lập kinh đô, phải tính đến những tác phẩm không chỉ của những nhà thơ sinh ra và trưởng thành ở Hà Nội, mà còn của những nhà thơ từ những vùng quê khác về sống ở Thăng Long. Và chính họ, những nhà thơ bị (hoặc được) phong cách sống, phong cách thơ của Hà Nội đồng hóa, vốn đông đảo hơn các nhà thơ nguyên quán Hà Nội, đã đóng góp nhiều hơn để tạo nên phong cách trữ tình cho thơ đất đế đô.

den-ngoc-son-nhin-tu-tren-cao-anh-vietnamnet.jpg

Thời Lý, đạo Nho chưa độc tôn, đạo Phật đang nhập thế, quan hệ giữa vua quan và dân chúng chưa gay gắt, đời sống tinh thần, cả tư tưởng lẫn tình cảm còn nhiều cởi mở, đã tạo nên một thời kỳ phát triển lộng lẫy của nền thơ dân tộc. Thơ thời Lý vừa cụ thể, thiết thực giúp cho việc trị nước, an dân, khích lệ niềm vui sống, lòng yêu đời vừa thâm viễn, biện chứng bàn tới cõi huyền vi của sống chết, hưng vong. Đây là thời kỳ đất nước ta mới giành được độc lập thống nhất sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, cảm hứng thơ Thăng Long vì vậy có sức tự tin rất lớn (Mãn Giác, Từ Đạo Hạnh, Không Lộ... ). Sức tự tin này càng nổi trội trong thời Trần, thơ in dấu ba lần chiến thắng Nguyên Mông.

Nếu các thi sĩ thời Lý phần lớn là các thiền sư thì các thi sĩ nổi tiếng thời Trần lại là vua và các đại thần. Thơ thời Trần triết lý bản thể gắn nhiều với chính sự, võ công, khá đậm hơi hướng anh hùng ca, đặc biệt bàn nhiều về cách ứng xử, về những quan hệ. Đạo Phật trong thời Trần có những cải cách phù hợp với lối sống tích cực, nhập thế, cư trần lạc đạo. Thơ gần đời, ngay cả thơ của vua.
Thời Lê, tinh hoa thơ ca tụ lại ở Nguyễn Trãi và nhóm Tao Đàn với Lê Thánh Tông làm chủ soái. Thơ thời Lê tinh tế hơn trong những nỗi niềm cá thể, bộc lộ một lịch lãm hiểu người Non cao non thấp mây thuộc/ Cây cứng cây mềm gió hay, (Nguyễn Trãi); một cô đơn nhân tình thế thái, tự biết mình Lều cỏ việc đời không dính dáng/ Bóng non như cũ chiếu bên mình. (Lê Thánh Tôn). Đến thời Nguyễn, một loạt thi sĩ tài năng đã góp phần nâng cao cấp độ phản ánh hiện thực xã hội của thơ (Truyện Kiều), ngay cả ở các thể thơ vốn quen hình ảnh ước lệ (với Nguyễn Khuyến, Tú Xương), từ đó đặt nền móng cho chủ nghĩa nhân văn sâu sắc. Những thành tựu đó của thơ đã được thu hút và kết tụ ở thơ Thăng Long - Hà Nội, tạo nên phong cách thơ vừa đại diện cho thơ cả nước, vừa đặc thù cho thơ chốn đế đô.

Sang thời hiện đại, phong trào Thơ Mới, mới về hình thức (từ bỏ Đường luật), mới về nội dung (cái tôi của chủ nghĩa lãng mạn) đã diễn ra chủ yếu ở Hà Nội, gắn bó chặt chẽ với thành tựu của thơ Hà Nội. Chủ nghĩa nhân văn cổ điển về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi từ Nguyễn Du, Phạm Thái được phát huy với Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận và một loạt thi sĩ tài năng của giai đoạn 1932 - 1942.

Cách mạng tháng Tám 1945 tạo dựng một nền thơ mới về chất nhưng kế thừa hầu hết những đức tính của thơ quá khứ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Sự kế thừa này không phải đã đạt ngay trong một lúc mà là một quá trình khá gian lao, phải vượt qua nhiều cực đoan, ấu trĩ, hẹp hòi, không phải không ảnh hưởng tới sự phong phú của hơn nửa thế kỷ thơ ca cách mạng.

Phong cách trữ tình của thơ Hà Nội cũng như phong cách sống của người Hà Nội, ai cũng cảm nhận được nhưng diễn giải đầy đủ và cụ thể ra lại không dễ. Đó là một tổng hợp nhiều yếu tố liên quan hữu cơ với nhau:

Tính trữ tình lịch sử. Thủ đô, ở nước nào cũng vậy, đều là sân khấu của các sự kiện lịch sử dân tộc và thời đại. Thơ là ánh phản quang của các sự kiện đó qua tâm hồn các thi sĩ Thủ đô. Không khí cách mạng những ngày tháng Tám 1945, ngày toàn quốc kháng chiến tháng 12 năm 1946 không chỉ tràn vào thơ của các nhà thơ cách mạng, mà có mặt ở hầu hết các nhà thơ lãng mạn, những người còn được gọi là các nhà thơ tháp ngà, hay trốn tránh thực tại. Sau này, ngày tiếp quản Hà Nội 1954, ngày đại thắng thu non sông về một mối 1975 đều in bóng rất đậm vào thơ ca Hà Nội. Nếu giở lại những tuyển tập thơ Hà Nội, chúng ta dễ dàng được sống lại trong hồn mình tất cả những vui buồn của những năm tháng đó. Thơ Hà Nội đã lưu giữ trong lòng nó những khoảnh khắc đáng nhớ của lịch sử. Tiếng quả sấu rụng trên mái tôn buồn thời Hà Nội tạm chiếm, sự im lặng thảm sâu giữa hai loạt đạn bắn hạ giặc trời hồi chống chiến tranh phá hoại… Thơ Hà Nội đã thành cuốn sử biên niên của dân tộc, cuốn sử ghi trên tâm hồn con người.

mua-sen-trong-van-mieu-tranh-son-mai-cua-hoa-si-nguyen-chi-nguyen.jpg
Mùa sen trong Văn Miếu - tranh sơn mài của họa sĩ Nguyễn Chí Nguyện

Phẩm chất tinh tế, trang nhã, hào hoa… Có lẽ phải dùng nhiều hình dung từ nữa mới diễn đạt được đủ cái khái niệm thanh lịch của Tràng An. Thơ cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo, trên nền tảng công nông liên minh, nhưng lại do người Hà Nội viết nên vẫn cứ mang phẩm chất tinh tế hào hoa ấy. Đã có lắm rắc rối khi đánh giá phẩm chất này. Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng với những “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” đã bị phê phán khá nặng, trong nhiều năm vì cái gọi là tâm lý tiểu tư sản lạc lõng, thiếu ý chí chiến đấu. Thật ra đó chỉ là một khoảnh khắc tâm trạng của người trai Hà Nội những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, có cái hào hứng bồng bột đầy lãng mạn lúc ra đi không vương thê nhi thì tất yếu phải có lúc mơ dáng kiều thơm.Trong bài thơ “Sáng mát trong như sáng năm xưa”, Nguyễn Đình Thi mở đầu: “Sáng mát trong như sáng năm xưa/ Gió thổi mùa thu hương cốm mới/ Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em”. Sau này, bài thơ được sửa chữa thành bài “Đất nước”, cái dấu chân thơm trên cỏ bị xóa đi. Sinh thời, Nguyễn Đình Thi mỗi lần nhớ lại, vẫn tiếc, nhưng xóa đi cũng là tự anh, do anh nhạy cảm với từng thời điểm xã hội, thơ thời đó cần tác dụng cổ động, cần hòa với đa số. Ở đây cũng có những vấn đề đáng bàn, nhưng chúng tôi xin trở lại với khía cạnh hào hoa phong nhã của thơ Hà Nội. Trong quá trình trưởng thành, nền thơ cách mạng đã vượt dần những quan niệm thô thiển về chức năng thơ, tạo cơ hội cho thơ Hà Nội phát huy được yếu tố tinh tế sở trường mang tính thơ sâu đậm này.

Trữ tình của trí tuệ. Phong vị trữ tình Hà Nội kết tinh từ ngưỡng văn hóa dân tộc cao, hòa quyện với tinh hoa văn hóa nhân loại. Yếu tố này xuất phát từ trình độ dân trí của Thủ đô, nơi tập hợp những gương mặt trí thức lớn, những nhà thơ tài năng, nơi giao lưu những luồng tư tưởng mới, những cách tân thẩm mỹ. Phẩm chất trí tuệ của thơ Việt Nam thường được nâng cao từ những trung tâm giao lưu lớn như Sài Gòn, Huế, đặc biệt là ở Thủ đô. Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Việt Phương, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng,... từng tựa vào truyền thống thơ Thăng Long, từ các thiền sư đời Lý đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều... để đồng hóa những phẩm chất trí tuệ của thơ ca thế giới. Những cách tân thơ được khởi xướng ở nhiều nơi, nhưng thường đến đích ở Hà Nội. Phong trào Thơ Mới là một thí dụ. Thơ bậc thang, thơ chính luận rộng khổ cũng từng phát tích từ Hà Nội những năm 50, 60 thế kỷ trước. Hiện nay, các nhà thơ Hà Nội cũng đang nỗ lực một cách tự tin tìm tòi những hình thức mới cho thơ tương lai, góp phần tích cực của mình đối với nền thơ cả nước.

Chủ nghĩa nhân văn sâu đậm. Đây là đặc trưng bao quát, là hệ quả của các đặc trưng trên và xuyên suốt từ các thi sĩ lớn của các vương triều tới các nhà thơ tài năng đương đại. Đây chính là thiên lương của thơ. Thơ đương đại Hà Nội vừa tìm cảm hứng từ những đề tài lịch sử lớn lao vừa tỏ ra nhạy cảm với những buồn vui của từng cá thể người nhỏ bé. Chủ nghĩa nhân đạo trong thơ Hà Nội là kết tinh của tình cảm và cả của nhận thức. Thơ Hà Nội thật sự lớn lên từ khi biết nghiêng xuống những phận người bé nhỏ. Nỗi khổ, nỗi oan khiên của nhân dân không bao giờ chỉ là của một người. Nguyễn Du với “Văn chiêu hồn”, Tản Đà với “Thăm mả cũ bên đường”… và những bậc tiên liệt khác của không gian thơ Hà Nội luôn luôn toả sáng khích lệ những trái tim thơ lương thiện. Phẩm chất nhân văn của thơ Hà Nội bộc lộ phong phú, đa dạng tùy từng thời điểm lịch sử. Thời cách mạng 1945, nhân văn là ca ngợi sức mạnh giải phóng người lao khổ, thời kháng chiến là thể hiện tâm tình người đánh giặc cứu nước, là ghi ơn những hy sinh cao cả và thầm lặng của nhân dân, và giờ đây là tham gia xây dựng bằng được một xã hội công bằng dân chủ văn minh, xứng đáng với xương máu của biết bao thế hệ cha ông đã đổ.

Chúng ta hãy thử so sánh những tương đồng trong thành tựu của thơ Hà Nội trong già nửa thế kỷ qua với những thành công trong thơ ông cha ta: giọng anh hùng ca trong thơ thời Trần với giọng anh hùng ca của thơ thời chống Mỹ. “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi với thơ mừng đại thắng 1975 của Chế Lan Viên. Sự chăm sóc cái tôi thời Thơ Mới với mối quan tâm tới từng cá thể người của thơ thời Đổi Mới. Thành tựu sau kế thừa thành tựu trước và phát triển theo yêu cầu của thời đại. Thí dụ cái tôi thời Thơ Mới đòi hỏi tự do tình cảm, cái tôi bây giờ đòi hỏi tự do nhận thức. Một thí dụ khác: Có thời, như trong kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954, thơ cố gắng nhận đường, tìm đường để ra khỏi những tâm trạng cá thể riêng tư, để nhập vào sự kiện xã hội rộng lớn. Cái thời mà nhiều câu thơ kỳ ảo của “Tây Tiến” (Quang Dũng) bị phê phán và cách cảm nghĩ thiên về nội tâm của Nguyễn Đình Thi bị nhắc nhở. Việc thời ấy có lý do của thời ấy. Chỉ tiếc trong quan niệm, chúng ta thiếu sự rành mạch, chi tiết nên khi vận dụng đại trà làm sai lệch cả chủ trương. Thơ nên tránh sa vào tâm trạng của người ngồi trong “tháp ngà”, tách biệt với đời sống toàn dân kháng chiến hồi ấy, chứ không phải thơ tránh “tâm trạng”, tránh nội tâm để chỉ kể sự kiện. Từ quốc sách Đổi Mới, trong thơ Hà Nội thấy hiện rõ một hướng tìm: khám phá tâm trạng. Do vậy mà thơ phong phú hơn, hàm súc hơn, thâu tóm việc đời hơn. “Cuộc chia ly màu đỏ”, dựa trên một tứ thơ ước lệ (màu áo đỏ) làm hiện lên chân thật tâm trạng lứa thanh niên ra trận, cao cả xót đau. Đến nay, tôi nghĩ bài thơ của Nguyễn Mỹ vẫn ở hàng đầu trong chủ đề tiễn biệt chia ly của mọi thời.

Một điểm cần ghi nhận là rất khó tách những đặc trưng của thơ Hà Nội ra khỏi thành tựu của thơ Việt Nam chỉ vì Hà Nội là Thủ đô, mọi tinh hoa, kể cả tinh hoa thơ, của cả nước tụ về. Và rồi từ đấy lại khuếch tán ra toàn quốc các nhà thơ mang hộ khẩu Hà Nội có quyền tự hào với nền thơ Hà Nội và càng cần đòi hỏi mình trong lao động thơ, sao cho xứng với những đóng góp to lớn vào Hà Nội của các nhà thơ từ mọi quê hương trong cả nước./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
  • Đường đi nước bước của một thể loại văn học
    Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
  • Chỉ một giây lắng lòng là đủ
    Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Truyện ngắn: Hơn cả tình yêu
    Hè năm thứ nhất, đang là sinh viên Đại học Xây dựng, theo lời rủ rê của hai cô bạn thân, Hằng đi Sầm Sơn cùng với họ. Vào đến Sầm Sơn, lúc thuê khách sạn, Hằng mới vỡ lẽ, hai cô bạn kia đã có đôi, họ âm thầm sắp đặt sẵn kế hoạch từ trước. Họ gán ghép Hằng với Bắc, một bạn nam cùng lớp vào ở chung phòng. Đêm ấy, Hằng lang thang trên bờ biển, vừa giận bạn, vừa định bụng sẽ không về khách sạn ngủ...
  • Tuần phim kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
    Từ ngày 21-28/7, Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) sẽ chủ trì tổ chức Tuần phim kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026) trên phạm vi toàn quốc. Danh sách các phim được chiếu gồm: "Đừng đốt", "Mùi cỏ cháy", "Những người viết huyền thoại", "Đường xuyên rừng", "Truyền thuyết về Quán Tiên" và "Bình minh đỏ".
  • Hệ giá trị quốc gia và con người Việt Nam nhìn từ tiến trình lịch sử, các văn kiện của Đảng
    TS Vũ Dương Thúy Ngà (nguyên Vụ trưởng Vụ Thư viện, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) cho biết, trong kỷ nguyên mới, việc xây dựng, bảo tồn, phát huy hệ giá trị quốc gia và con người Việt Nam có ý nghĩa quan trọng, tạo nên sức mạnh tinh thần, bồi dưỡng lòng tự tôn dân tộc cho người Việt, hình thành phẩm cách quốc gia và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
  • Đưa thông tin sai sự thật Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm lên mạng xã hội sẽ bị xử lý nghiêm
    “Thành phố Hà Nội nếu phát hiện, xác minh việc phát tán thông tin sai sự thật Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm trên mạng xã hội thì cá nhân, tổ chức sẽ bị xử phạt theo quy định pháp luật” – bà Nguyễn Thị Mai Hương, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội nhấn mạnh tại cuộc họp báo thông tin tình hình kinh tế, xã hội 6 tháng đầu năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026 do UBND Thành phố Hà Nội tổ chức chiều 10/7.
  • Hiện thực hóa mục tiêu Net Zero phép thử năng lực thực thi của doanh nghiệp trong kỉ nguyên mới
    Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã phối hợp cùng các đơn vị tổ chức Diễn đàn “Năng lượng và Môi trường Thế giới – Việt Nam 2026” với chủ đề “Việt Nam cụ thể hóa con đường tới Net Zero”.
Đừng bỏ lỡ
  • Xây dựng Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam thành tổ hợp du lịch đẳng cấp quốc tế
    Sau khi chính thức được chuyển giao về UBND thành phố Hà Nội quản lý vào tháng 6/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn. Từ một điểm đến phụ thuộc vào ngân sách, nơi đây được định hướng trở thành tổ hợp văn hóa, du lịch và giải trí mang tầm vóc quốc tế, đóng vai trò hạt nhân trong cực tăng trưởng phía Tây của Thủ đô. Chiều ngày 10/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã chủ trì buổi làm việc để định hình dòng chảy phát triển mới cho quần thể di sản này.
  • Ra mắt không gian nghệ thuật quy tụ 3 loại hình di sản xẩm, ca trù và múa rối nước
    Không gian văn hóa CADAO Collective chính thức ra mắt tại số 66 Tô Ngọc Vân (phường Tây Hồ, Hà Nội) với chương trình nghệ thuật đặc biệt quy tụ 3 loại hình di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội gồm xẩm, ca trù và múa rối nước.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII: Tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ
    Sáng 10/7, tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA) đã diễn ra Lễ khai mạc Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII - năm 2026. Sự kiện góp phần tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ, đồng thời phản ánh những xu hướng mới của mỹ thuật đương đại Việt Nam.
  • Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số
    Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 269/2026/NĐ-CP ngày 1/7/2026 quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Nghị định nhằm cụ thể hóa Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, Nghị định quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đã mở ra một hành lang pháp lý toàn diện.
  • Festival Thu Hà Nội năm 2026 :“Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc”
    Festival Thu Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc” được tổ chức để tôn vinh và lan tỏa những giá trị độc đáo của di sản văn hóa, danh thắng, làng nghề và tinh hoa ẩm thực ngàn năm văn hiến của Thủ đô. Sự kiện là đòn bẩy hiệu quả giúp kích cầu du lịch, thu hút du khách, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu, từ đó thúc đẩy ngành du lịch tăng trưởng mạnh mẽ...
  • [Podcast] Tản văn: Bài thánh ca đó còn nhớ không em?
    Đêm đã phủ lên thế gian thứ bóng tối bất tận vô minh. Màu sắc, thanh âm, hình hài của vạn vật vẫn cựa quậy sinh sôi trong những đôi mắt tâm hồn. Chỉ có tâm hồn mới làm cho biết bao thứ ẩn dật trong bóng tối vô minh kia tồn tại và thao thức. Cũng như đêm đang đẩy xuống đời ta thứ thanh âm của Chúa. Những hồi chuông xứ đạo vẫn bay lên trên bầu trời ngan ngát hương hoa. Ở nơi đó em còn nhớ không em, dẫu chỉ là một thánh ca buồn?
  • Triển lãm và trình diễn “Tri thức may, mặc áo dài Huế”, tôn vinh Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia
    Triển lãm và trình diễn “Tri thức may, mặc áo dài Huế” giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của áo dài Huế gắn liền với lịch sử, văn hóa và đời sống của người dân Cố đô, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh Huế - Kinh đô Áo dài Việt Nam.
  • Triển khai đồng bộ các hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới
    Nhằm kịp thời thể chế hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về phát triển văn hóa Việt Nam, thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đã ký Quyết định số 1189/QĐ-TTg ngày 2/7/2026. Quyết định này đi kèm kế hoạch hành động nhằm triển khai đồng bộ, toàn diện bốn hệ giá trị cốt lõi: hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trên phạm vi cả nước, tạo hành lang pháp lý vững chắc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền văn hóa của dân tộc.
  • Phát động Cuộc thi ảnh "Nghệ thuật Xiếc Việt Nam" lần thứ 2
    Cuộc thi ảnh "Nghệ thuật toàn quốc về Nghệ thuật Xiếc Việt Nam" năm 2026 được tổ chức nhằm tôn vinh vẻ đẹp và những giá trị đặc sắc của nghệ thuật xiếc Việt Nam; tạo sân chơi sáng tạo cho các nhiếp ảnh gia chuyên và không chuyên, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh nghệ thuật xiếc đến đông đảo công chúng trong nước và quốc tế.
Mấy đặc trưng trong thơ Thăng Long - Hà Nội
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO