Hà Nội xưa - nay

Làm giấy sắc phong: Nghề truyền thống cần được khôi phục và gìn giữ

Ths. Nguyễn Thị Trung 07:42 05/01/2024

Làng Nghĩa Đô nằm bên hữu ngạn sông Tô Lịch là một làng gồm 4 thôn: Tiên Thượng (Tân), Vạn Long (Dâu), Yên Phú (An Phú) và Trung Nha (làng nghề) cùng với các làng Yên Thái, Đông Xã, Hồ Khẩu hợp thành cụm làng làm giấy. Nghĩa Đô trước thuộc huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông về sau là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Xưa, dân làng sống chủ yếu bằng nghề dệt và nghề giấy, còn ruộng thường cho cấy rẽ.

sac-phong.jpg
Giấy sắc dùng viết “ Tam cáo sắc” phỏng theo thời Nguyễn.

Nói về nghề giấy sắc Nghĩa Đô, dân gian đã lưu truyền những câu ca dao đầy tự hào:

Tiếng đồn con gái Nghĩa Đô

Quanh năm làm giấy cho vua được nhờ

(Ca dao)

Ở Nghĩa Đô có dòng họ Lại là một họ lớn. Khi Lại Thế Giáp lấy bà Phi Diệm Châu là con gái Trịnh Tráng (1623 – 1652) thì họ Lại giành được đặc ân chuyên sản xuất giấy sắc, cung cấp cho triều đình để viết sắc phong. Gia phả họ Lại cũng cho biết 4 – 5 đời thông gia với nhà chúa nên họ Lại còn có tên gọi nữa là Kim Tiên Thị, do vua ban. Dưới thời phong kiến, dòng họ Lại làm giấy sắc theo sự đặt hàng của triều đình. Giấy sắc là loại đã được vua chúa thẩm định kỹ lưỡng và đều thuộc loại quý hiếm. Giấy sắc không chỉ óng mịn như lụa mà còn bền dai như tơ, rất “cắn mực” khi viết, khi vẽ... Có những sắc phong trải qua gần 400 năm mà nét chữ, màu sắc, họa tiết vẫn tươi nguyên như thuở ban đầu trong khi loại giấy tốt nhất hiện nay cũng chỉ “thọ” được 50 năm là cùng, dễ bị hỏng nát do mối mọt xông, hoặc bị ố nhòe, bay mực. Xưa kia, giấy sắc là “Quốc bảo”, dân gian ai mà tự tiện mua dùng, nếu để thất thoát ra ngoài tờ nào thì bị coi là “phạm thượng”. Chính vì vậy mà cho đến nay họ Lại không lưu được bộ giấy sắc các triều đại. Nếu muốn tìm hiểu diện mạo sắc phong các triều đại phải khổ công đến các đình, đền miếu hoặc các dòng họ “thế gia lệnh tộc” may chăng còn giữ được một số mẫu.

Giấy sắc có nhiều loại: nhất gấm, nhất cáo sắc và nhị cáo sắc. Các loại khác nhau về kích cỡ và đường nét hoa văn trang trí.

Loại nhất gấm: Dùng làm sắc phong cho các bách thần gồm: Sắc Thượng đẳng thần, sắc Trung đẳng thần và sắc Hạ đẳng thần. Mặt chính được trang trí một hình rồng lớn vờn bay trong mây gọi là long ám. Mặt sau in hình tứ linh: Long, ly, quy, phượng.

Giấy sắc phong bách quan cũng có 3 loại: Nhất cáo sắc, Nhị cáo sắc và Tam cáo sắc. Nhất cáo sắc và Nhị cáo sắc dùng để phong cho quan lại có công với nước. Nhất cáo sắc và Nhị cáo sắc đều vẽ long ám (rồng ẩn hiện trong mây), riêng Tam cáo sắc lại vẽ con rồng lộ diện. Mặt sau của Nhất cáo sắc vẽ tứ linh: Long, ly, quy, phượng, Nhị cáo sắc thì vẽ quy, phượng, còn Tam cáo sắc thì vẽ một con rồng và in chữ thọ (có tài liệu còn nói mặt sau của Tam cáo sắc còn vẽ đề tài bầu rượu túi thơ).

Ngoài ra, có loại giấy sắc bán ở chợ, kích thước nhỏ hơn, trang trí đơn giản, chất lượng giấy kém hơn, dùng viết khoán ước, cúng nơi cửa đền, cửa phủ. Mỗi năm, làng giấy Nghĩa Đô chỉ sản xuất được vài trăm tờ giấy sắc phục vụ triều đình, còn lại sản xuất các loại giấy bình thường đem bán ngoài chợ.

Theo tên gọi, Kim Tiền - giấy sắc đương nhiên phải màu vàng và nó là tinh hoa giấy dó nhuộm phẩm màu thiên nhiên. Vẽ sắc phong phải bằng nhũ vàng, nhũ bạc xịn. Nghề làm giấy dó đã công phu, nghề làm giấy sắc còn công phu gấp bội. Muốn có được một tờ giấy sắc phải qua một số công đoạn phức tạp. Chọn dó làm giấy sắc phải chọn loại tốt, nuột, chất lượng cao. Giấy dùng để phong cho hàng nhất phẩm phải có 5 thợ cùng làm một lúc mới seo nổi một tờ. Giấy dùng để phong sắc cho hàng phẩm trật thấp hơn (từ nhị phẩm xuống đến cửu phẩm) cũng phải ba người xeo một tờ. Khi xeo xong phải dùng que dò để cuốn, khi can cũng phải có 2 người, phải dùng thép can trát bóng bôi lên tường mới dính được giấy để phơi. Giấy khô, dùng da trâu bò nấu kỹ (nung keo) gọi là nước keo, nước keo phải có phèn chua, dùng thép bồi giấy, thép lên hai mặt, mỗi mặt hai lần.

Sau khi giấy khô thì bắt đầu nhuộm màu bằng nước hoa hòe. Nhuộm sắc phải có hai màu chính là màu da thị và da đồng, nhưng muốn có màu da đồng thì nước trưng hoa hòe phải có thêm hồng đơn, một chút bột điệp. Mỗi mặt thép hai lần nước màu. Nhuộm xong đến công đoạn nghè, nền nghè là một phiến đá lớn có mặt phẳng nhẵn bóng. Đặt giấy lên hai người dùng chày đập đều đặn lên lần lượt khắp mặt giấy, lúc đầu giấy xốp, tiếng chày nghe bình bịch, đập đến khi nghe tiếng chày đanh là được, mặt giấy rất mịn và bền chắc. Sau đó dùng bản in khắc gỗ để in bo viền xung quanh và các chữ triện.

Vẽ có 2 mức: Vẽ chạy và vẽ đồ. Vẽ chạy nét cần người khéo tay và vẽ đẹp, vẽ đồ chỉ là vẽ để bổ sung và hoàn thiện. Phụ nữ chuyên seo giấy, đàn ông chuyên vẽ. Hoa văn trang trí tờ sắc bằng kim nhũ có 2 màu vàng hoặc bạc. Dùng quỳ vàng bạc thật, thấp hơn thì dùng quỳ đồng và quỳ thiếc. Hình rồng uốn lượn trong vân mây có ánh vàng hoặc ánh bạc lấp lánh trên nền da thị, da đồng rất đẹp. Những tờ sắc xưa còn lại cho đến ngày nay đã vài thế kỷ giấy vẫn bền chắc, nét vẽ và chữ viết vẫn mềm mại sắc nét, chỉ có viền sắc phong và mầu là chứa đậm nét thời gian, càng tăng thêm vẻ trang trọng và sự linh thiêng.

Các công đoạn để làm giấy sắc được giữ bí mật và chỉ truyền cho con trai và con dâu, không truyền cho con gái. Từ khâu chọn dó, nấu dó, nghiền lọc thành bột đến khâu xeo giấy, ép giấy và vẽ đều đòi hỏi người thợ có tay nghề cao, dày dặn kinh nghiệm. Cũng do công phu chế tác mà giấy sắc giá rất cao. Thời Nguyễn, triều vua Khải Định thứ 9 (năm 1924) nhà vua tổ chức thượng thọ tứ tuần có đặt mua của họ Lại hàng vạn tờ giấy sắc để viết sắc phong cho bách quan, bách thần. Làng giấy Nghĩa Đô được một năm phát đạt.

Hiện nay nhu cầu về giấy gió đã thay đổi huống chi là giấy sắc. Chỉ những người chuyên vẽ tranh Đông Hồ, viết thư pháp còn dùng giấy dó, nhưng số lượng không nhiều. Công nghệ làm giấy dó, đặc biệt là giấy sắc lại vô cùng tốn kém nên giá thành cao khó có thể cạnh tranh với giấy công nghiệp nên ít người muốn làm. Hơn nữa, nghề giấy sắc lại là nghề độc quyền, mật truyền của dòng họ Lại nên không thể trao cho người ngoài. Từ năm 1945 đến nay nghề làm giấy sắc ở Nghĩa Đô không còn nữa. Trước đây còn có cụ Lại Phú Bàn là đời thứ 20 theo nghề làm giấy sắc nhưng nay cụ đã mất. Lần cuối cùng cụ Bàn làm giấy sắc là năm 1944, năm 19 Bảo Đại.

Năm 2003, khi cùng những cán bộ sưu tầm của Bảo tàng Hà Nội nghiên cứu, tìm hiểu về nghề thủ công độc đáo của dòng họ Lại tại kinh kỳ Thăng Long – Hà Nội, tôi đã được gặp gỡ, trò chuyện với cụ Lại Phú Bàn - nghệ nhân duy nhất còn lại lúc bấy giờ và cũng là người cuối cùng biết được bí quyết và công nghệ làm giấy sắc. Chuyện trò với chúng tôi, cụ rất tự hào về nghề truyền thống của dòng họ mình nhưng lại đăm chiêu lo lắng vì tuổi cụ đã cao nhưng cho đến nay vẫn chưa có được ai để truyền giữ lại nghề truyền thống bao đời của dòng họ mình. Cụ nói: “Đây là nghề độc quyền của họ Lại nên không thể trao nó cho ai ngoài con cháu trong họ dẫu nhiều khách nước ngoài đến nài nỉ tôi bán bí quyết cho họ”. Lúc ấy, do nhu cầu của một số nơi và một số người cần sao chép lại bằng, sắc nên cụ Bàn có ý định khôi phục lại nghề nhưng điều đó vẫn chỉ là tâm nguyện của cụ. Nay cụ Lại Phú Bàn đã đi xa, trước khi đi xa cụ đã kịp truyền lại nghề cho các con. Vì vậy dòng họ Lại giờ chỉ còn 2 người con của cụ Lại Thế Bàn là Lại Phú Trạch và Lại Thị Hà (cháu đời thứ 23 của dòng họ) biết được bí quyết làm giấy sắc. Những người khác trong dòng họ cũng chỉ nắm được những nội dung cơ bản của quy trình đó mà thôi.

Ngày nay tuy giấy sắc không còn vai trò hệ trọng như xưa nhưng loại giấy cao cấp này vẫn cần cho việc phục chế các văn kiện chân bản trong trong các cơ quan lưu trữ, thư viện, các viện bảo tàng và những bằng khen của Chủ tịch nước hoặc Thủ tướng Chính phủ. Thiết nghĩ nên sử dụng giấy sắc để lưu niệm lâu dài và cũng là cách trân trọng giữ gìn một di sản văn hóa của dân tộc và khuyến khích việc bảo tồn nghề độc đáo của Thủ đô nghìn năm văn hiến./.

Bài liên quan
  • Khu tập thể Giảng Võ và những ký ức một thời
    Tình cờ xem bộ phim “Số phận trớ trêu” của Nga, tôi lại nhớ về những ngôi nhà cao tầng theo phong cách “xã hội chủ nghĩa”, một phong cách điển hình trong thập niên 60 và 70 ở Đông Âu và khu tập thể mà tôi từng gắn bó – khu tập thể Giảng Võ. Với tôi, khu tập thể Giảng Võ là tuổi thơ, là kỷ niệm không dễ nguôi quên.
(0) Bình luận
  • Nhớ đình xưa nơi phố cũ
    Một buổi chiều cuối năm 2025, tôi trở về bên Hồ Gươm, nơi lưu giữ miền cổ tích của tuổi thơ mình. Rảo bước trên vỉa hè phố Cầu Gỗ để vào chợ Hàng Bè, nơi tôi đã đi qua không biết bao lần trong suốt 25 năm đầu đời của mình (1954-1979), tôi bỗng ngỡ ngàng như lạc vào một miền xa lạ.
  • Bến xe Hà Nội: Nơi những hành trình bắt đầu từ ký ức
    Trong nhịp sống hối hả của Thủ đô, bến xe không chỉ là nơi đi và đến. Đó còn là nơi lưu giữ ký ức của biết bao thế hệ — nơi những người con xa quê lần đầu đặt chân tới Hà Nội, nơi những chuyến xe chở theo ước mơ, hy vọng và cả những nỗi niềm rất đời thường.
  • Chiếc vé nhỏ - Câu chuyện tàu điện Hà Nội xưa
    Mỗi khi nghe ca khúc “Nhớ về Hà Nội”, những người Hà Nội ngoài ngũ tuần chắc hẳn lại nhớ về một thời xa vắng khi tiếng leng keng của tàu điện đánh thức phố phường mỗi sớm mai. Những chuyến tàu xanh hay đỏ, ghế gỗ, vành sắt mòn bóng đã chở biết bao thế hệ người Hà Nội. Ít ai nghĩ câu chuyện về những chuyến tàu ấy lại bắt đầu từ một thứ nhỏ bé: chiếc vé.
  • Phố và phường qua những ngôi đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội
    Hà Nội, trong lịch sử dài lâu của mình, được tạo nên bởi “phố” và “phường”. “Phố” và “phường” Hà Nội không chỉ là đơn vị hành chính mà còn hàm chứa những thăng trầm của lịch sử, những đổi thay của xã hội và những giá trị được kiến tạo bởi các cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Một trong những điểm nổi bật của quá trình kiến tạo này là sự gắn bó mật thiết giữa “phường” với tư cách là đơn vị hành chính đô thị và “phường” với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp và “phố” là nơi buôn bán của cư dân đô thị. Trải qua thời gian, dấu ấn đậm nét của những phường nghề Thăng Long xưa vẫn được lưu lại ở các ngôi đình thờ tổ nghề ngay trong vùng lõi của Thủ đô, được gọi là khu phố cổ.
  • Kiến tạo bản sắc Hà Nội từ văn hóa dân gian
    Vốn được hiểu là tổng thể những đặc trưng văn hóa ổn định, bản sắc văn hóa của một nơi chốn trên thực tế lại không ngừng vận động, biến đổi qua thời gian. Bản sắc văn hóa Hà Nội cũng không phải ngoại lệ. Là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài, bền bỉ, bản sắc văn hóa Hà Nội là sự kết tinh của quá trình đan xen, bồi đắp của những lớp trầm tích của đời sống dân gian và những mảng màu đa sắc của đời sống đô thị hàng nghìn năm. Trong quá trình này, văn hóa dân gian giữ vai trò nền tảng, từ đó, bản sắc văn hóa Hà Nội được định hình; và qua biết bao lớp vun bồi của giao lưu văn hóa, qua bao chảy trôi, thăng trầm của lịch sử, qua những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, vẫn có thể thấy vẻ đẹp đặc sắc của linh hồn phố thị Hà Nội được kiến tạo từ văn hóa dân gian.
  • Lễ hội chùa Vua xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sắc cuộc thi “cờ người” đất Thăng Long – Hà Nội
    Thông tin UBND phường Hai Bà Trưng (TP. Hà Nội) cho biết, Lễ hội truyền thống chùa Vua - xuân Bính Ngọ 2026 sẽ diễn ra từ ngày 22 – 25/2 (mùng 6 đến mùng 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ). Lễ hội được khai mạc vào sáng ngày 25/2 (ngày 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ) tại chùa Vua (số 17 Thịnh Yên), trong đó đặc sắc nhất là phần thi cờ tướng.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Tạo dựng bản sắc kiến trúc Hà Nội: Giữ hồn cốt Thủ đô, kiến tạo diện mạo cho tương lai
    Kiến trúc không chỉ định hình diện mạo đô thị mà còn lưu giữ ký ức, phản ánh bản sắc văn hóa và trình độ phát triển của mỗi thời đại. Đối với Hà Nội - thành phố ngàn năm văn hiến, việc kiến tạo những công trình mới hài hòa với không gian lịch sử, đồng thời phát huy vai trò của đội ngũ kiến trúc sư trong bảo tồn và sáng tạo, là yêu cầu quan trọng để xây dựng Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại", đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới.
  • [Video] “Khúc quân hành” năm 2026: Một thập kỷ bền bỉ lan toả nghĩa tình đền ơn đáp nghĩa
    Tiếp nối thành công của 9 lần trước, năm 2026, Chương trình "Khúc quân hành” lần thứ X do Tạp chí Người Hà Nội tổ chức, đã diễn ra từ ngày 18 đến 21/7 tại các xã Đông Khê, Trường Hà - tỉnh Cao Bằng và Thủ đô Hà Nội. Chương trình là hoạt động thiết thực kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); hướng tới 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026). Chương trình Khúc quân hành năm 2026 đánh dấu một thập kỷ vun đắp và lan tỏa truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” tốt đẹp của dân tộc.
  • Giải thưởng Victor Tardieu 2026: Tôn vinh và tiếp sức cho những tài năng mỹ thuật trẻ
    Chiều 25/7, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam tổ chức Lễ trao Giải thưởng Victor Tardieu 2026, vinh danh những sinh viên có tác phẩm tốt nghiệp xuất sắc. Ở mùa giải thứ hai, giải thưởng tiếp tục khẳng định vai trò là bệ phóng cho các tài năng mỹ thuật trẻ.
  • Hà Nội thí điểm mô hình tiêu dùng số và bảo trợ thương mại điện tử
    Đến năm 2028, thành phố phấn đấu kết nối 500 chủ thể, công khai 1.000 sản phẩm với ít nhất 80% có truy xuất nguồn gốc, đồng thời giải quyết hiệu quả các phản ánh và khiếu nại. Để thực hiện, Hà Nội xây dựng quy chế phối hợp liên ngành, tận dụng hạ tầng công nghệ sẵn có như ứng dụng iHanoi để mở "Gian hàng số Thủ đô" và giao Chi cục Quản lý thị trường làm đầu mối chống hàng giả...
  • Hà Nội sắp xếp lại mạng lưới trường cao đẳng, trung cấp và trung tâm GDNN-GDTX
    Hà Nội triển khai tái cấu trúc mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và đại học công lập nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng đào tạo và giữ ổn định tâm lý học sinh. Theo đó, 19 trường cao đẳng, trung cấp thành 8 trường cao đẳng và 2 trường trung cấp; hợp nhất 29 trung tâm GDNN-GDTX theo các cực phát triển địa lý thành 14 trung tâm; đồng thời giữ nguyên Trường Đại học Thủ đô Hà Nội để tập trung đầu tư phát triển. Toàn bộ công tác sắp xếp, sáp nhập được yêu cầu hoàn thành trước ngày 25/8/2026.
Đừng bỏ lỡ
  • [Podcast] Canh dải khoai - Đặc sản trứ danh xứ Đoài
    Trải qua thăng trầm thời gian, người Hà Nội vẫn luôn biết gìn giữ những món ăn truyền thống từ công thức gia truyền, đồng thời họ còn nâng niu những giá trị văn hóa được gửi gắm trong từng món ăn, từ cách chọn nguyên liệu, chế biến đến cách thưởng thức. Và canh dải khoai là một món ăn như thế.
  • Kiệt tác opera “La Traviata” của Ý chuẩn bị công chiếu tại Hà Nội
    Trong hai đêm 30 và 31/7/2026, Nhà hát Hồ Gươm, khán giả yêu nghệ thuật hàn lâm tại Hà Nội sẽ được hòa mình vào không gian âm nhạc đỉnh cao với sự xuất hiện của vở opera kinh điển “La Traviata”.
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Từ giai điệu "Hà Nội mùa thu" đến sức sống của một không gian văn hóa cộng đồng
    Trong không gian Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội), chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 26/7 không chỉ mang đến những giai điệu Jazz đặc sắc mà còn mở ra một cách cảm nhận mới về Hà Nội. Điểm nhấn của chương trình là ca khúc “Hà Nội mùa thu” của nhạc sĩ Vũ Thanh đã đưa hình ảnh Thủ đô hiện lên bằng vẻ đẹp tinh tế, giàu chiều sâu văn hóa, qua đó khẳng định vai trò của nghệ thuật trong việc kiến tạo không gian văn hóa cộng đồng và lan tỏa những giá trị bền vững của thành phố.
  • Phát động cuộc thi sáng tác thơ, âm nhạc, nhiếp ảnh hướng tới Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương
    Cuộc thi là cơ hội khuyến khích đội ngũ văn nghệ sĩ và các tầng lớp Nhân dân phát huy sáng tạo, tìm kiếm những nhân tố mới nhằm bổ sung nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của tỉnh.
  • Đặc sắc chương trình nghệ thuật Bún Bò Huế “Huyền tích Vân Cù và bản giao hưởng Hương Ngự”
    Các nghệ nhân, đầu bếp và chuyên gia ẩm thực đến từ 3 miền Bắc - Trung – Nam chế biến 300 tô Bún bò Huế cùng một lúc theo quy trình truyền thống đã lập Kỷ lục Việt Nam.
  • Phát động Cuộc thi "Sáng tạo IP văn hóa từ di sản Phở Hà Nội"
    Cuộc thi "Sáng tạo IP văn hóa từ di sản Phở Hà Nội" đánh dấu bước chuyển mình trong cách tiếp cận di sản, giúp lan tỏa các giá trị truyền thống, kích cầu du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa. Đồng thời, đây cũng là khởi đầu quan trọng giúp thành phố chuẩn bị các nguồn lực tư liệu cần thiết, phục vụ thành phố xây dựng hồ sơ khoa học trình UNESCO ghi danh Phở.
  • Để ký ức Hà Nội ngân lên trong những giai điệu cuối tuần
    Có những ca khúc đã vượt qua giới hạn của thời gian để trở thành một phần ký ức của thành phố. Mỗi lần giai điệu ấy cất lên, Hà Nội như hiện diện gần hơn trong cảm nhận của người nghe. Chiều 26/7, chương trình "Âm nhạc cuối tuần" tại Nhà Bát Giác sẽ đưa công chúng bước vào hành trình âm nhạc nơi những bản tình ca về Hà Nội gặp gỡ tinh thần jazz thế giới, góp thêm một sắc màu cho đời sống văn hóa của Thủ đô.
  • “Nét duyên Chèo Hà thành”: Từng bước hình thành những sản phẩm văn hóa đặc trưng của Thủ đô
    Tối 24/7, tại Rạp Đại Nam, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội ra mắt Chương trình nghệ thuật “Nét duyên Chèo Hà thành” do Nhà hát Chèo Hà Nội thực hiện.
  • Công bố Lễ hội Di sản và Âm nhạc Quốc tế Huế - Huế Wonderverse Music Fest 2026
    Lễ hội Di sản và Âm nhạc Quốc tế Huế - Huế Wonderverse Music Fest nhằm hiện thực hóa chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa của Chính phủ và định hướng xây dựng Huế trở thành Thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam.
Làm giấy sắc phong: Nghề truyền thống cần được khôi phục và gìn giữ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO