Văn hóa – Di sản

Đoàn Thị Điểm – Nữ Học sĩ tài danh

Nguyễn Thanh Tùng 09/11/2023 17:20

Đoàn Thị Điểm, tên tự là Hồng Hà, có sách ghi là Hồng Hà nữ tử, Hồng Hà nữ sĩ hoặc Hồng Hà phu nhân, biệt hiệu Ban Tang (?), sinh năm Ất Dậu (1705), quê làng Hiến Phạm (sau đổi thành Giai Phạm), huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay thuộc huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Tổ tiên Đoàn Thị Điểm vốn họ Lê, đến đời cha bà là Đoàn Doãn Nghi, đi thi Hội không đỗ mới quyết định đổi sang họ Đoàn. Đoàn Doãn Nghi thi đỗ Hương cống, làm quan đến chức Điển bạ. Mẹ bà là bà Võ thị (con ông Thái lĩnh bá họ Võ, ngụ ở phường Hà Khẩu, Thăng Long - nay là phố Hàng Bạc, Hà Nội), vợ kế ông Nghi. Anh trai bà là Đoàn Doãn Luân, đỗ Giải nguyên trường thi Kinh Bắc, nhưng không làm quan ở nhà dạy học.

doan-thi-diem.jpg
Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (Ảnh internet).

Ngay từ trẻ, Đoàn Thị Điểm đã được tiếng là xinh đẹp, thông minh, hay chữ. Năm 15 tuổi, tiếng tăm văn chương của bà đã vang xa. Năm bà 16 tuổi, Thượng thư Lê Anh Tuấn (? - ?) - thầy học của cha bà - mến mộ, ngỏ ý nhận bà làm con nuôi và định tiến vào làm cung nhân trong phủ chúa Trịnh, nhưng bà không chịu. Theo giai thoại, để tránh phiền phức của việc này, bà cùng gia đình người anh là Giám sinh Đoàn Doãn Luân chuyển nhà đến chỗ cha đang dạy học là làng Lạc Viên, huyện Yên Dương, phủ Kiến An (nay thuộc quận Kiến An, thành phố Hải Phòng). Năm 1729, cha mất, Đoàn Thị Điểm cùng với gia đình người anh là Đoàn Doãn Luân đưa linh cữu cha về quê an táng và ở lại quê nhà. Trước đây, Đoàn Doãn Nghi đã hứa hôn con trai mình với cô con gái út của ông tiến sĩ họ Lê - cô này sau khi làm lễ vấn danh thì bị bệnh đậu mùa, mặt rỗ rất xấu xí, nhưng ông Luân vâng lời dạy của cha vẫn cưới cô gái ấy và sống với nhau khá hạnh phúc. Do chị dâu dung mạo khó coi nên mọi việc giao thiệp, thù tiếp của gia đình, Đoàn Thị Điểm đều phải đứng ra cáng đáng.

Bà tỏ ra khôn khéo, bặt thiệp, lanh lợi nên được đương thời ca tụng. Không lâu sau, gia đình bà lại chuyển đến ngụ ở làng Vô Ngại, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Yên Mỹ, Hưng Yên). Rồi Đoàn Doãn Luân mất, gia đình bà lại chuyển lên xã Sài Trang, cùng huyện Đường Hào. Một mình bà lúc làm thuốc, khi dạy học để kiếm tiền nuôi mẹ già và giúp đỡ chị dâu nuôi dưỡng hai cháu nhỏ. Nhiều người mến mộ đến hỏi bà làm vợ, trong đó có những người có tiếng khoa danh, quyền quý (như giai thoại nói đến Hoàng giáp Vũ Diệm, Tiến sĩ Nhữ Đình Toản, Tiến sĩ Nguyễn Công Thái,...), nhưng vì việc gia đình, bà đều từ chối. Theo gia phả, để tránh bị việc cầu hôn quấy nhiễu, bà đã nhận lời một bà phi quê ở huyện Mỹ Hào, vào cung dạy học, giữ chức Cung trung giáo tập. Năm 1739, bà lại đưa cả gia đình về xã Chương Dương, huyện Thường Tín, Hà Nội và mở trường dạy học. Năm 37 tuổi (1742), sau một lời cầu hôn bất ngờ và chân thành, Đoàn Thị Điểm nhận lời làm vợ kế ông Binh Bộ Thị lang Nguyễn Kiều (1695 - 1752), người làng Phú Xá, huyện Từ Liêm, phủ Phụng Thiên, Thăng Long (nay thuộc phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội), đỗ Tiến sĩ năm 21 tuổi, nổi tiếng hay chữ đương thời, lúc đó vừa 47 tuổi nhưng đã góa hai đời vợ. Bà theo chồng về sống ở kinh đô Thăng Long. Chưa đầy một tháng đoàn viên, Nguyễn Kiều phải phụng mệnh đi sứ Trung Quốc. Sứ bộ lên đường năm 1743 nhưng đến 1745 mới hoàn thành công việc trở về, thời gian đi sứ ngót nghét 3 năm đằng đẵng. Trong thời gian này, bà ở nhà vừa lo cho gia đình nhà chồng vừa lo việc nhà mình. Cũng trong quãng thời gian này, Đoàn Thị Điểm được cho là đã diễn Nôm bản Chinh phụ ngâm khúc (Hán văn) của Đặng Trần Côn và viết tập truyện chữ Hán Truyền kì tân phả. Ngoài ra, tương truyền bà còn để thời gian nghiên cứu thiên văn, bói toán đến mức độ tinh thông, linh nghiệm. Năm 1748, Nguyễn Kiều đi sứ trở về lại được lệnh bổ làm Đốc đồng (hoặc Tham nghị) trấn Nghệ An, Đoàn Thị Điểm theo chồng vào đất này. Trên đường đi, bà bị nhiễm bệnh nặng, chạy chữa không khỏi. Đến Nghệ An, một phần nhớ người thân lại thêm lạ nước lạ cái, bệnh tật ngày càng trầm trọng. Ngày 9 tháng 11 năm Mậu Thìn (1748), Đoàn Thị Điểm qua đời ở tuổi 44. Bà được đưa về quê chồng an táng. Hiện mộ Đoàn Thị Điểm vẫn nằm ở xã Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội.

Nguyễn Kiều thương tiếc bà khôn xiết và có làm bài văn tế rất cảm động, trong đó có đoạn như sau: “Người dẫu trăm thân cũng khôn chuộc, hận đến nghìn đời cũng chẳng cùng. Kìa những người đàn bà ngu bướng, người ta thường sống lâu tuổi hạc da mồi, cớ sao người tài hoa tót bậc dường này mà phúc lộc lại rất mỏng manh? Tội nghiệp thay nương tử, ở yên không có chỗ, nối dõi không có con, ngoài ba mươi tuổi mới lấy chồng, hơn bốn mươi tuổi đã tạ thế, vùi âm dung ở một chỗ, ném tài nghệ vào khoảng không, trốn bà từ mẫu đã già, bỏ mấy cháu côi còn dại, há chẳng phải là mệnh trời bất thường mà tạo vật cũng bất công hay sao? Luống để cho người chồng góa bụa, thở ngắn than dài, ruột sầu đau thắt, mắt lệ tuôn rơi. Việc nhà bề bộn, ai người trông nom? Cư xử nhỡ lầm, ai người ngăn bảo? Thơ muốn viết ra, ai người bình phẩm? Sách muốn xem chung, ai người bầu bạn? Mùa thu có trăng, cùng ai thưởng nguyệt! Vẻ đẹp ngày xuân, ai người cùng ngắm? Than ôi! Đường chia hai ngả, duyệt đứt sáu năm, vui ít sầu nhiều, tài dài mệnh ngắn...” (Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch).

Mặc dù bị bao quanh bởi nhiều giai thoại nhưng trên thực tế, sự nghiệp văn chương của Đoàn Thị Điểm được xác lập chủ yếu nhờ 2 tác phẩm: Truyền kì tân phả và bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm khúc. Bản diễn Nôm hiện hành, cũng là bản diễn Nôm hay nhất trong số 7 bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm khúc hiện còn từ lâu vẫn được cho là do Đoàn Thị Điểm soạn. Từ năm 1926, lưu truyền một giả thuyết khác cho rằng bản diễn Nôm hiện hành này là của Phan Huy Ích với nhiều chứng lí không phải không có sức thuyết phục. Tuy nhiên, rốt cuộc bản quyền đích thực của bản này thuộc về ai vẫn là một vấn đề còn tranh luận trong học giới. Dẫu sao, trong số 7 bản diễn Nôm hiện còn, chắc chắn có một bản của Đoàn Thị Điểm và bà cũng là người đầu tiên đã diễn nguyên tác Hán văn ra quốc âm theo thể thơ song thất lục bát. Việc làm đó thể hiện tài năng thơ ca quốc âm của bà cũng như đặt nền móng cho sự ra đời của thể ngâm khúc trong lịch sử văn học Việt Nam. Bản diễn Nôm cũng là một cách để Đoàn Thị Điểm giãi bày hoàn cảnh và tâm sự của bản thân cũng như nói lên tiếng nói đồng cảm, xót thương cho số phận của người phụ nữ có chồng đi xa, đi đánh trận trong một cuộc đời còn nhiều bể dâu, bất trắc. Nhiều nhà nghiên cứu đã liên hệ hoàn cảnh của người chinh phu - chinh phụ trong Chinh phụ ngâm khúc với bối cảnh xã hội thời Lê - Trịnh khoảng giữa thế kỉ XVIII và chỉ ra tính chất hiện thực và nhân đạo của tác phẩm. Theo đó, người chinh phu ra đi từ kinh thành “Tràng An” mang tính ước lệ còn người chinh phụ ở lại trong niềm nhớ nhung, sầu muộn và khát vọng bình an. Rất có thể khi viết tác phẩm, Đặng Trần Côn đã dựa trên nguyên mẫu là những cặp vợ chồng đất Thăng Long chia li vì chiến trận và Đoàn Thị Điểm thì thể nghiệm vào hoàn cảnh của mình, một người theo chồng đến sống ở đất Thăng Long, nhưng cũng nhanh chóng phải tiễn chồng lên đường vì công vụ quốc gia. Vì thế, nhiều người có thiện cảm trong việc dành “bản quyền” bản diễn Nôm hiện hành cho Đoàn Thị Điểm như một sự cảm thông, khâm phục đối với số phận và tài năng của bà. Bên cạnh tài thơ quốc âm, Đoàn Thị Điểm cũng chứng tỏ được tài văn chương chữ Hán điêu luyện của mình với tập Truyền kì tân phả (còn gọi là Tục truyền kì). Bản in Truyền kì tân phả hiện nay có 6 truyện (Đền thiêng ở Hải Khẩu, Liệt nữ ở An Ấp, Nữ thần ở Vân Cát, Cuộc gặp gỡ lạ kì ở Bích Câu, Cuộc nói chuyện giữa cây tùng và cây bách, Rồng hổ tranh lạ), trong đó chắc chắn có 2 truyện là của bà, gồm Đền thiêng ở Hải Khẩu, Liệt nữ ở An Ấp. Cả hai truyện đều viết về những tấm gương phụ nữ trinh liệt, khí phách, bản lĩnh với những hành động, huyền tích phi thường gợi lòng cảm phục của người đọc. Truyện Cuộc gặp gỡ kì lạ ở Bích Câu hiện có nhiều giả thiết, trong đó nhiều người vẫn coi là tác phẩm của bà. Tuy nhiên, càng ngày người ta càng nghiêng về giả thiết cho rằng đây là tác phẩm của Đặng Trần Côn mà vì một nhân duyên nào đó đã được in vào tập Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm. Truyện Nữ thần ở Vân Cát hiện cũng bị nghi ngờ về xuất xứ. Các truyện Cuộc nói chuyện giữa cây tùng và cây bách, Rồng hổ tranh lạ rất có thể không phải của Đoàn Thị Điểm. Phan Huy Chú cho biết sách Tục truyền kì có các truyện: Bích Câu kì ngộ, Hải Khẩu linh từ, Vân Cát thần nữ, Hoành Sơn tiên cục, An Ấp liệt nữ, Nghĩa khuyển khuất miêu. Sách mà Phan Huy Chú mô tả hẳn không còn. Theo Đoàn thị thực lục thì Truyền kì tân phả gồm các truyện: Đền thiêng ở Hải Khẩu, Liệt nữ ở An Ấp, Nữ thần ở Vân Cát, Mai huyễn, Cuộc nói chuyện giữa chim yến và chim oanh. Truyện Mai huyễnCuộc nói chuyện giữa chim yến và chim oanh đã mất. Có ý kiến nghi ngờ rằng bản Truyền kì tân phả hiện còn đã đưa lẫn vào đó một số truyện. Bài văn tế của Nguyễn Kiều cũng viết: “Làm tỏ chuyện Chế thắng xưa (Đền thiêng ở Hải Khẩu)/ Nêu cao danh trinh liệt mới (Người liệt nữ ở An Ấp)/ Ngụ đấu tiên trong Vân Cát thần nữ/ Thuận tình nhà trong Đối thoại Yến anh”. Nhưng nếu tin vào độ chuẩn xác của bài văn tế thì có 3 truyện trong Truyền kì tân phả (A.48) chắc chắn của Đoàn Thị Điểm là Đền thiêng ở Hải Khẩu, Người liệt nữ ở An Ấp, Vân Cát thần nữ. Với những tác phẩm chắc chắn của mình, Đoàn Thị Điểm đã chứng tỏ huyền thoại về sự hay chữ của bà là có cơ sở. Nhà sử học Phan Huy Chú đánh giá Truyền kì tân phả: “Lời văn hoa mĩ dồi dào, nhưng khí cách hơi yếu, kém tập trước [tức Truyền kì mạn lục]”. Ngoài ra, theo Đoàn thị thực lục, lúc chưa đi lấy chồng, bà thường xướng họa cùng cha và anh “kể có hàng chục, hàng trăm bài”. Sau khi thành gia thất, bà lại cùng ông Tiến sĩ tài hoa ngâm vịnh, xếp đặt thành thi văn tập. Tiếc rằng những tác phẩm xướng họa, ngâm vịnh đó hiện không còn là bao. Gần đây người ta có tìm được một tập sách mang tên Hồng Hà phu nhân di văn, nhưng chắc chắn có nhiều sự lẫn lộn thật giả, chưa thể xác quyết.

Bên cạnh sự nghiệp văn chương, Đoàn Thị Điểm cũng có một sự nghiệp giáo dục đáng chú ý. Dạy học ở trong cung thì Đoàn Thị Điểm không phải là người đầu tiên. Trước đó ta đã nghe đến tên tuổi Nguyễn Thị Lộ, Ngô Chi Lan. Nhưng tự mở trường dạy tư kiếm sống và dạy tất cả các đối tượng học trò thì Đoàn Thị Điểm là người đầu tiên. Hơn thế nữa, sự nghiệp dạy học của bà cũng đạt được thành tựu đáng nể. Khi bà dạy học ở kinh thành và ở Chương Dương, có rất nhiều học trò kéo tới học, trong đó có người sau này đỗ Tiến sĩ là ông Đào Duy Ích.

Đoàn Thị Điểm được đánh giá là một trong những nữ sĩ nổi tiếng nhất Việt Nam thời trung đại (bên cạnh Ngô Chi Lan, Phạm Lam Anh, Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, Công chúa Mai Am,...). Chính vì nổi tiếng như vậy nên xung quanh cuộc đời bà có khá nhiều giai thoại (nhất là những giai thoại về tài ứng đối và dự đoán) và do đó, trong tiểu sử của bà không tránh khỏi những điều có thể được “hư cấu”, “huyền thoại hóa”, “dân gian hóa”. Tuy nhiên, chỉ với tác phẩm, dịch phẩm mà Đoàn Thị Điểm còn để lại như những chứng tích chân thực nhất, chúng ta cũng đủ thấy tài năng và nhân cách của bà, không sinh ra ở đất Thăng Long - Hà Nội nhưng mang đầy đủ vẻ tài hoa, lịch lãm của một người con đất kinh kì ngàn năm văn vật./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Từ Đạo Hạnh – thiền sư, thi nhân
    Từ Đạo Hạnh là pháp danh, còn tên thật là Từ Lộ. Ông là thiền sư và là nhà thơ nổi tiếng thời Lý. Chưa thấy tài liệu nào ghi về ngày sinh của Từ Lộ, chỉ biết ông sống vào thời Lý Nhân Tông (1072 - 1128), và qua đời năm 1117. Ông người hương Yên Lãng, tục gọi làng Láng, một làng rất cổ ở ven thành Thăng Long xưa.
(0) Bình luận
  • Quần thể di tích Thổ Hà và Nhà ngục Kon Tum được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt
    Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 266/QĐ-TTg ngày 11/02/2026 xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt (đợt 19) đối với 2 di tích.
  • Tìm về dấu tích Giảng Võ trường ở Thăng Long xưa
    Trong suốt hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã anh dũng chống lại nhiều kẻ xâm lược để bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc. Để có được thành công như ngày hôm nay, việc đào tạo nhân tài là yếu tố quan trọng, gồm cả về văn và võ. Tuy nhiên, việc đào tạo nhân tài về võ rất ít được ghi chép và rất hạn chế thông tin. Các di tích đào tạo về võ ở Thăng Long như điện Giảng Võ, Giảng Võ trường được ghi nhận từ các thời Lý nhưng đến nay vẫn chưa rõ ràng. Giảng Võ hiện nay là một phường nằm ở phía Tây của Hoàng thành Thăng Long, trước đây khu vực này còn có tên là Thập Tam trại.
  • Đền Bạch Mã: Từ huyền tích vó ngựa đến di sản Thăng Long
    Trong lịch sử Thăng Long - Hà Nội, đền Bạch Mã (trấn Đông) cùng với đền Voi Phục (trấn Tây), đền Kim Liên (trấn Nam) và đền Quán Thánh (trấn Bắc) được biết đến là “Thăng Long tứ trấn”, biểu tượng cho đời sống tâm linh chốn Kinh kỳ. Là ngôi đền trấn giữ phía Đông của kinh thành Thăng Long xưa, đền Bạch Mã được định vị ở phía Nam sông Tô Lịch trên bản đồ Hồng Đức thế kỷ XV, gần cửa sông Tô đổ ra sông Nhị (sông Hồng), thuộc phường Giang Khẩu. Đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ, là vị thần Thành hoàng của thành Thăng Long, nay tọa lạc ở địa chỉ số 76 phố Hàng Buồm, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội.
  • Ngựa trong tâm thức dân gian của người Việt
    Trong kho tàng di sản vật thể và phi vật thể của người Việt, ngựa là một trong những con vật mang nhiều giá trị thực dụng nhất là trong trận mạc nhưng cũng là một con vật thiêng gắn bó sâu sắc với tâm thức người Việt.
  • Khám phá Tết xưa tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
    Sáng 6/2/2026, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tổ chức chương trình trải nghiệm văn hóa “Khám phá Tết xưa” thu hút sự tham gia của đông đảo công chúng, đặc biệt là học sinh, sinh viên và các gia đình tại Hà Nội.
  • Hà Nội có 14 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận Bảo vật quốc gia
    Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký quyết định công nhận 30 bảo vật quốc gia đợt 14, gồm nhiều hiện vật cổ quý giá, Hà Nội có 14 hiện vật được công nhận đợt này.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Tết Việt - ký ức không phai của đôi vợ chồng người Úc
    Lần đầu đặt chân đến Việt Nam vào dịp Tết Nguyên đán năm 1994, đến năm 2025, ông bà Judy - Alan Butcher (người Australia) đã trải qua tròn 10 cái Tết cổ truyền tại Việt Nam. Có lẽ họ là một trong số những người nước ngoài “ăn Tết Việt” bền bỉ và sâu đậm đến vậy.
  • Thư chúc Tết Xuân Bính Ngọ 2026 của Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc
    Nhân dịp đón Xuân Bính Ngọ 2026, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã có Thư chúc Tết gửi đến đồng chí, đồng bào và chiến sĩ Thủ đô; người Hà Nội trên mọi miền Tổ quốc và ở nước ngoài. Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu toàn văn Thư chúc Tết của đồng chí Nguyễn Duy Ngọc - Bí thư Thành ủy Hà Nội.
  • Tìm về dấu tích Giảng Võ trường ở Thăng Long xưa
    Trong suốt hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã anh dũng chống lại nhiều kẻ xâm lược để bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc. Để có được thành công như ngày hôm nay, việc đào tạo nhân tài là yếu tố quan trọng, gồm cả về văn và võ. Tuy nhiên, việc đào tạo nhân tài về võ rất ít được ghi chép và rất hạn chế thông tin. Các di tích đào tạo về võ ở Thăng Long như điện Giảng Võ, Giảng Võ trường được ghi nhận từ các thời Lý nhưng đến nay vẫn chưa rõ ràng. Giảng Võ hiện nay là một phường nằm ở phía Tây của Hoàng thành Thăng Long, trước đây khu vực này còn có tên là Thập Tam trại.
  • [Podcast] Canh măng – Hương vị Tết cổ truyền trong mâm cỗ Hà thành
    Hà Nội đang bừng sắc xuân, trong đó bức tranh ẩm thực phong phú mà mâm cỗ ngày Tết góp phần phản ánh nếp sống và con người nơi đây. Là một trong những món canh tứ trụ trong cỗ Tết cổ truyền Hà Nội xưa, canh măng giữ một vị trí rất đặc biệt.
  • Bộ trưởng Bộ Y tế thăm, chúc Tết y bác sĩ trực Giao thừa, mừng công dân nhí chào đời
    Đêm Giao thừa Xuân Bính Ngọ 2026, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan đã đến thăm, chúc Tết và động viên đội ngũ y bác sĩ đang làm nhiệm vụ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương; đồng thời tặng quà, chúc mừng các sản phụ “mẹ tròn con vuông” và gửi lời chúc sức khỏe tới những công dân nhí vừa chào đời trong thời khắc thiêng liêng chuyển giao năm mới.
Đừng bỏ lỡ
  • Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Mạnh Hùng: Hoa gắn với nếp sống, tín ngưỡng và văn hóa Hà Nội
    Đến với nghệ thuật cắm hoa từ khi còn trẻ và gắn bó với thú chơi này suốt nhiều thập kỷ, NNƯT Nguyễn Mạnh Hùng không chỉ là người thực hành nghề hoa mà còn dày công tìm hiểu, chắt lọc những giá trị văn hóa ẩn sâu trong thú chơi hoa của người Hà Nội. Những chia sẻ của ông với phóng viên Tạp chí Người Hà Nội dưới đây phần nào phác họa bức tranh sinh động về nghệ thuật chơi hoa của người Hà Nội xưa và nay.
  • Đa sắc phim Việt mùa Tết 2026
    Điện ảnh Việt Nam đã đi qua một năm sôi động với nhiều dấu ấn khó quên, đặc biệt là sự tỏa sáng của “Mưa đỏ”. Đây có lẽ là động lực để các nhà làm phim hướng tới những mục tiêu cao hơn trong hành trình làm nghề. Mùa phim Tết luôn được xem là thời điểm mở đầu quan trọng cho một năm mới của điện ảnh nước nhà. Năm bộ phim Việt cùng ra rạp vào ngày đầu năm mang màu sắc, hương vị khác nhau, cho thấy sự đa dạng về đề tài và thể loại đồng thời mang đến cho khán giả nhiều cung bậc cảm xúc trong những ngày Tết sum vầy.
  • Nỗi nhớ mùa xuân
    Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu tới quý độc giả bài thơ Nỗi nhớ mùa xuân của tác giả Nguyễn Đại Bường.
  • “Bàn tiệc” chương trình nghệ thuật trên sóng truyền hình dịp Tết Bính Ngọ
    Trong dịp Tết Bính Ngọ 2026, Đài truyền hình Việt Nam (VTV) thực hiện và phát sóng nhiều chương trình nghệ thuật trên các kênh sóng. Tiêu biểu phải kể đến chương trình “Đón Tết cùng VTV - Bay giữa cánh đồng xuân”, “Gala Cười 2026” và “Tết rộn ràng khắp nơi 2026 - Theo bước mùa xuân”.
  • Xứ Đoài Sơn Tây rực rỡ pháo hoa, rộn ràng chương trình nghệ thuật mừng Xuân Bính Ngọ 2026
    Hòa trong không khí tưng bừng đón chào năm mới cùng cả nước, tối 16/2 (tức đêm 29 Tết), tại sân khấu chính Phố đi bộ Thành cổ Sơn Tây (phường Sơn Tây, TP. Hà Nội) diễn ra chương trình nghệ thuật “Mừng Xuân Bính Ngọ 2026”. Và đúng 00 giờ ngày 17/2/2026 – mùng 1 Tết Bính Ngọ, vùng đất xứ Đoài - Sơn Tây cũng rực rỡ màn pháo hoa chào đón xuân Bính Ngọ 2026.
  • Hà Nội miễn phí tham quan nhiều điểm di tích trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ
    Nhằm phục vụ nhu cầu tham quan, tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa của Nhân dân và du khách trong dịp Tết cổ truyền, Ban Quản lý Hồ Hoàn Kiếm và Phố cổ Hà Nội thông báo miễn phí tham quan và thời gian hoạt động tại các điểm di tích trong phố cổ.
  • Xã Mê Linh sẵn sàng khai hội đền Hai Bà Trưng xuân Bính Ngọ 2026
    UBND xã Mê Linh (TP. Hà Nội) cho biết, công tác chuẩn bị cho Lễ kỷ niệm 1986 năm Khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Lễ khai mạc Lễ hội đền Hai Bà Trưng xuân Bính Ngọ 2026 đã cơ bản hoàn tất, đảm bảo sự kiện ra sáng ngày 22/2 (mùng 6 tháng Giêng năm Bính Ngọ) tại Khu Di tích Quốc gia đặc biệt đền Hai Bà Trưng (xã Mê Linh) an toàn, trang nghiêm, đúng văn hóa truyền thống và văn minh lễ hội.
  • Triển lãm "Giao" trưng bày các tác phẩm điêu khắc chào mừng Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026
    Triển lãm “Giao” trưng bày các tác phẩm điêu khắc chào mừng Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 tại số 69 Đinh Tiên Hoàng, Hoàn Kiếm là một không gian văn hóa đặc sắc, góp phần làm giàu đời sống tinh thần của người dân Thủ đô và du khách...
  • Đạm Phương - chân dung một nữ trí thức tiên phong đầu thế kỷ XX
    NXB Phụ nữ Việt Nam vừa ra mắt bạn đọc cuốn sách “Đạm Phương - Nàng Công nữ buổi giao thời” tái hiện tương đối toàn diện cuộc đời, sự nghiệp, đóng góp xã hội và di sản tư tưởng của Đạm Phương nữ sử (1881-1947) - một trong những gương mặt trí thức tiên phong của Việt Nam đầu thế kỷ XX.
  • Sắc xuân rộn ràng trong không gian nghệ thuật mở tại Nhà Bát Giác
    Tối ngày 15/2, trong không khí xuân lan tỏa khắp Thủ đô, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” tiếp tục diễn ra tại Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ, mang đến cho người dân và du khách một đêm thưởng thức nghệ thuật giàu màu sắc, kết hợp hài hòa giữa âm nhạc, xiếc và múa.
Đoàn Thị Điểm – Nữ Học sĩ tài danh
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO