Văn hóa – Di sản

Dương Khuê – nhà nho tài tử

Nguyễn Phương Thảo • 19/11/2023 15:24

Dương Khuê là nhà thơ cuối thời trung đại, sinh năm Kỷ Hợi (1839), tự Giới Nhu, hiệu Vân Trì. Ông là người làng Vân Đình, huyện Sơn Minh, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Ứng Hòa, ngoại thành Hà Nội). Xuất thân trong gia đình có truyền thống Nho học, Dương Khuê đỗ Tiến sĩ năm 1868, từng giữ chức Tri phủ Bình Giang (Hải Dương) rồi được thăng Bố chánh.

Đương thời ông cùng nhiều sĩ phu yêu nước chủ ý chống lại việc người Pháp sử dụng sông Hồng buôn bán với Trung Quốc nên bị vua Tự Đức qui là người “Bất thức thời vụ” (Không biết thời cuộc) và bị giáng làm Chánh sứ sơn phòng, đi khai khẩn đất hoang. Sau ông được phục chức, thăng làm Án sát Hải Phòng rồi làm Đốc học Nam Định và thăng Bố chánh. Có thời gian Dương Khuê chuyển về làm Tham tán ở Nha Kinh lược Bắc Kỳ, trải Tổng đốc Nam Định - Ninh Bình rồi thăng hàm Thượng thư. Từ năm Đinh Mùi (1897), khi người Pháp thi hành chính sách trực trị “Chính phủ bảo hộ” thì Dương Khuê cáo quan về nghỉ và mất tại quê nhà ngày 6 tháng 3 năm Nhâm Dần (13 - 4 -1902), hưởng thọ 63 tuổi...

khoc-duong-khue.jpg
Tranh minh họa tác phẩm Khóc Dương Khuê.

Dòng họ của Dương Khuê vốn gốc Hà Tĩnh, từ thế kỉ XVIII thì ra định cư ở Vân Đình. Ông có người em ruột là nhà thơ Dương Lâm. Hai nhà thơ Dương Khuê, Dương Lâm đã làm rạng danh cho dòng họ mình, từng giữ những chức vụ chủ chốt trong triều đình nhà Nguyễn. Người em Dương Lâm (1851-1920), từng làm chức Phó Tổng tài Quốc sử quán, rồi được thăng hàm Thái tử Thiếu Bảo (năm 1902). Các thế hệ con cháu cũng tiếp bước hai ông trở thành những danh sĩ nổi tiếng như nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Giáo sư Tiến sĩ Giáo dục học Dương Thiệu Tống, nhà thơ Dương Tuyết Lan (hiện là Phó chủ nhiệm Câu lạc bộ Thơ cổ truyền Hà Nội), nhà khoa học Dương Nguyệt Ánh (hiện đang làm việc tại Bộ Quốc phòng Hoa kỳ)...

Nhà thơ Dương Khuê sống chủ yếu vào cuối thế kỉ XIX nên cũng có những sáng tác về cảnh quan vùng đất Thăng Long - Hà Nội. Một bài thơ của ông mang tên Hà Nội tức cảnh có tả cảnh hồ Tây (lâu nay nhiều người vẫn tưởng nhầm là bài ca dao cổ). Bài thơ như sau:

Phất phơ ngọn trúc trăng tà,

Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.

Mịt mùng khói tỏa ngàn sương,

Nhịp chày An Thái, mặt gương Tây hồ.

Đoạn trên là một bài thơ được xác định là của Dương Khuê chứ không phải là sáng tác dân gian truyền miệng. Tiến sĩ Dương Thiệu Tống đã dựa theo Dương gia phả ký của dòng họ Dương và tham khảo thêm Luận đề về Dương Khuê của Nguyễn Duy Diễn (Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1960) và chép lại nguyên văn bài thơ Hà Nội tức cảnh trong thiện khảo luận Tâm trạng Dương Khuê và Dương Lâm (1995) kèm nhận xét về câu mở đầu: “Có người đã sửa đổi câu thơ này là Gió đưa cành trúc la đà, nhưng có lẽ là sai vì làm mất đi ý nghĩa ẩn dụ của toàn câu mà chỉ có ý nghĩa tả cảnh mà thôi”. Như vậy, thi phẩm được xác định là sáng tác của nhà thơ Dương Khuê chứ không phải là bài ca dao dân gian nữa... Bài thơ có đề cập đến những địa danh chốn Thăng Long - Hà Nội xưa. Huyện Thọ Xương thuộc khu vực nhà Thờ lớn, thuộc hai quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng hiện nay. Quang cảnh hồ Tây mờ ảo trong sương sớm, vang vọng tiếng chuông chùa và xung quanh những cành liễu rủ đìu hiu trong bài thơ mang đến cảm giác thanh thản, thơ mộng: “Những buổi sớm tinh sương mùa đông, khách dạn sương đi trên đường Thanh Niên không thấy trời, không nhìn rõ mặt nước, trên đầu cành lá rũ nặng giọt, bên trái lung linh ánh trăng úa hạ huyền; lúc ấy lòng lâng lâng, không ngâm mà cũng như ngâm câu thơ cổ: Phất phơ ngọn trúc trăng tà... Gà xóm bên hồ đã gáy, chuông hồi đã đổ dồn, đồng bào Bưởi đã dậy giã dó từ lâu. Mặt trời mới hé trên đê Yên Phụ mở ra một tấm gương phẳng lặng rắc phấn hồng.” (Hoàng Đạo Thúy, 1969).

Về sáng tác, Dương Khuê có tập Vân Trì thi thảo và một số thơ văn, câu đối... Nội dung trong các sáng tác của ông có xu hướng “thoát ly, hưởng lạc”. Điều này có lẽ do ông thất vọng về thời cuộc, đặc biệt là thất vọng về triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Bên cạnh đó, ông còn có hàng loạt sáng tác ca trù đạt đến trình độ cổ điển, mẫu mực và điêu luyện như bài Hồng Hồng Tuyết Tuyết, Cô đào Cần, Ái Cúc... Đây được coi là những đóng góp đáng kể cho việc xây dựng, định hình thể hát nói - một thể thơ gắn với lối hát ca trù; tên gọi của thể thơ cũng gắn với lối hát này, ở chỗ nghệ nhân ca trù khi diễn phải vừa hát vừa nói lối. Dương Khuê gửi gắm tâm sự mình về thời cuộc trong những nhân vật cô đầu ở các bài ca trù. Xét trên phương diện nghệ thuật, bài hát nói Hồng Hồng Tuyết Tuyết có một cấu trúc chặt chẽ với khổ mưỡu thứ nhất:

Ngày xưa Tuyết muốn lấy ông,

Ông chê Tuyết bé, Tuyết không biết gì.

Bây giờ Tuyết đã đến thì,

Ông muốn lấy Tuyết, Tuyết chê ông già.

Từ hình ảnh cụ thể, thi nhân mở rộng đến cái tình của không gian đất trời với nước biếc non xanh và số đo của thời gian năm tháng đời người trong đoạn mưỡu thứ hai:

Nước, nước biếc, non, non xanh,

Sớm, tình tình sớm, trưa, tình tình trưa.

Nhớ ai tháng đợi năm chờ,

Nhớ người độ ấy, bây giờ là đây.

Cuối cùng là lời nói lối vang hưởng khẩu khí của bậc tài tử gặp giai nhân, niềm cảm khái buồn thương trước dòng thời gian đang biến đổi. Trên tất cả là khát vọng nhân văn và tình người đồng điệu:

Hồng Hồng, Tuyết Tuyết,

Mới ngày nào chửa biết cái chi.

Mười lăm năm thấm thoắt có xa gì,

Ngoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu.

Ngã lãng du thời, quân thượng thiếu,

Kim quân hứa giá, ngã thành ông.

Cười cười, nói nói, sượng sùng,

Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại.

Riêng một thủ thanh sơn đi lại,

Khéo ngây ngây, dại dại với tình.

Đàn ai? một tiếng dương tranh...

Sau khi Dương Khuê qua đời, thi hào Nguyễn Khuyến có bài thơ Khóc Dương Khuê. Qua bài thơ này chúng ta có dịp hiểu thêm tính cách và con người nhà thơ Dương Khuê thông qua lời kể của bạn thơ Nguyễn Khuyến. Hai ông vốn là đôi bạn tri âm tri kỉ. Họ cùng thi đỗ làm quan, cùng chung “điểm nhìn” về thời cuộc nên gắn bó sâu sắc với nhau. Nguyễn Khuyến bàng hoàng khi nghe tin bạn ra đi: Bác Dương thôi đã thôi rồi/ Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta... Nhà thơ Nguyễn Khuyến bày tỏ lòng thương tiếc về người bạn tâm giao, tri kỉ của mình bằng điệp từ “thôi”, ông tránh nói đến cái chết để tiếp nhận sự thực một cách bình thản, nhẹ nhàng hơn. Vị Tam nguyên này nhớ về những kỉ niệm với bạn. Năm 1864, ông thi Hương đậu Giải nguyên cùng khoa với bạn thân Dương Khuê. Nguyễn Khuyến cho đó là “duyên trời” với Dương Khuê và lại càng tâm đắc khi bồi hồi nhớ lại những tháng ngày cùng bạn làm thơ:

Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,

Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau.

Kính yêu từ trước đến sau,

Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời.

Với Dương Khuê, Nguyễn Khuyến tỏ lòng trân trọng bằng hai thứ tình cảm “kính trọng” và “yêu mến”. Nhà thơ nhớ lại thật nhiều kỉ niệm: cùng đi chơi nơi dặm khách, nơi suối đèo; cùng nhau uống rượu ngâm thơ và ca hát; lại cùng nhau chia ngọt sẻ bùi những tháng ngày sống khó khăn của buổi “dương cửu” (lúc vận hạn, phải chịu cảnh nô lệ, nước mất nhà tan). Nguyễn Khuyến buồn vì sự ra đi của bạn thơ Dương Khuê, nhưng ông cũng tự an ủi lòng mình rằng đó là số phận, là vận mệnh. Tuổi già thì ai rồi cũng phải ra đi như vậy thôi!. Ông tâm sự:

Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn,

Phận đẩu thăng chẳng dám tham trời.

Bác già tôi cũng già rồi,

Biết thôi thôi thế thì thôi mới là!...

Trong lịch sử văn học nước nhà hiếm có bài thơ nào viết về tình bạn lại sâu sắc đến như vậy. Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã trải lòng mình kể về những kỉ niệm đẹp đẽ với bạn Dương Khuê. Ông coi Dương Khuê là người bạn lớn và luôn tỏ tấm lòng kính yêu với bạn. Con người và cốt cách Dương Khuê trong bài thơ hiện lên thực sống động và cao đẹp.

Nhà thơ Dương Khuê của thế kỉ XIX là một nhà văn hóa, nhà thơ, nhà trí sĩ ưu thời mẫn thế... Khi sống, ông thể hiện là con người cương nghị, chính trực và tài hoa. Khi mất, người đời, bạn bè tiếc thương ông như một bậc tài tử, một nhân cách cao sang. Dương Khuê đã mang đến và để lại cho đời thực nhiều cống hiến nghệ thuật, đặc biệt là những sáng tác ca trù để đời như Hồng Hồng Tuyết Tuyết, Cô đào Cần, Ái Cúc, Gửi đào Ngọ... Đây chính là những sáng tác văn nghệ độc đáo của đất nước nói chung và tinh hoa của nghệ thuật ca trù - di sản văn hóa phi vật thể của đất Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến nói riêng./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Trần Khánh Dư – danh tướng thủy binh
    Trần Khánh Dư người huyện Chí Linh (Hải Dương), chưa rõ năm sinh, mất năm 1339, dòng dõi tôn thất nên được phong tước Nhân Huệ vương. Khi quân Nguyên mới sang xâm lược nước ta, ông thường nhằm chỗ sơ hở đánh úp, Trần Thánh Tông khen là có chí lược, lập làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi vua). Khi đánh dẹp ở miền núi thắng lớn, được phong chức Phiêu kỵ đại tướng quân. Rồi từ tước hầu, do được vua yêu, thăng mãi lên Thượng vị hầu áo tía, giữ chức phán thủ. Sau vì tư thông với công chúa Thiên Thụy, con dâu của Trần Quốc Tuấn nên bị cách hết quan tước, tịch thu sản nghiệp, phải lui về ở Chí Linh làm nghề bán than.
(0) Bình luận
  • Hai di sản tư liệu Việt Nam góp thêm dấu ấn trong kho tàng Ký ức thế giới
    “Văn bia Phố Hiến” (Hưng Yên) và “Ma nhai trên núi Non Nước” (Ninh Bình) vừa được UNESCO ghi danh vào Danh mục Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nâng tổng số di sản tư liệu của Việt Nam được UNESCO ghi danh lên 13.
  • Đình Tường Phiêu- từ di sản độc đáo đến câu chuyện phát huy giá trị
    Tại Di tích quốc gia đặc biệt đình Tường Phiêu (xã Phúc Thọ, TP Hà Nội), bài toán phát triển kinh tế di sản gắn với bảo tồn, lan tỏa giá trị văn hóa, lịch sử đang có những chuyển biến tích cực. Chính quyền địa phương đang gắn kết các giá trị độc nhất vô nhị tại đình Tường Phiêu với làng nghề hoa cây cảnh truyền thống, giáo dục di sản ở địa phương để chung sức phát triển du lịch văn hóa Hà Nội.
  • Hà Nội sẵn sàng cho Festival làng nghề toàn cầu lần thứ nhất
    UBND Thành phố Hà Nội vừa có chỉ đạo tổ chức Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất, năm 2026, diễn ra từ giữa tháng 11/2026 tại Hoàng thành Thăng Long. Sự kiện quy tụ khoảng 200 đại biểu, nghệ nhân quốc tế với nhiều hoạt động trọng tâm như Lễ Khai mạc, Hội nghị xúc tiến đầu tư, Hội thi sản phẩm thủ công Châu Á – Thái Bình Dương và các tour trải nghiệm làng nghề.
  • Hà Nội xếp hạng 43 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp thành phố
    Nhằm bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử lâu đời của Thủ đô, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ký ban hành Quyết định chính thức xếp hạng di tích cấp thành phố đối với 43 di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc nghệ thuật và danh lam thắng cảnh trên địa bàn.
  • Lễ hội Đả Ngư 2026 - nét đẹp văn hóa đặc trưng của người Hà Nội
    Sáng 24/10, Ban tổ chức lễ hội đền Và (phường Sơn Tây, TP Hà Nội) long trọng tổ chức Lễ hội Đả Ngư rằm tháng 9 năm Bính Ngọ 2026 (tức ngày 15 tháng 9 âm lịch). Trước đó, chiều ngày 23/10, nhà đền đã làm lễ Phong triều.
  • Lễ hội Đả Ngư đền Và năm 2026: Hướng về nguồn cội, quảng bá các giá trị lịch sử, văn hóa Hà Nội
    Cụ thể hóa Chương trình hành động số 08-Ctr/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống, UBND phường Sơn Tây (TP Hà Nội) cho biết, đang tích cực triển khai các công tác chuẩn bị, sẵn sàng tổ chức Lễ hội Đả Ngư đền Và - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Vở chèo "Đạo học" tôn vinh hình tượng người thầy mẫu mực
    Thực hiện công tác chuyên môn hàng năm của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Thành phố Hà Nội (VHNT) và nhằm nghiên cứu, tìm hiểu, tham khảo và trao đổi về các tác phẩm văn học nghệ thuật giữa các Hội chuyên ngành, tối 7/11 Hội Liên hiệp VHNT Thành phố Hà Nội tổ chức Tọa đàm và giới thiệu vở chèo "Đạo học" của Nhà hát Chèo Hà Nội. Vở diễn đã giành giải Vàng Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng năm 2026.
  • Thơ ca Nga ở Việt Nam: Nhìn từ dịch thuật đến tiếp nhận
    Ngày 6/11/2026, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học “Hành trình tiếp nhận thơ ca Nga ở Việt Nam”. Không chỉ nhìn lại chặng đường tiếp nhận thơ ca Nga tại Việt Nam, hội thảo còn đặt ra những vấn đề về hoạt động dịch thuật, nghiên cứu và giảng dạy văn học Nga trong bối cảnh hiện nay.
  • Hà Nội tổ chức chuỗi hoạt động đặc sắc hưởng ứng Ngày Văn hóa Việt Nam
    Sáng 6/11, Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội tổ chức Hội nghị thông tin chuyên đề và triển khai nhiệm vụ tuyên truyền trên báo chí tháng 11/2026.
  • Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT vào ngày 30 và 31/12/2026
    Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2026–2027 diễn ra vào hai ngày 30 và 31/12/2026 với các phần thi viết, lập trình Tin học và nói Ngoại ngữ đề thi bám sát chương trình chuyên sâu và vận chuyển qua Ban Cơ yếu Chính phủ. Công tác quản lý dữ liệu thí sinh được thực hiện qua phần mềm chuyên dụng của Bộ GD&ĐT, hoàn thành đăng ký trước ngày 01/12/2026. Các phòng thi đặc thù (Tin học, Ngoại ngữ) được thiết lập kỹ thuật và bảo mật nghiêm ngặt nhằm bảo đảm quy trình coi thi an toàn, công bằng và khách quan.
  • Hành lang pháp lý để Hà Nội đẩy nhanh đầu tư xây dựng đường sắt đô thị
    Với mục tiêu xây dựng và phát triển Thủ đô “Văn hiến – Văn minh – Hiện đại – Hạnh phúc” trong kỷ nguyên mới, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII vừa thông qua “Nghị quyết quy định thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để đầu tư xây dựng một số tuyến đường sắt đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội”. Việc nghị quyết được thông qua có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo hành lang pháp lý vững chắc để Hà Nội triển khai các dự án đường sắt đô thị.
Đừng bỏ lỡ
Dương Khuê – nhà nho tài tử
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO