Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Cổng làng một mảnh hồn quê gây thương nhớ

Phan Anh 19/02/2023 10:25

Cổng làng, xưa kia có chức năng đảm bảo an ninh cho cộng đồng thì bây giờ chủ yếu nghiêng về khía cạnh bảo tồn, lưu giữ các giá trị văn hóa, lịch sử của một thời đã qua. Giờ đây nó được ví von là một mảnh hồn quê gây thương nhớ.

cong-lang-uoc-le-thanh-oai-.jpg
Cổng làng Ước Lễ (Thanh Oai)

Cái mảnh hồn quê gây thương nhớ ấy một thời từng là “biên giới” của bên trong và bên ngoài như lời bài thơ của Phạm Lưu Vũ, từng được nhạc sỹ Trọng Đài phổ nhạc trong bộ phim “Gia phả của đất”: “bên trong là thanh bình/ bên ngoài là thiên hạ”, “bên trong là ký ức/ bên ngoài là tha phương”, “bên ngoài là ra đi/ bên trong là ở lại”… Và, bao đời nay, ở nông thôn Việt Nam, nhất là đồng bằng Bắc Bộ, hình ảnh cổng làng cùng với cây đa, giếng nước, mái đình đã làm thành bộ tứ để hình thành nên hồn cốt của mỗi làng quê. Có thể nói không ngoa, cái cổng làng của mỗi làng quê ấy; dù sang trọng, tôn nghiêm hay giản dị, mộc mạc thì từ trong thực tế cuộc sống vật chất hay tinh thần cũng đã gắn bó, tri kỷ với mỗi thành viên của cộng đồng làng kể từ tuổi ấu thơ cho đến khi phải trở về với cát bụi. Còn với những ai phải tha hương, cái “cổng làng neo ở giữa/ trong, ngoài thế gian” ấy không chỉ hiện lên như một biểu tượng đẹp đẽ đầy tự hào của người xa xứ mỗi khi nhớ về cái nơi chôn nhau cắt rốn mà còn là một bóng hình của cố hương gắn với biết bao nỗi niềm, kỷ niệm chẳng thể nào phôi phai. Cái mảnh hồn quê thương nhớ ấy cứ mãi náu nương, neo đậu trong tâm hồn những kẻ ly hương tựa như “nỗi nhớ chìm trong thớ đá/ ghim vào muôn kiếp cỏ cây”, đằm sâu trong ký ức của biết bao người.

cong-lang-mong-phu-son-tay-.jpg
Cổng làng Mông Phụ (Sơn Tây)

Với người Việt, văn hóa làng là đặc điểm nổi bật. Mỗi làng Việt là một đơn vị tụ cư của những người dân chủ yếu trong cùng địa vực nhất định. Bởi thế cái làng ấy giống như một ngôi nhà chung của một cộng đồng dân cư cùng chung sống với nhau trên cùng một không gian địa lý. Và lẽ dĩ nhiên kiến trúc của ngôi nhà ấy phải có cổng. Chẳng thế, từ xa xưa, dân gian thường nhắc bảo nhau rằng: “nhà có nóc, làng có cổng”. Bao đời nay, thường thường làng nào chẳng có cổng. Làng có điều kiện thì làm nhiều cổng, thường là hai cái, gồm cổng tiền (trước làng) và cổng hậu (sau làng). Cổng trước làng thường hay trổ về hướng Nam, Đông Nam, Đông. Đó là những hướng đón những ngọn gió mát lành, hướng của mặt trời lên. Và lẽ dĩ nhiên, trong cái niềm tin tâm linh ấy của người xưa những hướng đó sẽ đem đến phúc lộc, bình an cho tất cả dân làng. Còn cổng hậu thường được trổ về phía Tây, hướng mặt trời lặn, tượng trưng cho sự khép lại của mọi vật. Bởi thế cổng hậu thường hay được sử dụng làm nơi đưa tiễn những người trong làng đã khuất ra ngoài nghĩa địa. Người xưa quan niệm những điều không may không được đưa ra phía trước làng. Cổng trước làng dùng để cho người trong làng ra ngoài làng đi làm ăn; dùng làm nơi tiễn trai làng ra trận để bảo vệ xứ sở quê hương hoặc dùng để đón những người con ưu tú của làng trở về, kiểu như “vinh quy bái tổ”… Thế đấy, cổng làng hình thành, phát triển cùng với quá trình dựng làng, một thời gắn liền với những niềm tin và khát vọng của cả cộng đồng trong một vai trò công năng chủ yếu là phục vụ việc phòng chống: thủy, hỏa, đạo, tặc. Cũng chính vì thế cổng làng của người Việt rất phong phú về kiểu cách, hình dáng, chất liệu. Tùy từng điều kiện về kinh tế, tự nhiên, thẩm mỹ của mỗi làng mà có những cái cổng làng khác nhau. Về hình dáng kiểu cách, cổng làng có thể làm một tầng với cái gian nhà chỉ có duy nhất một lối vào, ra. Nhưng cũng có cái cổng làng làm rất cầu kỳ theo kiểu hai tầng, tám mái như thể “thượng gia hạ môn” hoặc kiểu “vọng lâu” với nhiều cửa ra vào (có từ ba cửa trở lên) cùng các cột trụ trang trí tứ linh rất đẹp … Về chất liệu, cổng làng có cái làm bằng đá, có cái làm bằng gạch nung, có cái làm bằng gạch đá ong … Tất cả, theo năm tháng cùng với những nắng mưa, cùng với những thăng trầm của lịch sử, cổng làng có cái còn khá nguyên vẹn, thâm trầm cùng những rêu phong. Nhưng cũng có làng không còn giữ được cái cổng cổ xưa của cha ông tạo dựng. Và cũng có cổng làng song tồn cùng sự xâm thực của thế giới thảo mộc tạo thành những “kỳ quan” khiến người qua không khỏi mê mẩn. Nhưng dù có khác nhau thế nào đi nữa thì mỗi cái cổng làng còn lại đến ngày nay đều rất gần gũi, thân yêu, dễ mến và gây thương nhớ với tất cả mọi người.

cong-lang-phuong-vien-hoai-duc-.jpg
Cổng làng Viên Phương (Hoài Đức)

Tuổi thơ tôi và của tất cả những ai sinh ra, lớn lên từ làng quê, hẳn đều mang trong mình biết bao kỷ niệm với những sân đình, giếng nước, gốc đa, mái chùa. Và tất nhiên có cả hình ảnh cái cổng làng của cả đôi quê nội, ngoại. Sau này lớn lên được đi nhiều nơi, đến nhiều làng, tôi càng thích thú và mê mẩn với những cổng làng của những vùng quê khác, nhất là vùng đất cổ xứ Đoài. Với tôi mỗi cái cổng làng như một câu chuyện kể sống động làm hiện lên trong trí tưởng tượng những cảm xúc đầy lý thú. Có cổng làng giản dị, mộc mạc tựa như cổng làng Mông Phụ (Sơn Tây). Nó không bề thế, cao to, uy nghi, tôn nghiêm giống như kiến trúc đình, miếu với rồng chầu, nghê trực mà chỉ đơn giản với gian nhà xây bằng tường gạch đá ong, tọa dưới tán đa cổ thụ rợp bóng, xanh mát quanh năm như để làm chỗ ngồi hóng mát cho người già, con trẻ trong mỗi buổi chiều hôm. Tuy vậy cổng ấy cũng có tuổi đời quãng chừng ngót năm trăm năm; ngày ngày âm thầm thực hiện cái việc: “Cổng làng mở rộng. Ồn ào/ Nông phu lững thững đi vào nắng mai” hay “Cổng làng vài chị gái non/ Dừng chân uể oải chờ cơn gió nồm” (Bàng Bá Lân). Cổng làng và cây đa ấy đã từng như che chở, âu yếm cho biết bao sinh linh của làng nhưng đồng thời cũng là một chứng nhân của biết bao kiếp người với những buồn vui, vất vả. Có cái cổng làng bề thế, uy nghiêm, đẹp đẽ, cầu kỳ như thể cổng làng Ước Lễ (Thanh Oai). Cổng làng Ước Lễ có cấu trúc và trang trí theo kiểu cách của kinh thành Huế với cầu cong, tường cao, hào sâu và mái cổng làm rất cầu kỳ với hai tầng, mỗi tầng có bốn mái tựa như kiểu mái đình, mái chùa; nóc mái trên cùng có đắp lưỡng long chầu nguyệt, tám góc mái có các đầu đao cong vút tỏa ra bốn bề không gian rất duyên dáng cùng những hình ảnh của rồng, cá chép, dơi bay được đắp nổi trên bề mặt cổng như thể ký thác, gửi gắm bao khát vọng, ước mơ ngàn đời của dân làng về học hành, bình an, phồn thịnh. Và cũng có những cái cổng làng rất đẹp mang dấu ấn của sự giao lưu văn hóa của các tộc người Chăm, Việt cách đây khoảng bảy trăm năm nhưng đã “hết duyên”. Nay cứ âm thầm, lặng lẽ thi gan cùng tuế nguyệt, mặc cho cỏ cây xâm thực trên thân xác phôi pha như thể cổng làng Phương Viên (Hoài Đức) nằm bên bờ đê tả Đáy. Toàn cổng là một khối đặc, xây bằng gạch, theo kiểu hình tháp giật cấp nhìn rất bề thế, vững chắc, khỏe khoắn. Cổng có ba cửa tò vò, trên có nhiều mái hình ống, uốn cong nhìn rất uyển chuyển. Cổng làng ấy vẫn còn đó nhưng “qua đường không ai hay” (Vũ Đình Liên) lâu dần trở thành phế tích chơ vơ bên bờ đê. Duyên phận hẩm hưu của cái cổng làng ấy cũng giống như số phận ăm ắp nỗi buồn của những người thợ Chăm phải ly hương theo nhà Trần khi bị bắt làm tù binh đưa về đất Bắc. Phải chăng cái bóng dáng lẻ loi, lặng lẽ, âm thầm có phần như nhẫn nại của tòa cổng ấy cũng đang phong kín biết bao tâm sự của người thợ xưa đã từng ký thác, gửi gắm những nỗi niềm nhung nhớ cố hương vào từng tầng tháp cổ nơi đất khách quê người trong nghìn trùng xa cách, giữa mênh mông biển sầu. Có cổng làng cùng cây cổ thụ nâng đỡ, nương tựa bên nhau để cùng tồn tại và vô tình để lại cho đờ những kiệt tác tựa “kỳ quan” như thể cổng làng Yên Cốc (Chương Mỹ). Ngay cả những người cao tuổi trong làng ở đây cũng chẳng biết cây đa và cái cổng có từ bao giờ. Họ chỉ biết rằng khi sinh ra thì đã thấy cây đa ôm lấy cổng làng rồi. Rễ đa buông xuống ôm chặt lấy cổng làng, giữ cho cổng làng không bị gục đổ bởi mưa nắng của thời gian. Trái lại cổng làng như đang gồng mình nâng đỡ thân đa cho khỏi bị mưa giật bão rung, trường tồn qua năm tháng. Người ta bảo thần linh ở cây đa đã che chở cho dân làng yên thân vượt qua thời chiến tranh với bao bom rơi đạn lạc. Giờ đây cái cổng ấy không chỉ là linh hồn của dân làng mà còn là một “kỳ quan” trong mắt khách thập phương.

cong-lang-yen-coc-chuong-my-.jpg
Cổng làng Yên Cốc (Chương Mỹ)

Mỗi cái cổng làng của người xưa còn lại đến ngày nay không chỉ là niềm tự hào hãnh diện, lưu dấu tài hoa của cha ông một thủa mà còn là hồn thiêng của mỗi làng quê. Nó đã gắn bó với biết bao kiếp người qua các thế hệ. Cái cổng làng ấy đã có một thời làm nơi đầu làng chờ cha, cuối làng đón mẹ của bao tuổi thơ. Và giờ đây, bên lũy tre xanh hay dưới gốc đa già, cái cổng làng trầm mặc, rêu phong, thân thương ấy hàng ngày vẫn đang dõi theo vòng quay: sinh - trưởng - tụ - về của biết bao con người như những ngày xưa. Trong mê mải của những nghĩ suy về cổng làng, ngắm nhìn hình hài của những chiếc cổng trường tồn qua năm tháng với bao khắc nghiệt của nắng mưa gió bão, của dâu bể trần ai sao ta thấy nó hiện lên sao mà vẫn gần gũi và thân thương quá đỗi. Cổng làng cứ thế nhẫn nại, bám trụ theo thời gian. Đôi khi cứ tưởng chừng nó rất vô tri, vô giác nhưng dường như nó đang âm thầm mang trên mình cái sứ mệnh đại sứ của thời gian; kết nối quá khứ với hiện tại và tương lai bằng những âm vang của ngôn ngữ kiến trúc, ngôn ngữ tạo hình và bằng cả những nét rêu phong, nham nhở, lở lói trên thân thể có vẻ như đã già nua... Có lẽ thế nên có cũng không ít cổng làng vẫn bình yên, vững vàng, trước bao biến cố thăng trầm cùng những bão táp phong ba trong suốt dặm dài của lịch sử dựng nước và giữ nước.

Cái cổng làng một thủa yêu thương của biết bao người ấy là cả một bầu trời kỷ niệm với không ít người xa xứ. Đã có biết bao người mưu sinh khắp bốn bể chân trời nhưng mỗi khi có dịp về làng, bước thấp bước cao, khấp kha khấp khểnh chỉ muốn nhanh chóng được trông thấy cái cổng làng. Và rồi đến khi đối diện với nó trong lòng không khỏi dưng dưng, trào dâng những xúc cảm, hoài niệm của một thời niên thiếu với biết bao trò ngịch ngợm ở quanh cái cổng làng ngày xưa. Còn nữa, với những người chưa có điều kiện trở lại với quê hương thì cổng làng trong họ là cả bầu trời thương nhớ; cả một miền ký ức trong những câu chuyện kể với những người thân mỗi khi lòng sắt se nhớ về quê cũ. Và có lẽ mỗi lần như vậy cố hương trong họ lại hiện về trong những nỗi nhớ tha hương cứ đau đáu, day dứt, khắc khoải, da diết đến lạ … Những câu chuyện như thế với người thân đã nghe rồi, nghe mãi như thể “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” nhưng với họ thì vẫn tinh khôi như mới nói lần đầu. Họ cứ say sưa kể, ngất ngây như không hề thấy cũ, không hề tẻ nhạt, buồn chán.

Sức sống và tình yêu với cổng làng tưởng như vô hình thế ấy nhưng thực ra rất mãnh liệt và bền chặt. Nó tựa như sợi dây quấn chặt người quê với cái nơi sinh ra và lớn lên trong suốt hành trình đi trên mặt đất. Chẳng biết có phải vì vậy mà cổng làng từ lâu đã trở thành một hình tượng thẩm mỹ của rất nhiều loại hình nghệ thuật: văn học, âm nhạc, điện ảnh và đặc biệt là hội họa. Cổng làng trong những tác phẩm nghệ thuật ấy, nếu để ý kỹ, ta cũng sẽ thấy mỗi khi xuất hiện hiếm khi phải đứng một mình. Cổng làng nếu không song hành với bóng đa, cây cầu, người dắt trâu về thì cũng là lũy tre, cây gạo, dòng mương … Tất cả những hình ảnh thân quen của chốn dân dã ấy dễ đập vào mắt ta như chạm vào cái huyệt đạo thần kinh nhạy cảm nhất, tái hiện trong lòng người xem một cách khá sinh động cái không gian văn hóa của làng cùng nhịp sống chậm chạp hay hối hả của những miền quê trong một lát cắt diệu kỳ, làm vơi đi chút nỗi nhớ nhà đối với kẻ tha phương; làm sống lại những kỷ niệm của một thời đã xa với không phải chỉ riêng của một người. Chẳng biết có phải vậy mà có không ít người xa quê, không có điều kiện trở lại quê nhà đã phải gọi điện cho người thân nhờ chụp ảnh và gửi cho mình cái cổng làng của một thời thương nhớ. Hoặc có kẻ may mắn được trở lại quê hương thì không khỏi lưu lại dáng hình của mình bên chiếc cổng làng và cất giữ tấm ảnh như một báu vật của đời.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Phan Anh. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.

Bài liên quan
  • Hà Nội bốn mùa yêu thương
    Hà Nội, trái tim thân yêu của cả nước, là linh hồn của dân tộc Việt từ ngàn xưa. Nơi có con sông Hồng chảy vào đất Việt. Nơi có bốn mùa đều ghi dấu tình yêu của em dành cho Hà Nội và anh, vĩnh viễn không đổi thay.
(0) Bình luận
  • Hà Nội và cơn mưa đầu mùa
    Một buổi chiều quên nắng, bầu trời gánh gồng những đụn mây xám nặng trĩu trên cao, tôi bắt chuyến xe bus cuối cùng lên Hà Nội cho kịp ngày hôm sau lên giảng đường. Bắt gặp cơn mưa đầu mùa, mưa hối hả giọt rơi, lắc rắc trên mái xe bus những viên đá long lanh như thủy tinh trong suốt. Cả đoàn xe háo hức vì mưa đá, reo hò cùng tiếng mưa. Còn tôi - cô sinh viên ngồi buồn xo cho lòng chùng xuống, ngắm những giọt mưa đầu mùa. Hà Nội ngày hôm ấy, có điều gì thật mênh mang nhớ…
  • Sự thanh lịch bắt đầu từ một lời nói nhẹ nhàng
    Giữa những đổi thay không ngừng của một đô thị hiện đại, Hà Nội vẫn giữ cho mình những nét riêng rất khó trộn lẫn. Người ta nhớ về Thủ đô qua màu thời gian trên mái phố cổ, qua tiếng leng keng tàu điện trong ký ức hay hương hoa sữa mỗi độ thu về. Nhưng có một điều âm thầm làm nên cốt cách Hà Nội suốt bao năm qua, ấy là cách người Hà Nội nói chuyện - nhẹ nhàng, có đầu có cuối, sâu sắc mà điềm đạm như chính con người nơi đây.
  • Góc phố Thành Công - Nơi Hà Nội còn trong từng nếp sống
    Có một Hà Nội không ồn ào trên mặt báo, không náo nhiệt như phố đi bộ cuối tuần, mà là Hà Nội trong những nếp sống lặng lẽ, bền bỉ và tinh tế - thứ đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi suốt những năm tháng trưởng thành.
  • Nốt trầm ngân lên giữa lòng thành phố
    Sống ở Hà Nội, sau những ngày bận rộn, tận tụy với công việc, để tâm hồn thư giãn tôi thường đến bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam để mãn nhãn với những bộ sưu tập nghệ thuật đồ sộ. Có thể là những bộ trang phục thời trang các dân tộc xanh chàm hay rực rỡ với bản sắc riêng. Cũng có thể là những bức tranh dân gian cổ, những bức tượng gỗ điêu khắc kỳ công, tỉ mỉ… Hiện vật ở đây toát nên những giá trị điển hình của văn hóa dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ.
  • Hà Nội, một nỗi nhớ không có điểm dừng
    Có những thành phố ta đi qua, để lại vài bức ảnh vài dòng trạng thái, rồi quên. Nhưng Hà Nội thì không, không phải vì nó quá đặc biệt mà vì nó không cho người ta quên theo cách dễ dàng. Hà Nội không nằm lại trong ký ức như một kỷ niệm đã xếp gọn, nó tồn tại như một phần đời, lặng lẽ, bền bỉ và đôi khi đau đáu đến mức chỉ cần nghĩ đến thôi cũng đủ làm lòng chùng xuống, dù đang ở rất xa.
  • Hà Nội trong nỗi nhớ của tôi
    Tôi gặp lại Hà Nội trong cái rét tháng ba, trời không quá lạnh, thời tiết buổi sáng trong lành, dễ chịu. Trở lại Hà Nội không biết bao nhiêu lần, nhưng trong tôi Hà Nội vẫn là điều gì đó khiến tôi mỗi lần nhắc tới đều thấy thương nhớ vô cùng. Để viết về Hà Nội, với tôi là nguồn cảm hứng vô tận, có lẽ Hà Nội với tôi đã "hóa tâm hồn" như ý thơ của nhà thơ Chế Lan Viên.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Phát động Cuộc thi sáng tác kịch bản phim truyện, phim hoạt hình năm 2026
    Cục Điện ảnh vừa phát động Cuộc thi “Sáng tác kịch bản phim truyện, phim hoạt hình năm 2026” nhằm tìm kiếm, tuyển chọn các kịch bản có giá trị tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, phục vụ sự phát triển của điện ảnh Việt Nam trong giai đoạn mới.
  • Nhận diện thách thức, củng cố trận địa tư tưởng trên không gian mạng
    Nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên môi trường mạng xã hội, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản lần thứ hai (có sửa chữa, bổ sung) cuốn sách “Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ trên môi trường mạng xã hội”.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Hà Nội và cơn mưa đầu mùa
    Một buổi chiều quên nắng, bầu trời gánh gồng những đụn mây xám nặng trĩu trên cao, tôi bắt chuyến xe bus cuối cùng lên Hà Nội cho kịp ngày hôm sau lên giảng đường. Bắt gặp cơn mưa đầu mùa, mưa hối hả giọt rơi, lắc rắc trên mái xe bus những viên đá long lanh như thủy tinh trong suốt. Cả đoàn xe háo hức vì mưa đá, reo hò cùng tiếng mưa. Còn tôi - cô sinh viên ngồi buồn xo cho lòng chùng xuống, ngắm những giọt mưa đầu mùa. Hà Nội ngày hôm ấy, có điều gì thật mênh mang nhớ…
  • Phụ nữ phường Phú Lương bứt phá trong kỷ nguyên mới: nâng cao năng lực kinh doanh số và ra mắt mô hình câu lạc bộ thời đại công nghệ
    Trong bối cảnh nền kinh tế số đang phát triển mạnh mẽ và trở thành xu thế tất yếu của thời đại, việc trang bị kỹ năng công nghệ cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là phụ nữ, đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nhằm hỗ trợ hội viên phụ nữ nhanh chóng tiếp cận với các phương thức kinh doanh hiện đại, chủ động nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ số trong phát triển kinh tế gia đình, vừa qua Hội Liên hiệp Phụ nữ phường Phú Lương (Hà Nội) đã phối hợp cùng Học viện Marketing và Chuyển đổi số tổ chức chương trình tập huấn mang tính thực tiễn cao mang tên “Bán hàng đa kênh – Kết hợp kinh doanh truyền thống với kinh doanh trực tuyến”.
Đừng bỏ lỡ
  • Ra mắt bộ sách kỹ năng giúp cha mẹ thấu hiểu và đồng hành cùng con
    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật vừa ra mắt bạn đọc ba bộ sách: “Kỹ năng sinh tồn thông minh của trẻ”, “Tâm lý thiếu niên” và “Kỹ năng làm cha mẹ”. Mỗi bộ sách mang đến những kiến thức thiết thực, góp phần bồi đắp nhân cách, kỹ năng sống và xây dựng môi trường gia đình hạnh phúc.
  • Xây dựng Hà Nội xanh hơn, thông minh hơn, hiện đại hơn
    Chiều 8/6 tại Hà Nội, UBND Thành phố Hà Nội đã long trọng tổ chức Hội nghị lãnh đạo các thành phố ASEAN năm 2026. Đây là sự kiện nằm trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 do Việt Nam chủ trì tổ chức.
  • Những thanh âm làm giàu bản sắc Hà Nội
    Trong hơn một giờ đồng hồ, những giai điệu jazz quốc tế hòa quyện cùng các ca khúc Việt Nam quen thuộc đã tạo nên một không gian nghệ thuật mở đầy cảm xúc giữa trung tâm Thủ đô.
  • Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO vinh danh là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới
    Trong khuôn khổ Kỳ họp lần thứ 38 của Hội đồng Điều phối quốc tế Chương trình Con người và Sinh quyển thuộc UNESCO diễn ra tại thành phố Hernandarias, Cộng hòa Paraguay, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã chính thức được UNESCO vinh danh là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới.
  • Khai mạc Liên hoan phim ngắn TP Hồ Chí Minh lần thứ 2 năm 2026
    Liên hoan phim ngắn Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ II năm 2026 với chủ đề "Vươn mình tỏa sáng" không chỉ là sân chơi dành cho các nhà làm phim trẻ mà còn đánh dấu bước tiến quan trọng trong chiến lược phát triển công nghiệp điện ảnh, hiện thực hóa các cam kết của Thành phố sau khi gia nhập Mạng lưới các Thành phố sáng tạo của UNESCO trong lĩnh vực điện ảnh.
  • Có một Hà Nội đầy thi vị trong những ngày đầu tháng 6
    Chiều 7/6, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” do NSƯT Quyền Văn Minh cùng các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club thực hiện sẽ mang đến một cuộc gặp gỡ đầy cảm xúc giữa Jazz và những ca khúc về Hà Nội. Điều đặc biệt là chương trình lần này gợi mở hình ảnh Thủ đô qua những dấu ấn của các mùa trong năm, từ “Có phải em mùa thu Hà Nội”, “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa” đến “Hà Nội 12 mùa hoa”.
  • Công bố xếp hạng đình Liễu Cốc Thượng là Di tích cấp TP Huế
    Bảo tồn nhiều tư liệu, sắc phong cùng các giá trị văn hóa gắn với đời sống tâm linh, phong tục tập quán của người dân đã trải qua hơn 500 năm nên đình Liễu Cốc Thượng được xếp hạng Di tích cấp TP Huế.
  • Hà Nội tặng danh hiệu “Người tốt, việc tốt” cho 17 cá nhân
    Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng đã ký ban hành Quyết định số 2822/QĐ-UBND ngày 5/6/2026 về việc tặng danh hiệu “Người tốt, việc tốt”.
  • Ra mắt tủ sách Hồ Chí Minh và không gian văn hóa số về Bác
    Nhân kỷ niệm 115 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (05/6/1911-05/6/2026), NXB Tổng hợp TP.HCM giới thiệu tới độc giả tủ sách “Vinh quang Hồ Chí Minh”, nhằm tiếp tục phát huy vai trò của công tác xuất bản trong việc bảo tồn và lan tỏa di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
  • Chính phủ quy định về phát hành, phổ biến phim phục vụ nhiệm vụ chính trị
    Chính phủ vừa ban hành Nghị định 189/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động phát hành và phổ biến phim phục vụ nhiệm vụ chính trị, bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 15/7/2026.
Cổng làng một mảnh hồn quê gây thương nhớ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO