Lý luận - phê bình

Mấy đặc trưng trong thơ Thăng Long - Hà Nội

Nhà thơ Vũ Quần Phương • 06:55 13/10/2024

Để xác định những khác biệt của thơ Hà Nội so với thơ các địa phương khác cần nhìn lại cả quá trình phát triển của thơ từ thuở lập kinh đô, phải tính đến những tác phẩm không chỉ của những nhà thơ sinh ra và trưởng thành ở Hà Nội, mà còn của những nhà thơ từ những vùng quê khác về sống ở Thăng Long. Và chính họ, những nhà thơ bị (hoặc được) phong cách sống, phong cách thơ của Hà Nội đồng hóa, vốn đông đảo hơn các nhà thơ nguyên quán Hà Nội, đã đóng góp nhiều hơn để tạo nên phong cách trữ tình cho thơ đất đế đô.

den-ngoc-son-nhin-tu-tren-cao-anh-vietnamnet.jpg

Thời Lý, đạo Nho chưa độc tôn, đạo Phật đang nhập thế, quan hệ giữa vua quan và dân chúng chưa gay gắt, đời sống tinh thần, cả tư tưởng lẫn tình cảm còn nhiều cởi mở, đã tạo nên một thời kỳ phát triển lộng lẫy của nền thơ dân tộc. Thơ thời Lý vừa cụ thể, thiết thực giúp cho việc trị nước, an dân, khích lệ niềm vui sống, lòng yêu đời vừa thâm viễn, biện chứng bàn tới cõi huyền vi của sống chết, hưng vong. Đây là thời kỳ đất nước ta mới giành được độc lập thống nhất sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, cảm hứng thơ Thăng Long vì vậy có sức tự tin rất lớn (Mãn Giác, Từ Đạo Hạnh, Không Lộ... ). Sức tự tin này càng nổi trội trong thời Trần, thơ in dấu ba lần chiến thắng Nguyên Mông.

Nếu các thi sĩ thời Lý phần lớn là các thiền sư thì các thi sĩ nổi tiếng thời Trần lại là vua và các đại thần. Thơ thời Trần triết lý bản thể gắn nhiều với chính sự, võ công, khá đậm hơi hướng anh hùng ca, đặc biệt bàn nhiều về cách ứng xử, về những quan hệ. Đạo Phật trong thời Trần có những cải cách phù hợp với lối sống tích cực, nhập thế, cư trần lạc đạo. Thơ gần đời, ngay cả thơ của vua.
Thời Lê, tinh hoa thơ ca tụ lại ở Nguyễn Trãi và nhóm Tao Đàn với Lê Thánh Tông làm chủ soái. Thơ thời Lê tinh tế hơn trong những nỗi niềm cá thể, bộc lộ một lịch lãm hiểu người Non cao non thấp mây thuộc/ Cây cứng cây mềm gió hay, (Nguyễn Trãi); một cô đơn nhân tình thế thái, tự biết mình Lều cỏ việc đời không dính dáng/ Bóng non như cũ chiếu bên mình. (Lê Thánh Tôn). Đến thời Nguyễn, một loạt thi sĩ tài năng đã góp phần nâng cao cấp độ phản ánh hiện thực xã hội của thơ (Truyện Kiều), ngay cả ở các thể thơ vốn quen hình ảnh ước lệ (với Nguyễn Khuyến, Tú Xương), từ đó đặt nền móng cho chủ nghĩa nhân văn sâu sắc. Những thành tựu đó của thơ đã được thu hút và kết tụ ở thơ Thăng Long - Hà Nội, tạo nên phong cách thơ vừa đại diện cho thơ cả nước, vừa đặc thù cho thơ chốn đế đô.

Sang thời hiện đại, phong trào Thơ Mới, mới về hình thức (từ bỏ Đường luật), mới về nội dung (cái tôi của chủ nghĩa lãng mạn) đã diễn ra chủ yếu ở Hà Nội, gắn bó chặt chẽ với thành tựu của thơ Hà Nội. Chủ nghĩa nhân văn cổ điển về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi từ Nguyễn Du, Phạm Thái được phát huy với Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận và một loạt thi sĩ tài năng của giai đoạn 1932 - 1942.

Cách mạng tháng Tám 1945 tạo dựng một nền thơ mới về chất nhưng kế thừa hầu hết những đức tính của thơ quá khứ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Sự kế thừa này không phải đã đạt ngay trong một lúc mà là một quá trình khá gian lao, phải vượt qua nhiều cực đoan, ấu trĩ, hẹp hòi, không phải không ảnh hưởng tới sự phong phú của hơn nửa thế kỷ thơ ca cách mạng.

Phong cách trữ tình của thơ Hà Nội cũng như phong cách sống của người Hà Nội, ai cũng cảm nhận được nhưng diễn giải đầy đủ và cụ thể ra lại không dễ. Đó là một tổng hợp nhiều yếu tố liên quan hữu cơ với nhau:

Tính trữ tình lịch sử. Thủ đô, ở nước nào cũng vậy, đều là sân khấu của các sự kiện lịch sử dân tộc và thời đại. Thơ là ánh phản quang của các sự kiện đó qua tâm hồn các thi sĩ Thủ đô. Không khí cách mạng những ngày tháng Tám 1945, ngày toàn quốc kháng chiến tháng 12 năm 1946 không chỉ tràn vào thơ của các nhà thơ cách mạng, mà có mặt ở hầu hết các nhà thơ lãng mạn, những người còn được gọi là các nhà thơ tháp ngà, hay trốn tránh thực tại. Sau này, ngày tiếp quản Hà Nội 1954, ngày đại thắng thu non sông về một mối 1975 đều in bóng rất đậm vào thơ ca Hà Nội. Nếu giở lại những tuyển tập thơ Hà Nội, chúng ta dễ dàng được sống lại trong hồn mình tất cả những vui buồn của những năm tháng đó. Thơ Hà Nội đã lưu giữ trong lòng nó những khoảnh khắc đáng nhớ của lịch sử. Tiếng quả sấu rụng trên mái tôn buồn thời Hà Nội tạm chiếm, sự im lặng thảm sâu giữa hai loạt đạn bắn hạ giặc trời hồi chống chiến tranh phá hoại… Thơ Hà Nội đã thành cuốn sử biên niên của dân tộc, cuốn sử ghi trên tâm hồn con người.

mua-sen-trong-van-mieu-tranh-son-mai-cua-hoa-si-nguyen-chi-nguyen.jpg
Mùa sen trong Văn Miếu - tranh sơn mài của họa sĩ Nguyễn Chí Nguyện

Phẩm chất tinh tế, trang nhã, hào hoa… Có lẽ phải dùng nhiều hình dung từ nữa mới diễn đạt được đủ cái khái niệm thanh lịch của Tràng An. Thơ cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo, trên nền tảng công nông liên minh, nhưng lại do người Hà Nội viết nên vẫn cứ mang phẩm chất tinh tế hào hoa ấy. Đã có lắm rắc rối khi đánh giá phẩm chất này. Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng với những “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” đã bị phê phán khá nặng, trong nhiều năm vì cái gọi là tâm lý tiểu tư sản lạc lõng, thiếu ý chí chiến đấu. Thật ra đó chỉ là một khoảnh khắc tâm trạng của người trai Hà Nội những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, có cái hào hứng bồng bột đầy lãng mạn lúc ra đi không vương thê nhi thì tất yếu phải có lúc mơ dáng kiều thơm.Trong bài thơ “Sáng mát trong như sáng năm xưa”, Nguyễn Đình Thi mở đầu: “Sáng mát trong như sáng năm xưa/ Gió thổi mùa thu hương cốm mới/ Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em”. Sau này, bài thơ được sửa chữa thành bài “Đất nước”, cái dấu chân thơm trên cỏ bị xóa đi. Sinh thời, Nguyễn Đình Thi mỗi lần nhớ lại, vẫn tiếc, nhưng xóa đi cũng là tự anh, do anh nhạy cảm với từng thời điểm xã hội, thơ thời đó cần tác dụng cổ động, cần hòa với đa số. Ở đây cũng có những vấn đề đáng bàn, nhưng chúng tôi xin trở lại với khía cạnh hào hoa phong nhã của thơ Hà Nội. Trong quá trình trưởng thành, nền thơ cách mạng đã vượt dần những quan niệm thô thiển về chức năng thơ, tạo cơ hội cho thơ Hà Nội phát huy được yếu tố tinh tế sở trường mang tính thơ sâu đậm này.

Trữ tình của trí tuệ. Phong vị trữ tình Hà Nội kết tinh từ ngưỡng văn hóa dân tộc cao, hòa quyện với tinh hoa văn hóa nhân loại. Yếu tố này xuất phát từ trình độ dân trí của Thủ đô, nơi tập hợp những gương mặt trí thức lớn, những nhà thơ tài năng, nơi giao lưu những luồng tư tưởng mới, những cách tân thẩm mỹ. Phẩm chất trí tuệ của thơ Việt Nam thường được nâng cao từ những trung tâm giao lưu lớn như Sài Gòn, Huế, đặc biệt là ở Thủ đô. Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Việt Phương, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng,... từng tựa vào truyền thống thơ Thăng Long, từ các thiền sư đời Lý đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều... để đồng hóa những phẩm chất trí tuệ của thơ ca thế giới. Những cách tân thơ được khởi xướng ở nhiều nơi, nhưng thường đến đích ở Hà Nội. Phong trào Thơ Mới là một thí dụ. Thơ bậc thang, thơ chính luận rộng khổ cũng từng phát tích từ Hà Nội những năm 50, 60 thế kỷ trước. Hiện nay, các nhà thơ Hà Nội cũng đang nỗ lực một cách tự tin tìm tòi những hình thức mới cho thơ tương lai, góp phần tích cực của mình đối với nền thơ cả nước.

Chủ nghĩa nhân văn sâu đậm. Đây là đặc trưng bao quát, là hệ quả của các đặc trưng trên và xuyên suốt từ các thi sĩ lớn của các vương triều tới các nhà thơ tài năng đương đại. Đây chính là thiên lương của thơ. Thơ đương đại Hà Nội vừa tìm cảm hứng từ những đề tài lịch sử lớn lao vừa tỏ ra nhạy cảm với những buồn vui của từng cá thể người nhỏ bé. Chủ nghĩa nhân đạo trong thơ Hà Nội là kết tinh của tình cảm và cả của nhận thức. Thơ Hà Nội thật sự lớn lên từ khi biết nghiêng xuống những phận người bé nhỏ. Nỗi khổ, nỗi oan khiên của nhân dân không bao giờ chỉ là của một người. Nguyễn Du với “Văn chiêu hồn”, Tản Đà với “Thăm mả cũ bên đường”… và những bậc tiên liệt khác của không gian thơ Hà Nội luôn luôn toả sáng khích lệ những trái tim thơ lương thiện. Phẩm chất nhân văn của thơ Hà Nội bộc lộ phong phú, đa dạng tùy từng thời điểm lịch sử. Thời cách mạng 1945, nhân văn là ca ngợi sức mạnh giải phóng người lao khổ, thời kháng chiến là thể hiện tâm tình người đánh giặc cứu nước, là ghi ơn những hy sinh cao cả và thầm lặng của nhân dân, và giờ đây là tham gia xây dựng bằng được một xã hội công bằng dân chủ văn minh, xứng đáng với xương máu của biết bao thế hệ cha ông đã đổ.

Chúng ta hãy thử so sánh những tương đồng trong thành tựu của thơ Hà Nội trong già nửa thế kỷ qua với những thành công trong thơ ông cha ta: giọng anh hùng ca trong thơ thời Trần với giọng anh hùng ca của thơ thời chống Mỹ. “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi với thơ mừng đại thắng 1975 của Chế Lan Viên. Sự chăm sóc cái tôi thời Thơ Mới với mối quan tâm tới từng cá thể người của thơ thời Đổi Mới. Thành tựu sau kế thừa thành tựu trước và phát triển theo yêu cầu của thời đại. Thí dụ cái tôi thời Thơ Mới đòi hỏi tự do tình cảm, cái tôi bây giờ đòi hỏi tự do nhận thức. Một thí dụ khác: Có thời, như trong kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954, thơ cố gắng nhận đường, tìm đường để ra khỏi những tâm trạng cá thể riêng tư, để nhập vào sự kiện xã hội rộng lớn. Cái thời mà nhiều câu thơ kỳ ảo của “Tây Tiến” (Quang Dũng) bị phê phán và cách cảm nghĩ thiên về nội tâm của Nguyễn Đình Thi bị nhắc nhở. Việc thời ấy có lý do của thời ấy. Chỉ tiếc trong quan niệm, chúng ta thiếu sự rành mạch, chi tiết nên khi vận dụng đại trà làm sai lệch cả chủ trương. Thơ nên tránh sa vào tâm trạng của người ngồi trong “tháp ngà”, tách biệt với đời sống toàn dân kháng chiến hồi ấy, chứ không phải thơ tránh “tâm trạng”, tránh nội tâm để chỉ kể sự kiện. Từ quốc sách Đổi Mới, trong thơ Hà Nội thấy hiện rõ một hướng tìm: khám phá tâm trạng. Do vậy mà thơ phong phú hơn, hàm súc hơn, thâu tóm việc đời hơn. “Cuộc chia ly màu đỏ”, dựa trên một tứ thơ ước lệ (màu áo đỏ) làm hiện lên chân thật tâm trạng lứa thanh niên ra trận, cao cả xót đau. Đến nay, tôi nghĩ bài thơ của Nguyễn Mỹ vẫn ở hàng đầu trong chủ đề tiễn biệt chia ly của mọi thời.

Một điểm cần ghi nhận là rất khó tách những đặc trưng của thơ Hà Nội ra khỏi thành tựu của thơ Việt Nam chỉ vì Hà Nội là Thủ đô, mọi tinh hoa, kể cả tinh hoa thơ, của cả nước tụ về. Và rồi từ đấy lại khuếch tán ra toàn quốc các nhà thơ mang hộ khẩu Hà Nội có quyền tự hào với nền thơ Hà Nội và càng cần đòi hỏi mình trong lao động thơ, sao cho xứng với những đóng góp to lớn vào Hà Nội của các nhà thơ từ mọi quê hương trong cả nước./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt
    Trường ca “Thần Nông chân đất” của nhà thơ Phùng Trung Tập (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 12 chương, với 184 trang. Tác phẩm tái hiện và ngợi ca lao động nông nghiệp như nền tảng sinh tồn của cộng đồng Việt, đồng thời đưa người nông dân lên tầm biểu tượng văn hóa - lịch sử - những “Thần Nông chân đất” đã mở cõi, dựng làng, giữ nước và truyền sinh khí cho non sông qua hàng nghìn năm. Đây là bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt Nam trong chiều dài lịch sử dân tộc.
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bạn tôi (Kỳ 1)
    Gần trưa, vừa mở trang Facebook, tôi chợt giật mình khi thấy dòng chữ in đậm: “Chiến sỹ trẻ băng mình qua biển lửa cứu sống bé trai bảy tuổi”. Bài viết mới được đăng tải đã làm rung động hàng triệu con tim...
  • Xây dựng “Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11” trở thành thương hiệu quốc gia, đưa di sản thấm sâu vào đời sống
    Nhằm đưa “Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11” thực sự trở thành ngày hội của toàn dân, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa đưa ra những chỉ đạo quan trọng về việc triển khai Kế hoạch tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam, giai đoạn 2026 - 2030. Theo đó, Văn phòng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành và địa phương đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức, lấy người dân làm trung tâm và chủ thể sáng tạo; các hoạt động tạo sức lan tỏa sâu rộng gắn liền với phát triển công nghiệp văn hóa và du lịch di sản.
  • Khai mạc Tuần phim “Hiền tài và hào khí Thăng Long”
    Tối 23/9, tại Hà Nội, Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thành phố Hà Nội, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức khai mạc tuần phim “Hiền tài và hào khí Thăng Long”.
  • Khởi công dự án nhà ở cho lực lượng vũ trang Công an nhân dân tại Hà Nội
    Dự án có quy mô, sử dụng diện tích đất hơn 10.000m2, tổng số căn hộ dự kiến khoảng hơn 800 căn, tầng cao tối đa 35 tầng… được đầu tư xây dựng hạ tầng đồng bộ, tiện ích hiện đại hướng tới một khu nhà ở kiểu mẫu, văn minh, an toàn - xanh - sạch - đẹp.
  • ĐBQH Thành phố Hà Nội tiếp xúc cử tri 14 xã, phường trước kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI
    Sáng 25/9, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội (đơn vị bầu cử số 6) đã tiếp xúc cử tri 14 xã, phường trước kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khoá XVI. Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại hội trường UBND phường Sơn Tây và kết nối trực tuyến với điểm cầu 13 xã, phường gồm: phường Tùng Thiện, xã Đoài Phương, xã Ba Vì, xã Minh Châu, xã Quảng Oai, xã Yên Bài, xã Suối Hai, xã Vật Lại, xã Bất Bạt, xã Cổ Đô, xã Phúc Thọ, xã Phúc Lộc và xã Hát Môn.
Đừng bỏ lỡ
  • Quy hoạch không gian tầm thấp: Đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của Thủ đô trong giai đoạn mới
    Không gian tầm thấp là khái niệm mới, đã được xác định như là một phần của cấu trúc không gian đa tầng - đa lớp trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm và định hướng tại Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới”.
  • Phát động Cuộc vận động Sáng tác Mỹ thuật Toàn quốc đề tài "Lực lượng Vũ trang - Chiến tranh cách mạng" 2026-2030
    Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam vừa phát động Cuộc vận động sáng tác mỹ thuật toàn quốc đề tài "Lực lượng vũ trang - Chiến tranh cách mạng" giai đoạn 2026–2030. Cuộc vận động nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao chất lượng sáng tác mỹ thuật, tôn vinh truyền thống đánh giặc giữ nước và hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ", góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị và tư tưởng.
  • Nhiều hoạt động đặc sắc trong Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV
    Chiều 24/9, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Điện Biên và các địa phương có đông đồng bào dân tộc Mông sinh sống tổ chức họp báo thông tin về Ngày hội văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV.
  • Điều chỉnh thời gian tổ chức Festival Thu Hà Nội 2026 vào tháng 10/2026
    Festival Thu Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Thu Hà Nội - Hành trình cảm xúc” sẽ diễn ra từ ngày 16 đến 18/10, thay cho thời gian dự kiến trước đó từ ngày 25 đến 27/9. Qua 9 không gian trải nghiệm về di sản, du lịch, làng nghề, văn hóa, ẩm thực, nghệ thuật và giao lưu quốc tế, chương trình mở ra một hành trình khám phá Hà Nội từ những giá trị truyền thống đến những cách tiếp cận mới, qua đó góp phần làm giàu thêm sức hấp dẫn của mùa thu Thủ đô.
  • Đêm hội Trăng Rằm 2026: Rộn ràng sắc Trung thu bên hồ Hoàn Kiếm
    Tối 25/9, tại không gian đi bộ khu vực hồ Hoàn Kiếm, Lễ rước đèn “Đêm hội trăng rằm” 2026 sẽ diễn ra với nhiều mô hình đèn Trung thu truyền thống, đồ chơi dân gian và các hoạt động trình diễn nghệ thuật. Đây là một trong những hoạt động điểm nhấn thuộc chuỗi chương trình văn hóa “Lưu trăng phố cổ 2026”, đưa không khí Trung thu truyền thống đến gần hơn với người dân, thiếu nhi và du khách tại trung tâm Thủ đô.
  • Diễn đàn Thành phố thông minh Việt Nam: Thúc đẩy Thủ đô tăng trưởng hai con số
    Diễn đàn Thành phố thông minh Việt Nam - ASOCIO 2026 với chủ đề “Đô thị thông minh - Nền tảng thúc đẩy tăng trưởng hai con số” dự kiến diễn ra vào tháng 11 hoặc tháng 12/2026 tại Hà Nội, thu hút khoảng 2.000 lượt đại biểu trong và ngoài nước. Sự kiện gồm 1 phiên toàn thể, 4 phiên chuyên đề, triển lãm TechX Make in Viet Nam, các hoạt động kết nối giao thương và lễ trao giải thưởng uy tín...
  • Sáng rõ giải pháp, lộ trình thực hiện “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026-2030
    Nhằm đưa “Ngày Văn hóa Việt Nam” trở thành hoạt động chính trị - văn hóa thường niên có dấu ấn của địa phương, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, hình thành người Hà Nội thanh lịch, văn minh, hiện đại; Ban Thường vụ Đảng ủy phường Khương Đình (TP Hà Nội) vừa ban hành Kế hoạch tuyên truyền, triển khai thực hiện “Ngày Văn hóa Việt Nam” trên địa bàn, giai đoạn 2026-2030 với 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm.
  • Từ cơ sở lan tỏa những hình ảnh đẹp của người Bí thư cấp ủy
    Từ những công việc gần dân, sát dân đến những nhiệm vụ khó, phức tạp ở cơ sở, vai trò của người Bí thư cấp ủy được thể hiện bằng trách nhiệm, sự nêu gương và hiệu quả trong hành động. Kế hoạch số 106-KH/TU, ngày 21/9/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về rà soát, lựa chọn và tổ chức tuyên dương Bí thư cấp ủy xuất sắc ở cơ sở trong Đảng bộ Thành phố năm 2027 không chỉ hướng tới ghi nhận những cá nhân tiêu biểu, mà còn tạo cơ hội lan tỏa những cách làm hay, kinh nghiệm quý từ cơ sở, góp phần bồi đắp hình ảnh người cán bộ gần dân, trọng dân, vì dân.
  • [Podcast] Cốm xào - thức quà thanh nhã vào thu của người Hà Nội
    Hà Nội có những món ăn chỉ cần nghe tên đã gợi nhớ cả một mùa, hoặc gắn với một nếp sống và cách thưởng thức riêng. Bởi vậy, nhắc đến thức quà ngon của Thủ đô, và được làm từ cốm thì cốm xào là một biến tấu đầy tinh tế và quyến rũ.
  • Chùm thơ của tác giả Xuân Lợi
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Xuân Lợi.
Mấy đặc trưng trong thơ Thăng Long - Hà Nội
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO