Hà Nội xưa - nay

Làm giấy sắc phong: Nghề truyền thống cần được khôi phục và gìn giữ

Ths. Nguyễn Thị Trung 07:42 05/01/2024

Làng Nghĩa Đô nằm bên hữu ngạn sông Tô Lịch là một làng gồm 4 thôn: Tiên Thượng (Tân), Vạn Long (Dâu), Yên Phú (An Phú) và Trung Nha (làng nghề) cùng với các làng Yên Thái, Đông Xã, Hồ Khẩu hợp thành cụm làng làm giấy. Nghĩa Đô trước thuộc huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông về sau là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Xưa, dân làng sống chủ yếu bằng nghề dệt và nghề giấy, còn ruộng thường cho cấy rẽ.

sac-phong.jpg
Giấy sắc dùng viết “ Tam cáo sắc” phỏng theo thời Nguyễn.

Nói về nghề giấy sắc Nghĩa Đô, dân gian đã lưu truyền những câu ca dao đầy tự hào:

Tiếng đồn con gái Nghĩa Đô

Quanh năm làm giấy cho vua được nhờ

(Ca dao)

Ở Nghĩa Đô có dòng họ Lại là một họ lớn. Khi Lại Thế Giáp lấy bà Phi Diệm Châu là con gái Trịnh Tráng (1623 – 1652) thì họ Lại giành được đặc ân chuyên sản xuất giấy sắc, cung cấp cho triều đình để viết sắc phong. Gia phả họ Lại cũng cho biết 4 – 5 đời thông gia với nhà chúa nên họ Lại còn có tên gọi nữa là Kim Tiên Thị, do vua ban. Dưới thời phong kiến, dòng họ Lại làm giấy sắc theo sự đặt hàng của triều đình. Giấy sắc là loại đã được vua chúa thẩm định kỹ lưỡng và đều thuộc loại quý hiếm. Giấy sắc không chỉ óng mịn như lụa mà còn bền dai như tơ, rất “cắn mực” khi viết, khi vẽ... Có những sắc phong trải qua gần 400 năm mà nét chữ, màu sắc, họa tiết vẫn tươi nguyên như thuở ban đầu trong khi loại giấy tốt nhất hiện nay cũng chỉ “thọ” được 50 năm là cùng, dễ bị hỏng nát do mối mọt xông, hoặc bị ố nhòe, bay mực. Xưa kia, giấy sắc là “Quốc bảo”, dân gian ai mà tự tiện mua dùng, nếu để thất thoát ra ngoài tờ nào thì bị coi là “phạm thượng”. Chính vì vậy mà cho đến nay họ Lại không lưu được bộ giấy sắc các triều đại. Nếu muốn tìm hiểu diện mạo sắc phong các triều đại phải khổ công đến các đình, đền miếu hoặc các dòng họ “thế gia lệnh tộc” may chăng còn giữ được một số mẫu.

Giấy sắc có nhiều loại: nhất gấm, nhất cáo sắc và nhị cáo sắc. Các loại khác nhau về kích cỡ và đường nét hoa văn trang trí.

Loại nhất gấm: Dùng làm sắc phong cho các bách thần gồm: Sắc Thượng đẳng thần, sắc Trung đẳng thần và sắc Hạ đẳng thần. Mặt chính được trang trí một hình rồng lớn vờn bay trong mây gọi là long ám. Mặt sau in hình tứ linh: Long, ly, quy, phượng.

Giấy sắc phong bách quan cũng có 3 loại: Nhất cáo sắc, Nhị cáo sắc và Tam cáo sắc. Nhất cáo sắc và Nhị cáo sắc dùng để phong cho quan lại có công với nước. Nhất cáo sắc và Nhị cáo sắc đều vẽ long ám (rồng ẩn hiện trong mây), riêng Tam cáo sắc lại vẽ con rồng lộ diện. Mặt sau của Nhất cáo sắc vẽ tứ linh: Long, ly, quy, phượng, Nhị cáo sắc thì vẽ quy, phượng, còn Tam cáo sắc thì vẽ một con rồng và in chữ thọ (có tài liệu còn nói mặt sau của Tam cáo sắc còn vẽ đề tài bầu rượu túi thơ).

Ngoài ra, có loại giấy sắc bán ở chợ, kích thước nhỏ hơn, trang trí đơn giản, chất lượng giấy kém hơn, dùng viết khoán ước, cúng nơi cửa đền, cửa phủ. Mỗi năm, làng giấy Nghĩa Đô chỉ sản xuất được vài trăm tờ giấy sắc phục vụ triều đình, còn lại sản xuất các loại giấy bình thường đem bán ngoài chợ.

Theo tên gọi, Kim Tiền - giấy sắc đương nhiên phải màu vàng và nó là tinh hoa giấy dó nhuộm phẩm màu thiên nhiên. Vẽ sắc phong phải bằng nhũ vàng, nhũ bạc xịn. Nghề làm giấy dó đã công phu, nghề làm giấy sắc còn công phu gấp bội. Muốn có được một tờ giấy sắc phải qua một số công đoạn phức tạp. Chọn dó làm giấy sắc phải chọn loại tốt, nuột, chất lượng cao. Giấy dùng để phong cho hàng nhất phẩm phải có 5 thợ cùng làm một lúc mới seo nổi một tờ. Giấy dùng để phong sắc cho hàng phẩm trật thấp hơn (từ nhị phẩm xuống đến cửu phẩm) cũng phải ba người xeo một tờ. Khi xeo xong phải dùng que dò để cuốn, khi can cũng phải có 2 người, phải dùng thép can trát bóng bôi lên tường mới dính được giấy để phơi. Giấy khô, dùng da trâu bò nấu kỹ (nung keo) gọi là nước keo, nước keo phải có phèn chua, dùng thép bồi giấy, thép lên hai mặt, mỗi mặt hai lần.

Sau khi giấy khô thì bắt đầu nhuộm màu bằng nước hoa hòe. Nhuộm sắc phải có hai màu chính là màu da thị và da đồng, nhưng muốn có màu da đồng thì nước trưng hoa hòe phải có thêm hồng đơn, một chút bột điệp. Mỗi mặt thép hai lần nước màu. Nhuộm xong đến công đoạn nghè, nền nghè là một phiến đá lớn có mặt phẳng nhẵn bóng. Đặt giấy lên hai người dùng chày đập đều đặn lên lần lượt khắp mặt giấy, lúc đầu giấy xốp, tiếng chày nghe bình bịch, đập đến khi nghe tiếng chày đanh là được, mặt giấy rất mịn và bền chắc. Sau đó dùng bản in khắc gỗ để in bo viền xung quanh và các chữ triện.

Vẽ có 2 mức: Vẽ chạy và vẽ đồ. Vẽ chạy nét cần người khéo tay và vẽ đẹp, vẽ đồ chỉ là vẽ để bổ sung và hoàn thiện. Phụ nữ chuyên seo giấy, đàn ông chuyên vẽ. Hoa văn trang trí tờ sắc bằng kim nhũ có 2 màu vàng hoặc bạc. Dùng quỳ vàng bạc thật, thấp hơn thì dùng quỳ đồng và quỳ thiếc. Hình rồng uốn lượn trong vân mây có ánh vàng hoặc ánh bạc lấp lánh trên nền da thị, da đồng rất đẹp. Những tờ sắc xưa còn lại cho đến ngày nay đã vài thế kỷ giấy vẫn bền chắc, nét vẽ và chữ viết vẫn mềm mại sắc nét, chỉ có viền sắc phong và mầu là chứa đậm nét thời gian, càng tăng thêm vẻ trang trọng và sự linh thiêng.

Các công đoạn để làm giấy sắc được giữ bí mật và chỉ truyền cho con trai và con dâu, không truyền cho con gái. Từ khâu chọn dó, nấu dó, nghiền lọc thành bột đến khâu xeo giấy, ép giấy và vẽ đều đòi hỏi người thợ có tay nghề cao, dày dặn kinh nghiệm. Cũng do công phu chế tác mà giấy sắc giá rất cao. Thời Nguyễn, triều vua Khải Định thứ 9 (năm 1924) nhà vua tổ chức thượng thọ tứ tuần có đặt mua của họ Lại hàng vạn tờ giấy sắc để viết sắc phong cho bách quan, bách thần. Làng giấy Nghĩa Đô được một năm phát đạt.

Hiện nay nhu cầu về giấy gió đã thay đổi huống chi là giấy sắc. Chỉ những người chuyên vẽ tranh Đông Hồ, viết thư pháp còn dùng giấy dó, nhưng số lượng không nhiều. Công nghệ làm giấy dó, đặc biệt là giấy sắc lại vô cùng tốn kém nên giá thành cao khó có thể cạnh tranh với giấy công nghiệp nên ít người muốn làm. Hơn nữa, nghề giấy sắc lại là nghề độc quyền, mật truyền của dòng họ Lại nên không thể trao cho người ngoài. Từ năm 1945 đến nay nghề làm giấy sắc ở Nghĩa Đô không còn nữa. Trước đây còn có cụ Lại Phú Bàn là đời thứ 20 theo nghề làm giấy sắc nhưng nay cụ đã mất. Lần cuối cùng cụ Bàn làm giấy sắc là năm 1944, năm 19 Bảo Đại.

Năm 2003, khi cùng những cán bộ sưu tầm của Bảo tàng Hà Nội nghiên cứu, tìm hiểu về nghề thủ công độc đáo của dòng họ Lại tại kinh kỳ Thăng Long – Hà Nội, tôi đã được gặp gỡ, trò chuyện với cụ Lại Phú Bàn - nghệ nhân duy nhất còn lại lúc bấy giờ và cũng là người cuối cùng biết được bí quyết và công nghệ làm giấy sắc. Chuyện trò với chúng tôi, cụ rất tự hào về nghề truyền thống của dòng họ mình nhưng lại đăm chiêu lo lắng vì tuổi cụ đã cao nhưng cho đến nay vẫn chưa có được ai để truyền giữ lại nghề truyền thống bao đời của dòng họ mình. Cụ nói: “Đây là nghề độc quyền của họ Lại nên không thể trao nó cho ai ngoài con cháu trong họ dẫu nhiều khách nước ngoài đến nài nỉ tôi bán bí quyết cho họ”. Lúc ấy, do nhu cầu của một số nơi và một số người cần sao chép lại bằng, sắc nên cụ Bàn có ý định khôi phục lại nghề nhưng điều đó vẫn chỉ là tâm nguyện của cụ. Nay cụ Lại Phú Bàn đã đi xa, trước khi đi xa cụ đã kịp truyền lại nghề cho các con. Vì vậy dòng họ Lại giờ chỉ còn 2 người con của cụ Lại Thế Bàn là Lại Phú Trạch và Lại Thị Hà (cháu đời thứ 23 của dòng họ) biết được bí quyết làm giấy sắc. Những người khác trong dòng họ cũng chỉ nắm được những nội dung cơ bản của quy trình đó mà thôi.

Ngày nay tuy giấy sắc không còn vai trò hệ trọng như xưa nhưng loại giấy cao cấp này vẫn cần cho việc phục chế các văn kiện chân bản trong trong các cơ quan lưu trữ, thư viện, các viện bảo tàng và những bằng khen của Chủ tịch nước hoặc Thủ tướng Chính phủ. Thiết nghĩ nên sử dụng giấy sắc để lưu niệm lâu dài và cũng là cách trân trọng giữ gìn một di sản văn hóa của dân tộc và khuyến khích việc bảo tồn nghề độc đáo của Thủ đô nghìn năm văn hiến./.

Bài liên quan
  • Khu tập thể Giảng Võ và những ký ức một thời
    Tình cờ xem bộ phim “Số phận trớ trêu” của Nga, tôi lại nhớ về những ngôi nhà cao tầng theo phong cách “xã hội chủ nghĩa”, một phong cách điển hình trong thập niên 60 và 70 ở Đông Âu và khu tập thể mà tôi từng gắn bó – khu tập thể Giảng Võ. Với tôi, khu tập thể Giảng Võ là tuổi thơ, là kỷ niệm không dễ nguôi quên.
(0) Bình luận
  • Nhớ đình xưa nơi phố cũ
    Một buổi chiều cuối năm 2025, tôi trở về bên Hồ Gươm, nơi lưu giữ miền cổ tích của tuổi thơ mình. Rảo bước trên vỉa hè phố Cầu Gỗ để vào chợ Hàng Bè, nơi tôi đã đi qua không biết bao lần trong suốt 25 năm đầu đời của mình (1954-1979), tôi bỗng ngỡ ngàng như lạc vào một miền xa lạ.
  • Bến xe Hà Nội: Nơi những hành trình bắt đầu từ ký ức
    Trong nhịp sống hối hả của Thủ đô, bến xe không chỉ là nơi đi và đến. Đó còn là nơi lưu giữ ký ức của biết bao thế hệ — nơi những người con xa quê lần đầu đặt chân tới Hà Nội, nơi những chuyến xe chở theo ước mơ, hy vọng và cả những nỗi niềm rất đời thường.
  • Chiếc vé nhỏ - Câu chuyện tàu điện Hà Nội xưa
    Mỗi khi nghe ca khúc “Nhớ về Hà Nội”, những người Hà Nội ngoài ngũ tuần chắc hẳn lại nhớ về một thời xa vắng khi tiếng leng keng của tàu điện đánh thức phố phường mỗi sớm mai. Những chuyến tàu xanh hay đỏ, ghế gỗ, vành sắt mòn bóng đã chở biết bao thế hệ người Hà Nội. Ít ai nghĩ câu chuyện về những chuyến tàu ấy lại bắt đầu từ một thứ nhỏ bé: chiếc vé.
  • Phố và phường qua những ngôi đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội
    Hà Nội, trong lịch sử dài lâu của mình, được tạo nên bởi “phố” và “phường”. “Phố” và “phường” Hà Nội không chỉ là đơn vị hành chính mà còn hàm chứa những thăng trầm của lịch sử, những đổi thay của xã hội và những giá trị được kiến tạo bởi các cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Một trong những điểm nổi bật của quá trình kiến tạo này là sự gắn bó mật thiết giữa “phường” với tư cách là đơn vị hành chính đô thị và “phường” với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp và “phố” là nơi buôn bán của cư dân đô thị. Trải qua thời gian, dấu ấn đậm nét của những phường nghề Thăng Long xưa vẫn được lưu lại ở các ngôi đình thờ tổ nghề ngay trong vùng lõi của Thủ đô, được gọi là khu phố cổ.
  • Kiến tạo bản sắc Hà Nội từ văn hóa dân gian
    Vốn được hiểu là tổng thể những đặc trưng văn hóa ổn định, bản sắc văn hóa của một nơi chốn trên thực tế lại không ngừng vận động, biến đổi qua thời gian. Bản sắc văn hóa Hà Nội cũng không phải ngoại lệ. Là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài, bền bỉ, bản sắc văn hóa Hà Nội là sự kết tinh của quá trình đan xen, bồi đắp của những lớp trầm tích của đời sống dân gian và những mảng màu đa sắc của đời sống đô thị hàng nghìn năm. Trong quá trình này, văn hóa dân gian giữ vai trò nền tảng, từ đó, bản sắc văn hóa Hà Nội được định hình; và qua biết bao lớp vun bồi của giao lưu văn hóa, qua bao chảy trôi, thăng trầm của lịch sử, qua những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, vẫn có thể thấy vẻ đẹp đặc sắc của linh hồn phố thị Hà Nội được kiến tạo từ văn hóa dân gian.
  • Lễ hội chùa Vua xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sắc cuộc thi “cờ người” đất Thăng Long – Hà Nội
    Thông tin UBND phường Hai Bà Trưng (TP. Hà Nội) cho biết, Lễ hội truyền thống chùa Vua - xuân Bính Ngọ 2026 sẽ diễn ra từ ngày 22 – 25/2 (mùng 6 đến mùng 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ). Lễ hội được khai mạc vào sáng ngày 25/2 (ngày 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ) tại chùa Vua (số 17 Thịnh Yên), trong đó đặc sắc nhất là phần thi cờ tướng.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Truyện ngắn: Phía sau bước chân người lên đường
    Sinh trưởng ở xứ Đoài mây trắng, từng làm việc ở Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây, (nay là Hà Nội), Phan Quế - hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội đến với thơ từ buổi đầu sáng tác và ông cũng được bạn đọc biết đến khá sớm. Tuy nhiều năm qua Phan Quế dành thời gian và tâm sức nhiều cho tiểu thuyết, nhưng thơ đối với ông vẫn là nỗi niềm canh cánh trong lòng.
  • [Podcast] Tản văn: Nơi gió được sinh ra
    Gió không về với nhân gian mà dạo chơi nữa. Trưa, nắng gắt gao nở một nụ cười bí hiểm. Yên gió, hàng cây đứng lặng ngả bóng vào nhau. Lá rơm rớm giọt sầu gục xuống. Phố thấp thoáng những bóng người chạy trốn, bịt kín khuôn mặt. Từng luồng bụi vẫn bay lơ lửng trên không trung, biến hình mờ ảo bám vào nóc nhà, khe cửa, vấn vít hàng quán, vỉa hè, lối người qua lại. Tôi chạy vội về với cánh đồng trong cơn mơ, gió yên lặng ngả xuống vai mình.
  • Nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà: “Kỷ nguyên số mở ra nhiều cơ hội cho hoạt hình Việt Nam”
    Mùa phim hè 2026 chứng kiến sự áp đảo của các bộ phim hoạt hình ngoại tại phòng vé Việt Nam, trong khi hoạt hình Việt tạm thời vắng bóng sau những tín hiệu khởi sắc của năm 2025. Phải chăng đây là một bước chững lại đáng lo ngại hay chỉ là khoảng lặng cần thiết để chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới? Phóng viên Tạp chí Người Hà Nội đã có cuộc trao đổi với nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà - Trường Phòng Kịch bản, Hãng phim hoạt hình Việt Nam về thực trạng, cơ hội cũng như nhưng triển vọng của hoạt hình Việt Nam trong kỷ nguyên số.
  • Hà Nội trong tôi những ngày tháng 6
    Tôi trở lại “thăm” Hà Nội vào những ngày giữa tháng 6. Cũng hơn một năm rồi tôi mới có dịp ghé thăm “cố nhân” của mình. Tôi coi Hà Nội như người bạn cũ, bạn tri âm tri kỷ. Bởi vậy, đêm trước khi lên xe xuôi về trái tim của dải đất cong cong hình chữ S xinh đẹp lòng tôi có chút bồi hồi cộng thêm sự háo hức. Lần nào cũng vậy cái cảm xúc ấy vẫn vẹn nguyên như thủa ban đầu đôi khi chẳng gọi được thành tên. Chỉ biết rằng sớm mai thôi tôi và “bạn” sẽ gặp lại với bao điều muốn nói,…
  • Ở phố Khương Trung có mẹ Oanh
    Tôi gặp lại P. trong một quán cà phê nhỏ vào một chiều Hà Nội bảng lảng sương giăng, khi cậu có chuyến công tác từ phương Nam ra. P. là đứa em, cũng là người đã chung lưng đấu cật với tôi suốt sáu năm trời trong một căn gác trọ nằm sâu nơi ngõ ngách Khương Trung. Đã lâu lắm rồi hai đứa mới có dịp ngồi lại, khuấy nhẹ ly cà phê, nhìn dòng người hối hả ngược xuôi qua lớp cửa kính. Giữa những câu chuyện không đầu không cuối về áp lực cơm áo gạo tiền, P. bỗng lặng đi một chút rồi hỏi: “Anh ơi, anh có nhớ mẹ Oanh không?”.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội hỗ trợ mức cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể
    Theo nghị quyết mới được thông qua, phạm vi và đối tượng áp dụng được điều chỉnh hướng tới các chủ thể di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố, bao gồm Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, các câu lạc bộ, nhóm thực hành, nghệ nhân và người thực hành di sản. Đáng chú ý, Hà Nội quyết định giữ nguyên mức hỗ trợ rất cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể.
  • Đánh thức bảo tàng bằng ứng dụng nghệ thuật liên ngành
    Hệ thống bảo tàng đang đứng trước những yêu cầu thay đổi theo hướng đa dạng, linh hoạt và hấp dẫn hơn trong cách tổ chức trưng bày nhằm thu hút du khách. Theo đó, bên cạnh các tư liệu, hiện vật, sự kết hợp giữa công nghệ, nghệ thuật sắp đặt và các yếu tố liên ngành đóng vai trò quan trọng, mang đến cho khách tham quan một hành trình thấu hiểu quá khứ theo nhiều cách khác nhau.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Xây dựng Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam thành tổ hợp du lịch đẳng cấp quốc tế
    Sau khi chính thức được chuyển giao về UBND thành phố Hà Nội quản lý vào tháng 6/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn. Từ một điểm đến phụ thuộc vào ngân sách, nơi đây được định hướng trở thành tổ hợp văn hóa, du lịch và giải trí mang tầm vóc quốc tế, đóng vai trò hạt nhân trong cực tăng trưởng phía Tây của Thủ đô. Chiều ngày 10/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã chủ trì buổi làm việc để định hình dòng chảy phát triển mới cho quần thể di sản này.
  • Ra mắt không gian nghệ thuật quy tụ 3 loại hình di sản xẩm, ca trù và múa rối nước
    Không gian văn hóa CADAO Collective chính thức ra mắt tại số 66 Tô Ngọc Vân (phường Tây Hồ, Hà Nội) với chương trình nghệ thuật đặc biệt quy tụ 3 loại hình di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội gồm xẩm, ca trù và múa rối nước.
  • CleanHanoi - Dịch vụ vệ sinh công nghiệp
    CleanHanoi triển khai vệ sinh cho căn hộ, biệt thự, văn phòng, cửa hàng, công trình sau xây dựng và nhiều loại hình không gian tại Hà Nội.
  • [Infographic] 12 nhiệm vụ trọng tâm tháo gỡ điểm nghẽn về chuyển đổi số
    Thành phố Hà Nội triển khai chiến dịch 100 ngày nhằm tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn lớn trong chuyển đổi số. Trọng tâm là hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung, bảo đảm "đúng, đủ, sạch, sống", chia sẻ và tái sử dụng.
  • Hà Nội hỗ trợ tiền ăn bán trú tiểu học với hai mức 40.000 đồng và 28.000 đồng
    Bước vào năm học 2026 - 2027, thành phố Hà Nội áp dụng cơ chế hỗ trợ chi phí ăn bán trú cho học sinh tiểu học với hai hạn mức cụ thể tùy thuộc vào đối tượng thụ hưởng. Nhóm học sinh được ưu tiên theo quy định sẽ nhận mức hỗ trợ trọn gói là 40.000 đồng mỗi ngày, trong khi các em học sinh còn lại được ngân sách đồng hành san sẻ với mức 28.000 đồng mỗi ngày.
  • Phường Tùng Thiện lan tỏa đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”
    Hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026), Đảng bộ, chính quyền phường Tùng Thiện (TP Hà Nội) tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực nhằm tri ân người có công, thân nhân người có công với cách mạng… Qua đó lan tỏa đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, đền ơn đáp nghĩa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam nói chung và người Hà Nội thanh lịch, văn minh nói riêng.
  • Phát động cuộc thi ảnh "Người cao tuổi Tây Hồ chung tay xây dựng phường sáng - xanh - sạch - đẹp"
    Chiều 16/7, Hội Người cao tuổi phường Tây Hồ tổ chức Hội nghị Công bố và trao quyết định thành lập các Chi hội Người cao tuổi tại các Tổ dân phố (TDP), Phát động phong trào đua “Toàn dân chung tay bảo về môi trường – vì thủ đô xanh – sạch –đẹp và Cuộc thi ảnh "Người cao tuổi Tây Hồ chung tay xây dựng phường sáng - xanh - sạch - đẹp".
Làm giấy sắc phong: Nghề truyền thống cần được khôi phục và gìn giữ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO