Văn hóa – Di sản

Lý Nhân Tông – vị vua giỏi của triều Lý

Lê Văn Lan 26/10/2023 10:49

Tháng Chạp năm Đinh Mùi (1127), hoàng đế Lý Nhân Tông viết di chiếu: “Trẫm xét phận tuổi thơ đã phải lên ngôi báu, ở trên các vương hầu, lúc nào cũng nghiêm kính sợ hãi, đã 56 năm nay…”.

Lời trối trăng cuối cùng của vị hoàng đế thứ tư nhà Lý đã mở đầu bằng việc ôn lại một nét đặc sắc trong cuộc đời Lý gia đệ tứ đế: “Tuổi thơ đã phải lên ngôi báu”. Đó là sự việc bắt đầu vào năm Nhâm Tý (1072). Sử cũ viết: “Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Canh Dần, Lý gia đệ tam đế Thánh Tông băng ở điện Hội Tiên. Hoàng thái tử Càn Đức lên ngôi trước linh cữu. Bấy giờ vua mới 7 tuổi...”.

den-do.jpg
Đền Đô, nơi thờ các vua nhà Lý ở Bắc Ninh.

Sự việc có được một vị hoàng thái tử kịp kế vị ngôi báu là phúc lớn của nhà Lý! Bởi vì nỗi lo canh cánh không người nối ngôi, đã là hiện thực thường trực từ nhiều năm trước năm 1066.

Do thế, dễ dàng hình dung ra nỗi mừng, niềm vui của mọi người vào cái ngày 25 tháng giêng năm Bính Ngọ (1066) ấy, khi một cô thôn nữ ở đất Sủi (tức Thổ Lỗi, sau đổi thành hương Siêu Loại) vừa được tuyển vào cung với danh hiệu Ỷ Lan phu nhân, đã sinh hạ cho vị đương kim hoàng đế đã luống tuổi một hoàng trưởng tử. Và không chỉ thế, đây còn là một trang nam tử mới sơ sinh mà đã rõ quý tướng khác thường, được sử cũ kính cẩn khắc họa: “Trán dô mặt rộng, tay quá gối, sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân!”. Lập tức, vừa được một ngày tuổi, Lý Càn Đức - vị hoàng tử sơ sinh ấy - đã được phong ngay làm thái tử. Để rồi, 6 năm sau thì lên ngôi, trở thành vua Lý Nhân Tông.

Khi nhớ lại những năm đầu của “tuổi thơ đã phải lên ngôi báu ấy”, chắc chắn Lý Nhân Tông Càn Đức đã không thể nào quên điều mà ông nói trong di chiếu là: “Nhờ anh linh của tổ tiên, được hoàng thiên phù hộ” nhưng hiển nhiên, ông hiểu đó trước hết là: cái di sản mà đấng tiên đế phụ hoàng Lý Thánh Tông đã dày công chăm lo, vun vén mà để lại cho. Trong đó có 2 năm - từ năm lên 5 đến năm lên 7 - mà ông đã phải chăm chỉ đến tòa Văn Miếu - vừa mới được tạo lập - để trau dồi đạo lý, tri thức. Và trong đó, còn có những nhân sự: mẹ đích Thượng Dương hoàng hậu, mẹ đẻ Ý Lan nguyên phi, Thái sư Lý Đạo Thành, Thái bảo Lý Thường Kiệt... mà vị thiếu đế rõ ràng là phải sống dưới bóng rợp của họ, được họ giúp tận tình, nhưng cũng phải chịu không ít khó khăn, phiền nhiễu - thậm chí: cả tai ương - do họ gây ra cho nhau, và cho nhà vua - ấu chúa.

Thử thách đầu tiên, đã đến ngay vào năm thứ hai, đời trị vì của vị hoàng đế nhỏ tuổi. Đó là việc mà biên niên sử cũ chép vào năm Quý Sửu, (1073): “Giam Hoàng thái hậu họ Dương, tôn Hoàng thái phi (Ỷ Lan) làm Linh Nhân hoàng thái hậu”...

Rõ ràng vị hoàng đế 8 tuổi, vừa lên ngôi, không thể và không phải là người quyết định sự việc này. Tuy nhiên, ông vẫn phải là người chịu trách nhiệm, trước tiên là dưới ngòi bút của sử thần. Ngô Sĩ Liên đã ghi vào bộ Đại Việt sử ký toàn thư nguyên văn lời bình luận lịch sử của mình: “Lý Nhân Tông là người nhân hiếu, Linh Nhân (Ỷ Lan) là người sùng Phật, sao lại đến nỗi giết đích thái hậu, hãm hại người vô tội...”.

Sau lời nhận xét có vẻ khách quan mà nghiêm khắc của sử thần Ngô Sĩ Liên, còn thấy có thêm một ý nữa: “Thái sư Lý Đạo Thành phải ra trấn bên ngoài, biết đâu chẳng vì can gián việc ấy ?”. Đây chính là một đầu mối để có thể nhận rõ thêm cái vòng tai ương mà vị thiếu đế Lý Nhân Tông năm 1073 đã phải mắc vào: Không chỉ có chuyện ghen tuông giành giật giữa các “đệ nhất phu nhân”, mà còn là thành chuyện lục đục phe phái giữa các đại thần đầu triều, khi họ bị cuốn vào chuyện “thâm cung bí sử”, với hậu quả là sự thất thế của thái sư Lý Đạo Thành; chỉ còn là chức quan chuyên việc can gián: “Tả gián nghị đại phu”.

May mà nhờ phúc ấm tổ tiên - đúng hơn là nhờ lương tri dân tộc (cũng giống như trong di chiếu về sau của Lý Nhân Tông) - sự việc rối loạn cung đình nghiêm trọng như thế, chỉ diễn ra trong vòng một năm thì đã được khắc phục: Lý Đạo Thành lại được gọi về Thăng Long làm “Bình chương quân quốc trọng sự”.

Nguyên nhân của sự thể được coi là nhờ lương tri dân tộc mà có này, chính là: đám mây đen của đại họa xâm lược từ triều đình nhà Tống ở phương Bắc, sắp kéo tới! Nhu cầu xiết chặt hàng ngũ và lực lượng bên trong để chống lại giặc ngoài, theo đúng truyền thống từ nghìn xưa, vậy là - đến năm 1075 - đã giúp cho vị hoàng đế 10 tuổi Lý Nhân Tông, ở năm trị vì thứ tư của mình, may mắn vượt qua được thêm một thử thách nữa, còn lớn hơn rất nhiều sự biến năm 1073. Vì thế, mùa đông năm Ất Mão (1075) ấy, thiếu đế Lý Nhân Tông, có mẹ đẻ Ỷ Lan - giờ đã vững ngôi Linh Nhân thái hậu kèm bên, có Thái phó bình chương Lý Đạo Thành giờ đã hồi kinh để ở phía sau đỡ dần việc triều chính, thong dong đẩy chiếc xe trận chở Thái úy Nguyên súy Lý Thường Kiệt lăn bánh một quãng đường theo nghi thức, ra khỏi cổng hoàng thành Thăng Long, dẫn đầu đoàn hùng binh Đại Việt xuất chinh Bắc phạt! Tin đại thắng sau đấy báo về. Và sử quan trịnh trọng ghi vào chính sử một vòng son đỏ cho vũ công đệ nhất và duy nhất của dân tộc, ở ngay những năm đầu trị vì của hoàng đế Lý Nhân Tông: theo chiến lược “tiên phát chế nhân” (ra quân trước để khống chế kẻ thù) của Lý Thường Kiệt, quân dân Đại Việt đã đánh thẳng sang đất Tống, cả phá các căn cứ và lực lượng chuẩn bị xâm lược của Tống triều, rời an toàn và kịp thời, ca khúc khải hoàn mà hồi triều!

Hai năm sau đó nữa, cuối mùa xuân năm Đinh Tỵ (1077), vẫn nhờ công sức của những người đã một lần ra tay giúp rập trước đấy, những trận đánh thần kỳ trên “phòng tuyến sông Cầu”, cuối cùng lại đã mang thêm về danh thơm chiến thắng cho vị hoàng đế, giờ thì đã đến tuổi mười hai, vững vàng ở tư thế lịch sử, theo lời thơ thần vừa vang vọng truyền bá trên sóng nước sông Cầu “Nam quốc sơn hà, Nam đế cư..”!

Từ đây, với thế sự bên ngoài: nhà Tống ngày càng suy yếu ở phương Bắc, Chiêm Thành cũng lùi dần về phía nam - là những sự thể dù sao cũng thực sự góp phần làm nên một điều may mắn nữa mà Lý Nhân Tông sau này sẽ tổng kết trong di chiếu của mình là: “Bốn biển yên lành, biên thùy ít biến” - trải mấy chục năm tiếp theo trong sự nghiệp của một đấng quân vương phải dần dà tự lực mà ngồi chắc trên ngai vàng, trị vì sông núi và thần dân nước Nam của mình, vì đã đến tuổi trưởng thành rồi lão thành, vị Lý gia đệ tứ đế phải và đã qua và bằng ý chí, tri thức, hành động của mình, chứng tỏ trước lịch sử, nhân cách và công tích của một người đáng và đúng là được sử sách ngợi ca: “Là vua giỏi của triều Lý, nước lớn sợ, nước nhỏ mến, thần giúp người theo!”.

Vẫn như các bậc tiên đế, tiên hoàng, và đúng là người được “hưởng thái bình” như lời sử cũ nhận định, Lý Nhân Tông trước hết vẫn là người nghiêm giữ truyền thống thượng võ của dòng họ các vua nhà Lý từ trước đến nay. Một tình tiết trong sự cố “Vụ án hồ Dâm Đàm” năm Bính Tý (1096), khi - theo lời sử cũ - gặp tai biến lúc đang: “Ngự trên thuyền nhỏ nghe có tiếng thuyền bơi đến, tiếng mái chèo rào rào, vua liền lấy giáo, phóng ra”, đã chứng tỏ việc sử dụng vũ khí luôn vẫn là một thiện nghệ của bậc quân chủ. Tình tiết này cũng phù hợp với sự việc được ghi vào biên niên sử năm Bính Ngọ (1126) Lý Nhân Tông đã sử dụng cả tòa chính điện Thiên An, làm nơi tổ chức đá cầu cho các vương hầu, đồng thời đến xem để cổ súy tinh thần thượng võ. Vì thế, tuy chỉ động binh duy nhất một lần và cũng không phải là một cuộc viễn chinh trọng đại, nhưng việc Lý Nhân Tông thân cầm quân đi đánh động Ma Sa (ở tỉnh Hòa Bình bây giờ) “Phá tan được, bắt được bọn động trưởng Ngụy Bàng vài trăm người, lấy được vàng lụa trâu dê không kể xiết, dù sao cũng là một võ công được sử cũ ca ngợi và ghi chép kỹ lưỡng vào biên niên sử về năm Kỷ Hợi (1119), khi Lý Nhân Tông đã 54 tuổi. Võ công này còn là nguyên nhân, để Lý Nhân Tông quảng bá tinh thần thượng võ của mình, bằng quyết định đổi và dùng niên hiệu mới: “Thiên Phù Duệ Vữ”!

Ngoài nhân thân và nhân cách “Hoàng đế - võ tướng” như thế, Lý Nhân Tông là một ông vua nổi trội và khác biệt với các bậc tiên vương tiên đế của mình, ở chỗ có nhiều sáng kiến xây dựng những công trình kinh tế xã hội mang tính khai phá, đặc biệt là đối với nông nghiệp và nông thôn nước Đại Việt đương thời. Nếu việc “cầy tịch điền” và “đi xem gặt” đã là việc được nhiều đời vua trước thực hiện, thì Lý Nhân Tông là người đã nâng cấp nghi thức cổ vũ nông nghiệp này thành lệ thường, thậm chí một năm hai vụ chiêm mùa gặt hái đều có mặt vua ở những vùng ruộng đồng trọng điểm, và thậm chí có mặt cho đến lúc sắp lìa đời: “Trẫm từ khi đi xem gặt lúa đến giờ, bỗng bị ốm, bệnh kéo dài, sợ không kịp nói đến việc nối ngôi.” (lời Di chiếu).

Trong một lần đi về vùng Ứng Phong (nay thuộc tỉnh Nam Định) xem gặt lúa như thế, vào năm 1123 còn thấy sử cũ nói: Chuyến đi này bắc cầu vồng qua sông Ba Lạt. Chưa biết được rõ việc “bắc cầu vồng” độc nhất vô nhị, cho đến ngày nay vẫn chưa thấy làm lại được lần thứ hai ở vùng cửa sông Hồng mênh mông sóng nước phù sa này là như thế nào, nhưng việc Lý Nhân Tông năm 1089 cho khai kênh Lãnh Kinh, vừa để tiện việc lưu thông, vừa để dùng cho thủy nông, thì đến nay vẫn còn thấy ở Thái Nguyên. Lại đến như việc nghiêm cấm chúng dân lạm sát trâu bò, để bảo vệ sức kéo cho nông nghiệp, nếu như lần thứ nhất ban lệnh này vào năm 1117, có thể coi như là do gợi ý của hoàng thái hậu Ỷ Lan, thì rõ ràng, việc xuống chiếu, viết rõ: “Trâu là vật quan trọng cho việc cầy cấy, làm lợi cho người không ít. Từ nay về sau, ba nhà làm một “bảo”, không được giết trâu ăn thịt, ai làm trái thì trị tội theo hình luật”, là của Lý Nhân Tông năm 1123 (vì đến lúc này, Ỷ Lan đã mất được 6 năm rồi). Một chiếu chỉ khác của Lý Nhân Tông, ban hành vào tháng giêng năm Bính Ngọ (1126) có thể xem như một quyết định độc đáo, mở đầu cho truyền thống “bảo vệ môi trường” và “trồng cây gây rừng” mùa xuân, trong lịch sử: “Cấm dân chúng mùa xuân không được chặt cây”, đặc biệt, việc đắp dựng con đê đầu tiên ở kinh thành Thăng Long năm Mậu Tý, (1108) - đồng thời là công trình trị thủy và thủy lợi đầu tiên trên sông Cái (sông Hồng) của nước Đại Việt, chính cũng là sản phẩm của Lý Nhân Tông: đề Cơ Xá!

Quan tâm đến môi trường, nông nghiệp và kinh tế, Lý Nhân Tông còn là người rất chăm lo việc tác động đến khí hậu và thời tiết, cho dù là chỉ bằng các biện pháp siêu hình và cổ sơ. Từ năm thứ hai ở ngôi - Quý Sửu, 1073 - gặp hiện tượng mưa dầm, Lý Nhân Tông đã có ngay hành vi độc đáo: Cho rước Phật “Pháp Vân” ở chùa Dâu (nay là Thuận Thành, Bắc Ninh) - vốn là thế lực đứng đầu Tứ Pháp (mây - mưa - sấm - chớp) ở chốn Tổ Đình Phật giáo Liên Lâu - về kinh thành Thăng Long để... làm lễ cầu tạnh. Từ đấy, gặp mưa dầm (từ tháng giêng đến tháng hai, năm 1227...) “sai các quan làm lễ cầu tạnh”, gặp nắng hạn (các năm 1127, 1118, 1124...) “làm lễ cầu mưa”, là việc thường xuyên của Lý Nhân Tông. Thậm chí, được năm may có nước ngọt xuống (mùa đông, 1118), nhà vua cũng tự tay viết 8 chữ “Thiên hạ thái bình, thánh cung vạn tuế”, sai thợ khắc vào bia.

Những hành vi như thế của Lý Nhân Tông, là những dấu hiệu đầu tiên, cho phép nhận ra nét cơ bản trong nhân cách của vị Lý gia đệ tứ đế: “Chính là một “Nhà văn - văn hóa”. Và, sự nghiệp chính yếu, do Lý Nhân Tông làm nên trong đời trị vì của mình, đồng thời để lại cho hậu thế, cũng chính là văn hóa.

Nét văn hóa đầu tiên - dễ dàng ghi nhận ở Lý Nhân Tông, chính là học vấn và sự học hành. Không chỉ cẩn thận việc chữ nghĩa - với tư cách là người học trò đầu tiên, và là người học trò nhỏ tuổi nhất của lịch sử Văn Miếu Quốc Tử Giám - trong thời gian còn là hoàng thái tử, mà cả khi đã ngồi trên ngai hoàng đế, Lý Nhân Tông cũng vẫn là người “học trò trong bộ long bào”, và là học sinh của một vị thầy lừng danh, được chính nhà vua chủ trì tổ chức sự kén lựa, bằng việc mở khoa thi đầu tiên trong lịch sử khoa cử của nền văn hóa dân tộc: Khoa thi tuyển “Minh Kinh bác học” và thi “Nho học tam trường” năm Ất Mão (1075), với người đỗ đầu là vị: Trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh, mà ngay sau khi “trúng tuyển đã được vào hầu vua học”. Hai năm sau - năm 1077 - lại một khoa thi nữa: thi “lại viên” khảo tuyển viên chức với ba chương trình sát hạch: phép viết chữ, phép tính, cùng với hình luật! Và như thế, đến năm 1086, thì Lý Nhân Tông đã có đủ cơ sở và điều kiện để tổ chức ra cơ quan trí tuệ cao cấp của mình: Hàn lâm viện, bằng phương thức: “thi người có văn học trong nước, sung làm quan ở Hàn lâm viện, Mạc Hiển Tích trúng tuyển, bổ làm Hàn lâm học sĩ”.

Cái cơ sở và điều kiện để Lý Nhân Tông thành người và tìm được người có học vấn, chính là chủ trương: “Cất nhắc những người hiền lương, có tài văn võ, cho quản việc quân, dân”, và biện pháp: “Chọn quan viên văn chức, người nào giỏi chữ nghĩa, cho vào Quốc tử giám”. Và như thế là: sau Văn Miếu (do vua cha Thánh Tông xây dựng) thì năm Bính Thìn (1076), ngay trong thời gian tiến hành cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược, công trình để đời của Lý Nhân Tông ra đời: Quốc Tử Giám, hoàn chỉnh tổ hợp công trình tiêu biểu của văn hóa Thăng Long, văn minh Đại Việt: Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

Quốc Tử Giám đời Lý Nhân Tông, dạy Nho học. Đây là sự tiếp tục tư tưởng “tràn bờ Phật giáo, tới miền Nho lâm” từ thời Lý Thánh Tông. Nhưng, đến và với Lý Nhân Tông thì, lần đầu tiên thấy cảnh tượng “tam giáo hòa đồng” mà phục vụ vua, được ghi vào chính sử. “Tháng một năm Quý Mão (1123), vua đi đến hành cung Ứng Phong xem gặt lúa, khi trở về kinh đô, “các nhà Nho, Đạo, Thích, đều dâng thơ mừng”!

Tuy nhiên, chính thống trong tư tưởng và lối sống Lý Nhân Tông, thì vẫn là Phật giáo. Có thể nói: những kiến trúc Phật giáo quan trọng nhất của thời Lý và do nhà Lý để lại, còn tới nay, đều thấy dấu ấn của Lý Nhân Tông. Tòa tháp Chương Sơn kỳ vĩ (ở Nam Định) được khai quật khảo cổ học quy mô lớn vào giữa thế kỷ XX, nhưng đọc trong sử cũ, đã thấy ghi: Năm Đinh Dậu (1117) tháng ba, vua Lý Nhân Tông ngự đến núi Chương Sơn để khánh thành bảo tháp Vạn Phong Thành Thiện. Có rồng vàng hiện! (Chùa Đọi, Đọi Sơn - Hà Nam) cũng vừa được khai quật khảo cổ học quy mô lớn ở cuối thế kỷ XX, trùng tu tấm bia cổ “Sùng Thiện Diên Linh” mà ở đó, đọc thấy những dòng văn bia quý giá, mách bảo cho hậu thế những thông tin đặc biệt - từ thời Lý - về nghệ thuật múa rối nước, về ngôi chùa Diên Hựu (Một Cột)..., nhưng đọc trong sử cũ, cũng lại đã thấy ghi: “Năm Nhâm Dần (1122) tháng ba, vua Lý Nhân Tông cho mở hội khánh thành bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh ở Đội Sơn”!... Ngôi chùa có quy mô xây dựng và nghệ thuật kiến trúc bậc nhất mọi thời - chùa Giạm (Lâm Sơn - Bắc Ninh) - khởi dựng năm 1086, xây bảo tháp năm 1088, lại làm thêm “ba ngọn tháp chỏm đá” nữa vào năm 1105..., tất cả đều là công trình của Lý Nhân Tông! Và vật khổng lồ thứ hai, trong “Tứ đại khí” bằng đồng - quả “chuông Quy Điền” - thì cũng chính là do Lý Nhân Tông cho đúc vào năm 1080, để sử dụng ở chùa Diên Hựu...

Là hoàng đế - công trình sư của các kiến trúc kỳ vĩ ở kỷ nguyên xây dựng văn hóa Thăng Long, văn minh Đại Việt của mình, Lý Nhân Tông dĩ nhiên không dừng lại ở chỗ chỉ tạo tác các kiến trúc Phật giáo. Sử gia Ngô Thì Sĩ ở thế kỷ XVIII có thống kê: “Lý Nhân Tông xây dựng cung điện lâu đài đến 5 lần” - (là những lần xây cung Hợp Hoan (1090), đài Động Linh (1109), đài Chúng Tiên (1120), đài Tử Tiêu (1123), đài Uất La (1124) - và phàn nàn rằng: “Chắc không khỏi làm nhọc sức dân”! Nhưng thực tế, những lần xây dựng cung điện lâu đài của Lý Nhân Tông, không chỉ có thế, mà còn có các việc - vẫn theo sử cũ: “Tân Sửu (1171) tháng ba mở hội khánh thành chùa Bảo Thiên và điện Trung Minh”, “Ất Ty (1125) khánh thành điện Sùng Dương, mở yến tiệc ba ngày đêm”...

Xây dựng, kèm lễ hội, tiệc tùng lu bù như thế trong đời thịnh trị của Lý Nhân Tông, có nhiều phần khác hoàn cảnh với điều kiện lịch sử cụ thể hồi thế kỷ XVIII - khủng hoảng kinh tế xã hội - của Ngô Thì Sĩ. Do đó có thể kèm vào ý kiến của sử gia Ngô Thì Sĩ, thêm một lời đánh giá tổng quát của sử thần Ngô Sĩ Liên, vừa có tác dụng biện minh cho Lý Nhân Tông, lúc nhà vua “làm văn hóa” trong thời của mình, vừa góp phần làm sáng rõ nhân cách “nhà văn hóa” của Lý Nhân Tông: “Thông âm luật, chế ca nhạc, dân được giàu đông, mình được thái bình!”...

Nhà vua - nhà văn hóa Lý Nhân Tông, còn có một lý do, cơ sở và điều kiện nữa, để “làm văn hóa” trong thời của mình. Ấy là: kỷ lục ngồi lâu nhất trên ngai vàng trong lịch sử dân tộc: 56 năm! Vì thế, ở những lời cuối cùng của Di chiếu Lý Nhân Tông để lại trong lịch sử cho hậu thế vào năm 1127, ngoài những câu giàu tính văn học về hình thức văn chương (vì đây cũng còn là một nhà vua - thi sĩ có đến hai bài thơ, làm trong chỉ một đêm ban yến cho các quan, nhân ngự thăm chùa Lãm Sơn, đều mang nhan đề là Lãm Sơn dạ yến - như: “Than ôi! Mặt trời đã xế, tấc bóng khó dừng/ Từ giã cõi đời, nghìn thu vĩnh quyết...” - còn thấy nhân cách nhà vua - nhà văn hóa ở ông, biểu hiện ra rõ ràng ở những tư tưởng và lời lẽ đối với sự chết nói chung, và cái chết của mình: “Trẫm nghe: Phàm các loài sinh vật, không loại nào không chết. Chết là số lớn của trời đất, lẽ đương nhiên của mọi vật. Thế mà người đời, không ai là không thích sống mà ghét chết. Chôn cất hậu làm mất cơ nghiệp, để tang lâu làm tổn tính mệnh, trẫm không cho là phải. Ta đã ít đức, không lấy gì làm cho trăm họ được yên, đến khi chết đi, lại khiến thứ dân mặc áo xô gai, sớm tối khóc lóc, giảm ăn uống, bỏ cúng tế, làm cho lỗi ta thêm nặng, thiên hạ sẽ bảo ta là người thế nào!”...

Đó là những tư tưởng và lời lẽ đã khiến cho sử thần Ngô Sĩ Liên ở thế kỷ XV, phải bình rằng: “Lý Nhân Tông, thánh học cao minh, hiểu sâu cớ sống chết, như lẽ tất nhiên có ngày thì có đêm! Lời Di chiếu nói rất thấu lẽ!”...

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Hát Thường rang, Bộ mẹng của người Mường tại Phú Thọ được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
    Hát Thường Rang, Bộ mẹng được người Mường gọi với những cái tên thân thuộc như Rằng Đang hay Rằng Thường, loại hình nghệ thuật này có vai trò không thể thay thế trong đời sống văn hóa tinh thần và phong tục tập quán của đồng bào.
  • Xã Phù Đổng: Cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam
    Thông tin từ UBND xã Phù Đổng (TP. Hà Nội), Đảng ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Phù Đổng vừa khánh thành công trình tu bổ, tôn tạo đình Hạ Thôn. Đây là sự kiện quan trọng của địa phương nhằm chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031, đặc biệt cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Chương trình Hành động số 08-Ctr/TU của Thành ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW.
  • Từ 08-10/5 sẽ diễn ra trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề tại Hoàng Thành Thăng Long
    Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng là thành viên của mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo Thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề” diễn ra tại Hoàng Thành Thăng Long từ ngày 08-10/5/2026”.
  • Đền Kim Liên - Trấn Nam: “Đóa sen vàng” của Thăng Long Tứ Trấn
    Sáng 02/5 (ngày 16/3 năm Bính Ngọ), trong không khí trang nghiêm và thành kính, Đảng ủy - HĐND - UBND - UBMTTQ phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám long trọng tổ chức Lễ hội truyền thống di tích Quốc gia đặc biệt đền Kim Liên. Đây không chỉ là một nghi lễ tâm linh, mà còn là minh chứng của lòng tri ân, là gạch nối giữa quá khứ huy hoàng và hiện tại rạng rỡ.
  • Đền Kim Liên - Nơi linh khí hội tụ và hồn cốt Thăng Long tỏa sáng
    Trong cái nắng đầu hạ dịu ngọt của những ngày đầu tháng Năm năm 2026, khi dòng người tấp nập đổ về những di tích cổ kính của Thủ đô, có một khoảng trời bình yên nhưng rộn rã đang mở ra tại phía Nam kinh thành xưa. Đó là đền Kim Liên – một trong “Thăng Long Tứ Trấn” lừng lẫy, nơi đang diễn ra ngày hội văn hóa nghệ thuật đặc sắc vào ngày 01/5 (tức ngày15/3 âm lịch), khởi đầu cho chuỗi hành trình tâm linh tôn vinh Đức Cao Sơn Đại Vương.
  • Hà Nội đón Bằng công nhận Bảo vật quốc gia chuông chùa An Xá
    Chùa Bắc Biên (Phúc Xá tự), còn gọi là chùa An Xá, là di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu của vùng đất Bồ Đề. Trong hệ thống di vật của chùa, chuông chùa An Xá là hiện vật nổi bật, được đúc vào tháng 11 năm 1690 dưới thời Lê Trung hưng bằng phương pháp thủ công truyền thống, mang tính độc bản.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Chủ tịch Hồ Chí Minh với non sông đất nước và tình yêu đặc biệt dành cho Thủ đô Hà Nội
    Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thành kính tưởng nhớ, tri ân công lao trời biển của vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người gắn liền với hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; đồng thời để lại dấu ấn sâu đậm đối với Đảng bộ và nhân dân Thủ đô Hà Nội – nơi luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt, những tình cảm sâu nặng và những lời căn dặn tâm huyết của Người.
  • 3 ấn phẩm giúp người trẻ hiểu đúng và làm chủ AI
    Chào mừng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 18/5, Nhà xuất bản Kim Đồng ra mắt bạn đọc 3 ấn phẩm về trí tuệ nhân tạo, khoa học và tâm lí học hiện đại, gồm: “Lược sử trí khôn - Từ giun biển đến ChatGPT”, “Sống thư thái trong thời đại AI” và “Trí tuệ nhân tạo dưới lăng kính tâm lí học”.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 2)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Lan tỏa tình yêu quê hương đất nước bằng nghệ thuật truyền thống bên hồ Hoàn Kiếm
    Tối 17/5, tại Nhà Bát Giác, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” tiếp tục mang nghệ thuật đến gần công chúng bằng một đêm diễn đậm màu sắc cải lương truyền thống do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện. Không gian bên hồ Hoàn Kiếm tối cuối tuần trở nên đặc biệt hơn khi những làn điệu vọng cổ, những câu ca về quê hương, đất nước và hào khí dân tộc vang lên giữa dòng người náo nhiệt.
  • Âm nhạc cuối tuần và hành trình kiến tạo không gian văn hóa cộng đồng
    Chiều 17/5, trong không gian Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” không chỉ mang đến những buổi biểu diễn giàu cảm xúc, mà còn gợi mở câu chuyện về Hà Nội nói riêng, đất nước Việt Nam nói chung qua âm nhạc, với những rung động rất riêng và đong đầy cảm xúc.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội thành lập Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 1857-QĐ/TU ngày 13/5/2026 về việc thành lập Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô Hà Nội. Việc thành lập Ban Chỉ đạo nhằm tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều phối triển khai các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp phát triển văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Hát Môn lan tỏa tinh thần học và làm theo Bác từ những điều giản dị
    Hướng tới kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), cuộc thi “Tôi kể về tôi trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” lần thứ nhất, năm 2025-2026 do Đảng bộ xã Hát Môn tổ chức đã trở thành hoạt động chính trị, tư tưởng có ý nghĩa thiết thực và sâu sắc. Không chỉ tạo sức lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, cuộc thi còn góp phần đưa việc học và làm theo Bác đi vào chiều sâu bằng những việc làm cụ thể, gần gũi trong đời sống hằng ngày.
  • Những bản tình ca vang lên giữa không gian văn hóa hồ Gươm
    Vào mỗi cuối tuần, khu vực hồ Hoàn Kiếm luôn đón lượng lớn người dân và du khách đến tham quan, dạo phố. Giữa nhịp chuyển động ấy, những chương trình nghệ thuật ngoài trời đang dần “bồi đắp” thêm diện mạo cho không gian công cộng của Thủ đô, nơi công chúng không chỉ tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí mà còn có cơ hội tiếp cận nghệ thuật theo cách gần gũi hơn.
  • Chính phủ phê duyệt chuyển giao Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam cho Hà Nội quản lý
    Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 11/5/2026 về việc chuyển giao quyền quản lý Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam cho Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Quyết định được xây dựng dựa trên cơ sở các văn bản pháp lý hiện hành và đề nghị của các bộ ngành liên quan.
  • "Xoan mở hội": Thanh âm đất tổ tại Bảo tàng Hà Nội
    Vào ngày 23/5 tới đây, tại Bảo tàng Hà Nội, sự kiện "Xoan mở hội" sẽ mang đến không gian trải nghiệm độc đáo cho người yêu văn hóa, đặc biệt là giới trẻ, với chủ đề khám phá nghệ thuật hát Xoan Phú Thọ.
  • Trải nghiệm boardgame "Phú Hộ Làng Nghề": Khám phá những giá trị đặc sắc của các làng nghề truyền thống Bắc Bộ
    Bảo tàng Hà Nội, phối hợp cùng dự án Cổ Nghệ Tân Giao, sẽ mang đến một trải nghiệm văn hóa độc đáo với boardgame "Phú Hộ Làng Nghề" vào Chủ nhật, ngày 17/5/2026, từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều.
  • Chiếu phim chuyên đề “Trường Sơn - Những năm tháng không quên”
    Nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 67 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh - Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2026), Viện phim Việt Nam sẽ tổ chức đợt chiếu phim chuyên đề “Trường Sơn - Những năm tháng không quên” nhằm giới thiệu với khán giả nhiều tác phẩm điện ảnh đặc sắc.
  • Ngắm nhìn một Hồ Tây trầm mặc trong ánh hoàng hôn
    Với không gian thoáng đãng, hồ Tây là một địa điểm được nhiều người tìm đến để tận hưởng những phút giây bình yên và chiêm ngưỡng vẻ đẹp mê đắm của thiên nhiên khi hoàng hôn buông xuống.
  • "Duyên kiếp Bạch Trà" trở lại với khán giả Thủ đô
    "Duyên kiếp Bạch Trà" hứa hẹn mang đến cho khán giả một không gian nghệ thuật giàu cảm xúc, kết hợp giữa chiều sâu lịch sử, vẻ đẹp sân khấu truyền thống và ngôn ngữ cải lương đầy da diết. Vở diễn diễn ra vào 20h ngày 30/5/2026 tại Rạp Chuông Vàng, số 72 Hàng Bạc, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
  • Cuộc thi Tài năng Diễn viên Cải lương toàn quốc 2026: Nơi hội tụ những nhịp phách di sản
    Nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026) Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao Cục Nghệ thuật biểu diễn chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hồ Chí Minh, Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam và các đơn vị có liên quan tổ chức Cuộc thi Tài năng Diễn viên Cải lương toàn quốc năm 2026.
Lý Nhân Tông – vị vua giỏi của triều Lý
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO