Hà Nội xưa - nay

Làm giấy sắc phong: Nghề truyền thống cần được khôi phục và gìn giữ

Ths. Nguyễn Thị Trung 07:42 05/01/2024

Làng Nghĩa Đô nằm bên hữu ngạn sông Tô Lịch là một làng gồm 4 thôn: Tiên Thượng (Tân), Vạn Long (Dâu), Yên Phú (An Phú) và Trung Nha (làng nghề) cùng với các làng Yên Thái, Đông Xã, Hồ Khẩu hợp thành cụm làng làm giấy. Nghĩa Đô trước thuộc huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông về sau là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Xưa, dân làng sống chủ yếu bằng nghề dệt và nghề giấy, còn ruộng thường cho cấy rẽ.

sac-phong.jpg
Giấy sắc dùng viết “ Tam cáo sắc” phỏng theo thời Nguyễn.

Nói về nghề giấy sắc Nghĩa Đô, dân gian đã lưu truyền những câu ca dao đầy tự hào:

Tiếng đồn con gái Nghĩa Đô

Quanh năm làm giấy cho vua được nhờ

(Ca dao)

Ở Nghĩa Đô có dòng họ Lại là một họ lớn. Khi Lại Thế Giáp lấy bà Phi Diệm Châu là con gái Trịnh Tráng (1623 – 1652) thì họ Lại giành được đặc ân chuyên sản xuất giấy sắc, cung cấp cho triều đình để viết sắc phong. Gia phả họ Lại cũng cho biết 4 – 5 đời thông gia với nhà chúa nên họ Lại còn có tên gọi nữa là Kim Tiên Thị, do vua ban. Dưới thời phong kiến, dòng họ Lại làm giấy sắc theo sự đặt hàng của triều đình. Giấy sắc là loại đã được vua chúa thẩm định kỹ lưỡng và đều thuộc loại quý hiếm. Giấy sắc không chỉ óng mịn như lụa mà còn bền dai như tơ, rất “cắn mực” khi viết, khi vẽ... Có những sắc phong trải qua gần 400 năm mà nét chữ, màu sắc, họa tiết vẫn tươi nguyên như thuở ban đầu trong khi loại giấy tốt nhất hiện nay cũng chỉ “thọ” được 50 năm là cùng, dễ bị hỏng nát do mối mọt xông, hoặc bị ố nhòe, bay mực. Xưa kia, giấy sắc là “Quốc bảo”, dân gian ai mà tự tiện mua dùng, nếu để thất thoát ra ngoài tờ nào thì bị coi là “phạm thượng”. Chính vì vậy mà cho đến nay họ Lại không lưu được bộ giấy sắc các triều đại. Nếu muốn tìm hiểu diện mạo sắc phong các triều đại phải khổ công đến các đình, đền miếu hoặc các dòng họ “thế gia lệnh tộc” may chăng còn giữ được một số mẫu.

Giấy sắc có nhiều loại: nhất gấm, nhất cáo sắc và nhị cáo sắc. Các loại khác nhau về kích cỡ và đường nét hoa văn trang trí.

Loại nhất gấm: Dùng làm sắc phong cho các bách thần gồm: Sắc Thượng đẳng thần, sắc Trung đẳng thần và sắc Hạ đẳng thần. Mặt chính được trang trí một hình rồng lớn vờn bay trong mây gọi là long ám. Mặt sau in hình tứ linh: Long, ly, quy, phượng.

Giấy sắc phong bách quan cũng có 3 loại: Nhất cáo sắc, Nhị cáo sắc và Tam cáo sắc. Nhất cáo sắc và Nhị cáo sắc dùng để phong cho quan lại có công với nước. Nhất cáo sắc và Nhị cáo sắc đều vẽ long ám (rồng ẩn hiện trong mây), riêng Tam cáo sắc lại vẽ con rồng lộ diện. Mặt sau của Nhất cáo sắc vẽ tứ linh: Long, ly, quy, phượng, Nhị cáo sắc thì vẽ quy, phượng, còn Tam cáo sắc thì vẽ một con rồng và in chữ thọ (có tài liệu còn nói mặt sau của Tam cáo sắc còn vẽ đề tài bầu rượu túi thơ).

Ngoài ra, có loại giấy sắc bán ở chợ, kích thước nhỏ hơn, trang trí đơn giản, chất lượng giấy kém hơn, dùng viết khoán ước, cúng nơi cửa đền, cửa phủ. Mỗi năm, làng giấy Nghĩa Đô chỉ sản xuất được vài trăm tờ giấy sắc phục vụ triều đình, còn lại sản xuất các loại giấy bình thường đem bán ngoài chợ.

Theo tên gọi, Kim Tiền - giấy sắc đương nhiên phải màu vàng và nó là tinh hoa giấy dó nhuộm phẩm màu thiên nhiên. Vẽ sắc phong phải bằng nhũ vàng, nhũ bạc xịn. Nghề làm giấy dó đã công phu, nghề làm giấy sắc còn công phu gấp bội. Muốn có được một tờ giấy sắc phải qua một số công đoạn phức tạp. Chọn dó làm giấy sắc phải chọn loại tốt, nuột, chất lượng cao. Giấy dùng để phong cho hàng nhất phẩm phải có 5 thợ cùng làm một lúc mới seo nổi một tờ. Giấy dùng để phong sắc cho hàng phẩm trật thấp hơn (từ nhị phẩm xuống đến cửu phẩm) cũng phải ba người xeo một tờ. Khi xeo xong phải dùng que dò để cuốn, khi can cũng phải có 2 người, phải dùng thép can trát bóng bôi lên tường mới dính được giấy để phơi. Giấy khô, dùng da trâu bò nấu kỹ (nung keo) gọi là nước keo, nước keo phải có phèn chua, dùng thép bồi giấy, thép lên hai mặt, mỗi mặt hai lần.

Sau khi giấy khô thì bắt đầu nhuộm màu bằng nước hoa hòe. Nhuộm sắc phải có hai màu chính là màu da thị và da đồng, nhưng muốn có màu da đồng thì nước trưng hoa hòe phải có thêm hồng đơn, một chút bột điệp. Mỗi mặt thép hai lần nước màu. Nhuộm xong đến công đoạn nghè, nền nghè là một phiến đá lớn có mặt phẳng nhẵn bóng. Đặt giấy lên hai người dùng chày đập đều đặn lên lần lượt khắp mặt giấy, lúc đầu giấy xốp, tiếng chày nghe bình bịch, đập đến khi nghe tiếng chày đanh là được, mặt giấy rất mịn và bền chắc. Sau đó dùng bản in khắc gỗ để in bo viền xung quanh và các chữ triện.

Vẽ có 2 mức: Vẽ chạy và vẽ đồ. Vẽ chạy nét cần người khéo tay và vẽ đẹp, vẽ đồ chỉ là vẽ để bổ sung và hoàn thiện. Phụ nữ chuyên seo giấy, đàn ông chuyên vẽ. Hoa văn trang trí tờ sắc bằng kim nhũ có 2 màu vàng hoặc bạc. Dùng quỳ vàng bạc thật, thấp hơn thì dùng quỳ đồng và quỳ thiếc. Hình rồng uốn lượn trong vân mây có ánh vàng hoặc ánh bạc lấp lánh trên nền da thị, da đồng rất đẹp. Những tờ sắc xưa còn lại cho đến ngày nay đã vài thế kỷ giấy vẫn bền chắc, nét vẽ và chữ viết vẫn mềm mại sắc nét, chỉ có viền sắc phong và mầu là chứa đậm nét thời gian, càng tăng thêm vẻ trang trọng và sự linh thiêng.

Các công đoạn để làm giấy sắc được giữ bí mật và chỉ truyền cho con trai và con dâu, không truyền cho con gái. Từ khâu chọn dó, nấu dó, nghiền lọc thành bột đến khâu xeo giấy, ép giấy và vẽ đều đòi hỏi người thợ có tay nghề cao, dày dặn kinh nghiệm. Cũng do công phu chế tác mà giấy sắc giá rất cao. Thời Nguyễn, triều vua Khải Định thứ 9 (năm 1924) nhà vua tổ chức thượng thọ tứ tuần có đặt mua của họ Lại hàng vạn tờ giấy sắc để viết sắc phong cho bách quan, bách thần. Làng giấy Nghĩa Đô được một năm phát đạt.

Hiện nay nhu cầu về giấy gió đã thay đổi huống chi là giấy sắc. Chỉ những người chuyên vẽ tranh Đông Hồ, viết thư pháp còn dùng giấy dó, nhưng số lượng không nhiều. Công nghệ làm giấy dó, đặc biệt là giấy sắc lại vô cùng tốn kém nên giá thành cao khó có thể cạnh tranh với giấy công nghiệp nên ít người muốn làm. Hơn nữa, nghề giấy sắc lại là nghề độc quyền, mật truyền của dòng họ Lại nên không thể trao cho người ngoài. Từ năm 1945 đến nay nghề làm giấy sắc ở Nghĩa Đô không còn nữa. Trước đây còn có cụ Lại Phú Bàn là đời thứ 20 theo nghề làm giấy sắc nhưng nay cụ đã mất. Lần cuối cùng cụ Bàn làm giấy sắc là năm 1944, năm 19 Bảo Đại.

Năm 2003, khi cùng những cán bộ sưu tầm của Bảo tàng Hà Nội nghiên cứu, tìm hiểu về nghề thủ công độc đáo của dòng họ Lại tại kinh kỳ Thăng Long – Hà Nội, tôi đã được gặp gỡ, trò chuyện với cụ Lại Phú Bàn - nghệ nhân duy nhất còn lại lúc bấy giờ và cũng là người cuối cùng biết được bí quyết và công nghệ làm giấy sắc. Chuyện trò với chúng tôi, cụ rất tự hào về nghề truyền thống của dòng họ mình nhưng lại đăm chiêu lo lắng vì tuổi cụ đã cao nhưng cho đến nay vẫn chưa có được ai để truyền giữ lại nghề truyền thống bao đời của dòng họ mình. Cụ nói: “Đây là nghề độc quyền của họ Lại nên không thể trao nó cho ai ngoài con cháu trong họ dẫu nhiều khách nước ngoài đến nài nỉ tôi bán bí quyết cho họ”. Lúc ấy, do nhu cầu của một số nơi và một số người cần sao chép lại bằng, sắc nên cụ Bàn có ý định khôi phục lại nghề nhưng điều đó vẫn chỉ là tâm nguyện của cụ. Nay cụ Lại Phú Bàn đã đi xa, trước khi đi xa cụ đã kịp truyền lại nghề cho các con. Vì vậy dòng họ Lại giờ chỉ còn 2 người con của cụ Lại Thế Bàn là Lại Phú Trạch và Lại Thị Hà (cháu đời thứ 23 của dòng họ) biết được bí quyết làm giấy sắc. Những người khác trong dòng họ cũng chỉ nắm được những nội dung cơ bản của quy trình đó mà thôi.

Ngày nay tuy giấy sắc không còn vai trò hệ trọng như xưa nhưng loại giấy cao cấp này vẫn cần cho việc phục chế các văn kiện chân bản trong trong các cơ quan lưu trữ, thư viện, các viện bảo tàng và những bằng khen của Chủ tịch nước hoặc Thủ tướng Chính phủ. Thiết nghĩ nên sử dụng giấy sắc để lưu niệm lâu dài và cũng là cách trân trọng giữ gìn một di sản văn hóa của dân tộc và khuyến khích việc bảo tồn nghề độc đáo của Thủ đô nghìn năm văn hiến./.

Bài liên quan
  • Khu tập thể Giảng Võ và những ký ức một thời
    Tình cờ xem bộ phim “Số phận trớ trêu” của Nga, tôi lại nhớ về những ngôi nhà cao tầng theo phong cách “xã hội chủ nghĩa”, một phong cách điển hình trong thập niên 60 và 70 ở Đông Âu và khu tập thể mà tôi từng gắn bó – khu tập thể Giảng Võ. Với tôi, khu tập thể Giảng Võ là tuổi thơ, là kỷ niệm không dễ nguôi quên.
(0) Bình luận
  • Nhớ đình xưa nơi phố cũ
    Một buổi chiều cuối năm 2025, tôi trở về bên Hồ Gươm, nơi lưu giữ miền cổ tích của tuổi thơ mình. Rảo bước trên vỉa hè phố Cầu Gỗ để vào chợ Hàng Bè, nơi tôi đã đi qua không biết bao lần trong suốt 25 năm đầu đời của mình (1954-1979), tôi bỗng ngỡ ngàng như lạc vào một miền xa lạ.
  • Bến xe Hà Nội: Nơi những hành trình bắt đầu từ ký ức
    Trong nhịp sống hối hả của Thủ đô, bến xe không chỉ là nơi đi và đến. Đó còn là nơi lưu giữ ký ức của biết bao thế hệ — nơi những người con xa quê lần đầu đặt chân tới Hà Nội, nơi những chuyến xe chở theo ước mơ, hy vọng và cả những nỗi niềm rất đời thường.
  • Chiếc vé nhỏ - Câu chuyện tàu điện Hà Nội xưa
    Mỗi khi nghe ca khúc “Nhớ về Hà Nội”, những người Hà Nội ngoài ngũ tuần chắc hẳn lại nhớ về một thời xa vắng khi tiếng leng keng của tàu điện đánh thức phố phường mỗi sớm mai. Những chuyến tàu xanh hay đỏ, ghế gỗ, vành sắt mòn bóng đã chở biết bao thế hệ người Hà Nội. Ít ai nghĩ câu chuyện về những chuyến tàu ấy lại bắt đầu từ một thứ nhỏ bé: chiếc vé.
  • Phố và phường qua những ngôi đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội
    Hà Nội, trong lịch sử dài lâu của mình, được tạo nên bởi “phố” và “phường”. “Phố” và “phường” Hà Nội không chỉ là đơn vị hành chính mà còn hàm chứa những thăng trầm của lịch sử, những đổi thay của xã hội và những giá trị được kiến tạo bởi các cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Một trong những điểm nổi bật của quá trình kiến tạo này là sự gắn bó mật thiết giữa “phường” với tư cách là đơn vị hành chính đô thị và “phường” với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp và “phố” là nơi buôn bán của cư dân đô thị. Trải qua thời gian, dấu ấn đậm nét của những phường nghề Thăng Long xưa vẫn được lưu lại ở các ngôi đình thờ tổ nghề ngay trong vùng lõi của Thủ đô, được gọi là khu phố cổ.
  • Kiến tạo bản sắc Hà Nội từ văn hóa dân gian
    Vốn được hiểu là tổng thể những đặc trưng văn hóa ổn định, bản sắc văn hóa của một nơi chốn trên thực tế lại không ngừng vận động, biến đổi qua thời gian. Bản sắc văn hóa Hà Nội cũng không phải ngoại lệ. Là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài, bền bỉ, bản sắc văn hóa Hà Nội là sự kết tinh của quá trình đan xen, bồi đắp của những lớp trầm tích của đời sống dân gian và những mảng màu đa sắc của đời sống đô thị hàng nghìn năm. Trong quá trình này, văn hóa dân gian giữ vai trò nền tảng, từ đó, bản sắc văn hóa Hà Nội được định hình; và qua biết bao lớp vun bồi của giao lưu văn hóa, qua bao chảy trôi, thăng trầm của lịch sử, qua những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, vẫn có thể thấy vẻ đẹp đặc sắc của linh hồn phố thị Hà Nội được kiến tạo từ văn hóa dân gian.
  • Lễ hội chùa Vua xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sắc cuộc thi “cờ người” đất Thăng Long – Hà Nội
    Thông tin UBND phường Hai Bà Trưng (TP. Hà Nội) cho biết, Lễ hội truyền thống chùa Vua - xuân Bính Ngọ 2026 sẽ diễn ra từ ngày 22 – 25/2 (mùng 6 đến mùng 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ). Lễ hội được khai mạc vào sáng ngày 25/2 (ngày 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ) tại chùa Vua (số 17 Thịnh Yên), trong đó đặc sắc nhất là phần thi cờ tướng.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Festival Võ thuật Quốc tế Hà Nội 2026: Góp phần định hình một sản phẩm văn hóa mới của Thủ đô
    Tối 7/8, tại Hoàng thành Thăng Long - Di sản Văn hóa Thế giới, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ khai mạc Festival Võ thuật Quốc tế Hà Nội 2026 với chủ đề "Hào khí Thăng Long - Tinh hoa võ Việt". Lần đầu tiên được tổ chức, Festival đánh dấu bước đi mới của Thủ đô trong việc xây dựng một sự kiện văn hóa - thể thao mang tầm quốc tế, góp phần tôn vinh truyền thống thượng võ dân tộc, quảng bá hình ảnh Hà Nội và thúc đẩy giao lưu văn hóa, thể thao với bạn bè thế giới.
  • Phát triển kinh tế di sản: Thành tựu, động lực tăng trưởng của Việt Nam trong kỷ nguyên mới
    Một trong những điểm mới, thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đó là tiếp tục quan điểm “bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn kết với phát triển kinh tế - xã hội và du lịch”; đồng thời, nâng lên một tầm cao mới: “phát triển kinh tế di sản”.
  • Đánh thức di sản, tạo động lực phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô
    PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Uỷ viên chuyên trách, Uỷ ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội chia sẻ, Hà Nội là nơi mỗi bước chân đều có thể chạm vào lịch sử, mỗi tên phố, tên làng, mái đình, mặt hồ, nếp nhà, câu hát, món ăn, làn điệu, nghề thủ công đều có thể kể một câu chuyện về chiều sâu văn hiến của dân tộc. Nhưng trong kỷ nguyên mới, câu hỏi đặt ra không chỉ Hà Nội có bao nhiêu di sản, bao nhiêu văn nghệ sĩ, trí thức, không gian ký ức, mà là làm thế nào để những giá trị ấy trở thành nguồn lực phát triển, thành sức mạnh mềm, thành động lực sáng tạo, thành năng lực cạnh tranh của Thủ đô.
  • Hơn 300 đại biểu, doanh nghiệp đăng ký tham dự Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Uganda
    Hơn 300 đại biểu, doanh nghiệp Việt Nam và Uganda đã đăng ký tham dự Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Uganda - Viên ngọc Châu Phi (The Pearl of Africa - Uganda Business Forum & Expo Vietnam Chapter), cho thấy sức hút ngày càng lớn của sự kiện đối với cộng đồng doanh nghiệp hai nước, đồng thời mở ra kỳ vọng về những kết nối đầu tư và thương mại thực chất giữa Việt Nam và Uganda.
  • Hà Nội mở đợt cao điểm tuyên truyền Nghị quyết 57- NQ/TW và Kế hoạch 100 ngày tháo gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số
    Thủ đô Hà Nội đang bước vào đợt truyền thông sâu rộng nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động, tháo gỡ dứt điểm các vướng mắc về dữ liệu, hạ tầng và công nghệ trong hệ thống chính trị.
Đừng bỏ lỡ
  • [Podcast] Truyện ngắn: Đối diện
    Cháu mang bài về, nghiên cứu kĩ rồi đem lại cho chú. Bài viết này chú thấy chưa hợp lí. Nếu như để công an điều tra vào cuộc, chú e… chúng ta phải làm nhiều bước nữa đấy. Sẵn sàng thì tiếp tục nhé! Chú Minh cầm tập bài viết đưa lại cho Thy. Cô ngại ngùng đỡ lấy. Đây là lần thứ ba, loạt bài phóng sự của mình bị Tổng biên tập kêu lên để trả lại...
  • Thực hiện Luật Thủ đô 2026, Hà Nội tăng cường quản lý nhà nước về dịch vụ lữ hành
    Triển khai Luật Thủ đô 2026 có hiệu lực từ ngày 1/7, các quy định của Luật Du lịch và văn bản hướng dẫn liên quan trong hoạt động kinh doanh du dịch; Sở Du lịch Hà Nội đề nghị các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành trên địa bàn thành phố thực hiện một số nội dung quan trọng. Qua đó góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển du lịch Hà Nội năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.
  • Ra mắt bộ sách "Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz" bằng tiếng Tây Ban Nha
    Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz (13/8/1926 - 13/8/2026) - nhà lãnh đạo kiệt xuất của Cách mạng Cuba, người bạn lớn, người đồng chí thủy chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, chiều 5/8, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Lễ giới thiệu bộ sách “Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz” gồm 24 tập bằng tiếng Tây Ban Nha.
  • Xây dựng Lễ hội Trung thu Thành cổ Sơn Tây thành sản phẩm văn hóa đặc trưng của Hà Nội
    Lễ hội “Trung thu Thành cổ - Sơn Tây xứ Đoài” năm 2026 do UBND phường Sơn Tây (TP Hà Nội) tổ chức sẽ diễn ra từ cuối tháng 8/2026. Hiện tại, công tác chuẩn bị Lễ hội đang được chính quyền phường Sơn Tây cùng các phòng, ban, ngành, đơn vị và 25 tổ dân phố khẩn trương triển khai, tạo khí thế sôi nổi, sẵn sàng mang đến cho Nhân dân và du khách một mùa Trung thu quy mô, đặc sắc và giàu bản sắc văn hóa xứ Đoài.
  • Phát động Cuộc thi trực tuyến “Thủ đô Hà Nội cùng dân tộc trong kỷ nguyên mới” trên ứng dụng iHanoi
    Không chỉ đơn thuần là một đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn, cuộc thi trực tuyến với tên gọi "Thủ đô Hà Nội cùng dân tộc trong kỷ nguyên mới" hướng đến việc biến những định hướng chiến lược trong Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị thành niềm tin, thành nhận thức chung của mỗi người dân.
  • Nửa chân trời trong sương
    Làng tôi ven sông Yên, một nhánh sông quanh năm lững lờ chảy qua những bãi bồi ngập cỏ. Con đường đất dẫn vào làng uốn cong cong, bốn mùa nồng nàn hương hoa cỏ. Những buổi hoàng hôn, khi nắng đã dịu xuống phía cuối sông, đám hoa tím lại thẫm màu như có ai vừa rắc lên một lớp khói.
  • Tôn vinh âm nhạc truyền thống tại “Cuộc thi Độc tấu và Hòa tấu nhạc cụ dân tộc toàn quốc - 2026”
    Ban tổ chức yêu cầu các tác phẩm tham dự “Cuộc thi Độc tấu và Hòa tấu nhạc cụ dân tộc toàn quốc - 2026” phải giữ được phong cách, âm hưởng dân gian đặc trưng hoặc được hòa âm, phối khí mới trên nền tảng làn điệu âm nhạc truyền thống Việt Nam, đồng thời phải được trình diễn trực tiếp bằng nhạc cụ dân tộc.
  • Chùm thơ của tác giả Nguyễn Thanh Kim
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Nguyễn Thanh Kim.
  • Âm nhạc cuối tuần: “Chất men” văn hóa giữa lòng Hà Nội
    Chiều cuối tuần tại Nhà Bát Giác, những thanh âm đầu tiên của "Hà Nội - Niềm tin và hy vọng" vang lên như một lời chào quen thuộc dành cho người dân và du khách. Tiếp sau đó, những giai điệu jazz kinh điển của thế giới lần lượt cất lên qua phần biểu diễn của NSƯT Quyền Văn Minh và các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club, mở ra một không gian âm nhạc giàu cảm xúc ngay giữa trung tâm Thủ đô.
  • Đưa nghệ thuật truyền thống đến gần công chúng, bồi đắp tình yêu lịch sử qua “Âm nhạc cộng đồng”
    Tối 2/8, tại Nhà Bát Giác, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện đã mang đến cho đông đảo người dân và du khách một không gian nghệ thuật đa sắc, nơi những làn điệu cải lương, ca cổ, tân cổ và các tiết mục múa hòa quyện trong không gian của phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Đặc biệt, chương trình có sự giao lưu của các nghệ sĩ đến từ phương Nam, góp phần tạo nên cuộc gặp gỡ nghệ thuật giàu cảm xúc.
Làm giấy sắc phong: Nghề truyền thống cần được khôi phục và gìn giữ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO