Lý luận - phê bình

Mấy đặc trưng trong thơ Thăng Long - Hà Nội

Nhà thơ Vũ Quần Phương 06:55 13/10/2024

Để xác định những khác biệt của thơ Hà Nội so với thơ các địa phương khác cần nhìn lại cả quá trình phát triển của thơ từ thuở lập kinh đô, phải tính đến những tác phẩm không chỉ của những nhà thơ sinh ra và trưởng thành ở Hà Nội, mà còn của những nhà thơ từ những vùng quê khác về sống ở Thăng Long. Và chính họ, những nhà thơ bị (hoặc được) phong cách sống, phong cách thơ của Hà Nội đồng hóa, vốn đông đảo hơn các nhà thơ nguyên quán Hà Nội, đã đóng góp nhiều hơn để tạo nên phong cách trữ tình cho thơ đất đế đô.

den-ngoc-son-nhin-tu-tren-cao-anh-vietnamnet.jpg

Thời Lý, đạo Nho chưa độc tôn, đạo Phật đang nhập thế, quan hệ giữa vua quan và dân chúng chưa gay gắt, đời sống tinh thần, cả tư tưởng lẫn tình cảm còn nhiều cởi mở, đã tạo nên một thời kỳ phát triển lộng lẫy của nền thơ dân tộc. Thơ thời Lý vừa cụ thể, thiết thực giúp cho việc trị nước, an dân, khích lệ niềm vui sống, lòng yêu đời vừa thâm viễn, biện chứng bàn tới cõi huyền vi của sống chết, hưng vong. Đây là thời kỳ đất nước ta mới giành được độc lập thống nhất sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, cảm hứng thơ Thăng Long vì vậy có sức tự tin rất lớn (Mãn Giác, Từ Đạo Hạnh, Không Lộ... ). Sức tự tin này càng nổi trội trong thời Trần, thơ in dấu ba lần chiến thắng Nguyên Mông.

Nếu các thi sĩ thời Lý phần lớn là các thiền sư thì các thi sĩ nổi tiếng thời Trần lại là vua và các đại thần. Thơ thời Trần triết lý bản thể gắn nhiều với chính sự, võ công, khá đậm hơi hướng anh hùng ca, đặc biệt bàn nhiều về cách ứng xử, về những quan hệ. Đạo Phật trong thời Trần có những cải cách phù hợp với lối sống tích cực, nhập thế, cư trần lạc đạo. Thơ gần đời, ngay cả thơ của vua.
Thời Lê, tinh hoa thơ ca tụ lại ở Nguyễn Trãi và nhóm Tao Đàn với Lê Thánh Tông làm chủ soái. Thơ thời Lê tinh tế hơn trong những nỗi niềm cá thể, bộc lộ một lịch lãm hiểu người Non cao non thấp mây thuộc/ Cây cứng cây mềm gió hay, (Nguyễn Trãi); một cô đơn nhân tình thế thái, tự biết mình Lều cỏ việc đời không dính dáng/ Bóng non như cũ chiếu bên mình. (Lê Thánh Tôn). Đến thời Nguyễn, một loạt thi sĩ tài năng đã góp phần nâng cao cấp độ phản ánh hiện thực xã hội của thơ (Truyện Kiều), ngay cả ở các thể thơ vốn quen hình ảnh ước lệ (với Nguyễn Khuyến, Tú Xương), từ đó đặt nền móng cho chủ nghĩa nhân văn sâu sắc. Những thành tựu đó của thơ đã được thu hút và kết tụ ở thơ Thăng Long - Hà Nội, tạo nên phong cách thơ vừa đại diện cho thơ cả nước, vừa đặc thù cho thơ chốn đế đô.

Sang thời hiện đại, phong trào Thơ Mới, mới về hình thức (từ bỏ Đường luật), mới về nội dung (cái tôi của chủ nghĩa lãng mạn) đã diễn ra chủ yếu ở Hà Nội, gắn bó chặt chẽ với thành tựu của thơ Hà Nội. Chủ nghĩa nhân văn cổ điển về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi từ Nguyễn Du, Phạm Thái được phát huy với Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận và một loạt thi sĩ tài năng của giai đoạn 1932 - 1942.

Cách mạng tháng Tám 1945 tạo dựng một nền thơ mới về chất nhưng kế thừa hầu hết những đức tính của thơ quá khứ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Sự kế thừa này không phải đã đạt ngay trong một lúc mà là một quá trình khá gian lao, phải vượt qua nhiều cực đoan, ấu trĩ, hẹp hòi, không phải không ảnh hưởng tới sự phong phú của hơn nửa thế kỷ thơ ca cách mạng.

Phong cách trữ tình của thơ Hà Nội cũng như phong cách sống của người Hà Nội, ai cũng cảm nhận được nhưng diễn giải đầy đủ và cụ thể ra lại không dễ. Đó là một tổng hợp nhiều yếu tố liên quan hữu cơ với nhau:

Tính trữ tình lịch sử. Thủ đô, ở nước nào cũng vậy, đều là sân khấu của các sự kiện lịch sử dân tộc và thời đại. Thơ là ánh phản quang của các sự kiện đó qua tâm hồn các thi sĩ Thủ đô. Không khí cách mạng những ngày tháng Tám 1945, ngày toàn quốc kháng chiến tháng 12 năm 1946 không chỉ tràn vào thơ của các nhà thơ cách mạng, mà có mặt ở hầu hết các nhà thơ lãng mạn, những người còn được gọi là các nhà thơ tháp ngà, hay trốn tránh thực tại. Sau này, ngày tiếp quản Hà Nội 1954, ngày đại thắng thu non sông về một mối 1975 đều in bóng rất đậm vào thơ ca Hà Nội. Nếu giở lại những tuyển tập thơ Hà Nội, chúng ta dễ dàng được sống lại trong hồn mình tất cả những vui buồn của những năm tháng đó. Thơ Hà Nội đã lưu giữ trong lòng nó những khoảnh khắc đáng nhớ của lịch sử. Tiếng quả sấu rụng trên mái tôn buồn thời Hà Nội tạm chiếm, sự im lặng thảm sâu giữa hai loạt đạn bắn hạ giặc trời hồi chống chiến tranh phá hoại… Thơ Hà Nội đã thành cuốn sử biên niên của dân tộc, cuốn sử ghi trên tâm hồn con người.

mua-sen-trong-van-mieu-tranh-son-mai-cua-hoa-si-nguyen-chi-nguyen.jpg
Mùa sen trong Văn Miếu - tranh sơn mài của họa sĩ Nguyễn Chí Nguyện

Phẩm chất tinh tế, trang nhã, hào hoa… Có lẽ phải dùng nhiều hình dung từ nữa mới diễn đạt được đủ cái khái niệm thanh lịch của Tràng An. Thơ cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo, trên nền tảng công nông liên minh, nhưng lại do người Hà Nội viết nên vẫn cứ mang phẩm chất tinh tế hào hoa ấy. Đã có lắm rắc rối khi đánh giá phẩm chất này. Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng với những “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” đã bị phê phán khá nặng, trong nhiều năm vì cái gọi là tâm lý tiểu tư sản lạc lõng, thiếu ý chí chiến đấu. Thật ra đó chỉ là một khoảnh khắc tâm trạng của người trai Hà Nội những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, có cái hào hứng bồng bột đầy lãng mạn lúc ra đi không vương thê nhi thì tất yếu phải có lúc mơ dáng kiều thơm.Trong bài thơ “Sáng mát trong như sáng năm xưa”, Nguyễn Đình Thi mở đầu: “Sáng mát trong như sáng năm xưa/ Gió thổi mùa thu hương cốm mới/ Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em”. Sau này, bài thơ được sửa chữa thành bài “Đất nước”, cái dấu chân thơm trên cỏ bị xóa đi. Sinh thời, Nguyễn Đình Thi mỗi lần nhớ lại, vẫn tiếc, nhưng xóa đi cũng là tự anh, do anh nhạy cảm với từng thời điểm xã hội, thơ thời đó cần tác dụng cổ động, cần hòa với đa số. Ở đây cũng có những vấn đề đáng bàn, nhưng chúng tôi xin trở lại với khía cạnh hào hoa phong nhã của thơ Hà Nội. Trong quá trình trưởng thành, nền thơ cách mạng đã vượt dần những quan niệm thô thiển về chức năng thơ, tạo cơ hội cho thơ Hà Nội phát huy được yếu tố tinh tế sở trường mang tính thơ sâu đậm này.

Trữ tình của trí tuệ. Phong vị trữ tình Hà Nội kết tinh từ ngưỡng văn hóa dân tộc cao, hòa quyện với tinh hoa văn hóa nhân loại. Yếu tố này xuất phát từ trình độ dân trí của Thủ đô, nơi tập hợp những gương mặt trí thức lớn, những nhà thơ tài năng, nơi giao lưu những luồng tư tưởng mới, những cách tân thẩm mỹ. Phẩm chất trí tuệ của thơ Việt Nam thường được nâng cao từ những trung tâm giao lưu lớn như Sài Gòn, Huế, đặc biệt là ở Thủ đô. Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Việt Phương, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng,... từng tựa vào truyền thống thơ Thăng Long, từ các thiền sư đời Lý đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều... để đồng hóa những phẩm chất trí tuệ của thơ ca thế giới. Những cách tân thơ được khởi xướng ở nhiều nơi, nhưng thường đến đích ở Hà Nội. Phong trào Thơ Mới là một thí dụ. Thơ bậc thang, thơ chính luận rộng khổ cũng từng phát tích từ Hà Nội những năm 50, 60 thế kỷ trước. Hiện nay, các nhà thơ Hà Nội cũng đang nỗ lực một cách tự tin tìm tòi những hình thức mới cho thơ tương lai, góp phần tích cực của mình đối với nền thơ cả nước.

Chủ nghĩa nhân văn sâu đậm. Đây là đặc trưng bao quát, là hệ quả của các đặc trưng trên và xuyên suốt từ các thi sĩ lớn của các vương triều tới các nhà thơ tài năng đương đại. Đây chính là thiên lương của thơ. Thơ đương đại Hà Nội vừa tìm cảm hứng từ những đề tài lịch sử lớn lao vừa tỏ ra nhạy cảm với những buồn vui của từng cá thể người nhỏ bé. Chủ nghĩa nhân đạo trong thơ Hà Nội là kết tinh của tình cảm và cả của nhận thức. Thơ Hà Nội thật sự lớn lên từ khi biết nghiêng xuống những phận người bé nhỏ. Nỗi khổ, nỗi oan khiên của nhân dân không bao giờ chỉ là của một người. Nguyễn Du với “Văn chiêu hồn”, Tản Đà với “Thăm mả cũ bên đường”… và những bậc tiên liệt khác của không gian thơ Hà Nội luôn luôn toả sáng khích lệ những trái tim thơ lương thiện. Phẩm chất nhân văn của thơ Hà Nội bộc lộ phong phú, đa dạng tùy từng thời điểm lịch sử. Thời cách mạng 1945, nhân văn là ca ngợi sức mạnh giải phóng người lao khổ, thời kháng chiến là thể hiện tâm tình người đánh giặc cứu nước, là ghi ơn những hy sinh cao cả và thầm lặng của nhân dân, và giờ đây là tham gia xây dựng bằng được một xã hội công bằng dân chủ văn minh, xứng đáng với xương máu của biết bao thế hệ cha ông đã đổ.

Chúng ta hãy thử so sánh những tương đồng trong thành tựu của thơ Hà Nội trong già nửa thế kỷ qua với những thành công trong thơ ông cha ta: giọng anh hùng ca trong thơ thời Trần với giọng anh hùng ca của thơ thời chống Mỹ. “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi với thơ mừng đại thắng 1975 của Chế Lan Viên. Sự chăm sóc cái tôi thời Thơ Mới với mối quan tâm tới từng cá thể người của thơ thời Đổi Mới. Thành tựu sau kế thừa thành tựu trước và phát triển theo yêu cầu của thời đại. Thí dụ cái tôi thời Thơ Mới đòi hỏi tự do tình cảm, cái tôi bây giờ đòi hỏi tự do nhận thức. Một thí dụ khác: Có thời, như trong kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954, thơ cố gắng nhận đường, tìm đường để ra khỏi những tâm trạng cá thể riêng tư, để nhập vào sự kiện xã hội rộng lớn. Cái thời mà nhiều câu thơ kỳ ảo của “Tây Tiến” (Quang Dũng) bị phê phán và cách cảm nghĩ thiên về nội tâm của Nguyễn Đình Thi bị nhắc nhở. Việc thời ấy có lý do của thời ấy. Chỉ tiếc trong quan niệm, chúng ta thiếu sự rành mạch, chi tiết nên khi vận dụng đại trà làm sai lệch cả chủ trương. Thơ nên tránh sa vào tâm trạng của người ngồi trong “tháp ngà”, tách biệt với đời sống toàn dân kháng chiến hồi ấy, chứ không phải thơ tránh “tâm trạng”, tránh nội tâm để chỉ kể sự kiện. Từ quốc sách Đổi Mới, trong thơ Hà Nội thấy hiện rõ một hướng tìm: khám phá tâm trạng. Do vậy mà thơ phong phú hơn, hàm súc hơn, thâu tóm việc đời hơn. “Cuộc chia ly màu đỏ”, dựa trên một tứ thơ ước lệ (màu áo đỏ) làm hiện lên chân thật tâm trạng lứa thanh niên ra trận, cao cả xót đau. Đến nay, tôi nghĩ bài thơ của Nguyễn Mỹ vẫn ở hàng đầu trong chủ đề tiễn biệt chia ly của mọi thời.

Một điểm cần ghi nhận là rất khó tách những đặc trưng của thơ Hà Nội ra khỏi thành tựu của thơ Việt Nam chỉ vì Hà Nội là Thủ đô, mọi tinh hoa, kể cả tinh hoa thơ, của cả nước tụ về. Và rồi từ đấy lại khuếch tán ra toàn quốc các nhà thơ mang hộ khẩu Hà Nội có quyền tự hào với nền thơ Hà Nội và càng cần đòi hỏi mình trong lao động thơ, sao cho xứng với những đóng góp to lớn vào Hà Nội của các nhà thơ từ mọi quê hương trong cả nước./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
  • Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
    Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Chủ tịch Hồ Chí Minh với non sông đất nước và tình yêu đặc biệt dành cho Thủ đô Hà Nội
    Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thành kính tưởng nhớ, tri ân công lao trời biển của vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người gắn liền với hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; đồng thời để lại dấu ấn sâu đậm đối với Đảng bộ và nhân dân Thủ đô Hà Nội – nơi luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt, những tình cảm sâu nặng và những lời căn dặn tâm huyết của Người.
  • 3 ấn phẩm giúp người trẻ hiểu đúng và làm chủ AI
    Chào mừng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 18/5, Nhà xuất bản Kim Đồng ra mắt bạn đọc 3 ấn phẩm về trí tuệ nhân tạo, khoa học và tâm lí học hiện đại, gồm: “Lược sử trí khôn - Từ giun biển đến ChatGPT”, “Sống thư thái trong thời đại AI” và “Trí tuệ nhân tạo dưới lăng kính tâm lí học”.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 2)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Lan tỏa tình yêu quê hương đất nước bằng nghệ thuật truyền thống bên hồ Hoàn Kiếm
    Tối 17/5, tại Nhà Bát Giác, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” tiếp tục mang nghệ thuật đến gần công chúng bằng một đêm diễn đậm màu sắc cải lương truyền thống do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện. Không gian bên hồ Hoàn Kiếm tối cuối tuần trở nên đặc biệt hơn khi những làn điệu vọng cổ, những câu ca về quê hương, đất nước và hào khí dân tộc vang lên giữa dòng người náo nhiệt.
  • Âm nhạc cuối tuần và hành trình kiến tạo không gian văn hóa cộng đồng
    Chiều 17/5, trong không gian Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” không chỉ mang đến những buổi biểu diễn giàu cảm xúc, mà còn gợi mở câu chuyện về Hà Nội nói riêng, đất nước Việt Nam nói chung qua âm nhạc, với những rung động rất riêng và đong đầy cảm xúc.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội thành lập Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 1857-QĐ/TU ngày 13/5/2026 về việc thành lập Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô Hà Nội. Việc thành lập Ban Chỉ đạo nhằm tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều phối triển khai các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp phát triển văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Hát Môn lan tỏa tinh thần học và làm theo Bác từ những điều giản dị
    Hướng tới kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), cuộc thi “Tôi kể về tôi trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” lần thứ nhất, năm 2025-2026 do Đảng bộ xã Hát Môn tổ chức đã trở thành hoạt động chính trị, tư tưởng có ý nghĩa thiết thực và sâu sắc. Không chỉ tạo sức lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, cuộc thi còn góp phần đưa việc học và làm theo Bác đi vào chiều sâu bằng những việc làm cụ thể, gần gũi trong đời sống hằng ngày.
  • Những bản tình ca vang lên giữa không gian văn hóa hồ Gươm
    Vào mỗi cuối tuần, khu vực hồ Hoàn Kiếm luôn đón lượng lớn người dân và du khách đến tham quan, dạo phố. Giữa nhịp chuyển động ấy, những chương trình nghệ thuật ngoài trời đang dần “bồi đắp” thêm diện mạo cho không gian công cộng của Thủ đô, nơi công chúng không chỉ tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí mà còn có cơ hội tiếp cận nghệ thuật theo cách gần gũi hơn.
  • Chính phủ phê duyệt chuyển giao Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam cho Hà Nội quản lý
    Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 11/5/2026 về việc chuyển giao quyền quản lý Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam cho Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Quyết định được xây dựng dựa trên cơ sở các văn bản pháp lý hiện hành và đề nghị của các bộ ngành liên quan.
  • "Xoan mở hội": Thanh âm đất tổ tại Bảo tàng Hà Nội
    Vào ngày 23/5 tới đây, tại Bảo tàng Hà Nội, sự kiện "Xoan mở hội" sẽ mang đến không gian trải nghiệm độc đáo cho người yêu văn hóa, đặc biệt là giới trẻ, với chủ đề khám phá nghệ thuật hát Xoan Phú Thọ.
  • Trải nghiệm boardgame "Phú Hộ Làng Nghề": Khám phá những giá trị đặc sắc của các làng nghề truyền thống Bắc Bộ
    Bảo tàng Hà Nội, phối hợp cùng dự án Cổ Nghệ Tân Giao, sẽ mang đến một trải nghiệm văn hóa độc đáo với boardgame "Phú Hộ Làng Nghề" vào Chủ nhật, ngày 17/5/2026, từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều.
  • Chiếu phim chuyên đề “Trường Sơn - Những năm tháng không quên”
    Nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 67 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh - Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2026), Viện phim Việt Nam sẽ tổ chức đợt chiếu phim chuyên đề “Trường Sơn - Những năm tháng không quên” nhằm giới thiệu với khán giả nhiều tác phẩm điện ảnh đặc sắc.
  • Ngắm nhìn một Hồ Tây trầm mặc trong ánh hoàng hôn
    Với không gian thoáng đãng, hồ Tây là một địa điểm được nhiều người tìm đến để tận hưởng những phút giây bình yên và chiêm ngưỡng vẻ đẹp mê đắm của thiên nhiên khi hoàng hôn buông xuống.
  • "Duyên kiếp Bạch Trà" trở lại với khán giả Thủ đô
    "Duyên kiếp Bạch Trà" hứa hẹn mang đến cho khán giả một không gian nghệ thuật giàu cảm xúc, kết hợp giữa chiều sâu lịch sử, vẻ đẹp sân khấu truyền thống và ngôn ngữ cải lương đầy da diết. Vở diễn diễn ra vào 20h ngày 30/5/2026 tại Rạp Chuông Vàng, số 72 Hàng Bạc, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
  • Cuộc thi Tài năng Diễn viên Cải lương toàn quốc 2026: Nơi hội tụ những nhịp phách di sản
    Nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026) Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao Cục Nghệ thuật biểu diễn chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hồ Chí Minh, Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam và các đơn vị có liên quan tổ chức Cuộc thi Tài năng Diễn viên Cải lương toàn quốc năm 2026.
Mấy đặc trưng trong thơ Thăng Long - Hà Nội
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO