Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Cổng làng một mảnh hồn quê gây thương nhớ

Phan Anh 19/02/2023 10:25

Cổng làng, xưa kia có chức năng đảm bảo an ninh cho cộng đồng thì bây giờ chủ yếu nghiêng về khía cạnh bảo tồn, lưu giữ các giá trị văn hóa, lịch sử của một thời đã qua. Giờ đây nó được ví von là một mảnh hồn quê gây thương nhớ.

cong-lang-uoc-le-thanh-oai-.jpg
Cổng làng Ước Lễ (Thanh Oai)

Cái mảnh hồn quê gây thương nhớ ấy một thời từng là “biên giới” của bên trong và bên ngoài như lời bài thơ của Phạm Lưu Vũ, từng được nhạc sỹ Trọng Đài phổ nhạc trong bộ phim “Gia phả của đất”: “bên trong là thanh bình/ bên ngoài là thiên hạ”, “bên trong là ký ức/ bên ngoài là tha phương”, “bên ngoài là ra đi/ bên trong là ở lại”… Và, bao đời nay, ở nông thôn Việt Nam, nhất là đồng bằng Bắc Bộ, hình ảnh cổng làng cùng với cây đa, giếng nước, mái đình đã làm thành bộ tứ để hình thành nên hồn cốt của mỗi làng quê. Có thể nói không ngoa, cái cổng làng của mỗi làng quê ấy; dù sang trọng, tôn nghiêm hay giản dị, mộc mạc thì từ trong thực tế cuộc sống vật chất hay tinh thần cũng đã gắn bó, tri kỷ với mỗi thành viên của cộng đồng làng kể từ tuổi ấu thơ cho đến khi phải trở về với cát bụi. Còn với những ai phải tha hương, cái “cổng làng neo ở giữa/ trong, ngoài thế gian” ấy không chỉ hiện lên như một biểu tượng đẹp đẽ đầy tự hào của người xa xứ mỗi khi nhớ về cái nơi chôn nhau cắt rốn mà còn là một bóng hình của cố hương gắn với biết bao nỗi niềm, kỷ niệm chẳng thể nào phôi phai. Cái mảnh hồn quê thương nhớ ấy cứ mãi náu nương, neo đậu trong tâm hồn những kẻ ly hương tựa như “nỗi nhớ chìm trong thớ đá/ ghim vào muôn kiếp cỏ cây”, đằm sâu trong ký ức của biết bao người.

cong-lang-mong-phu-son-tay-.jpg
Cổng làng Mông Phụ (Sơn Tây)

Với người Việt, văn hóa làng là đặc điểm nổi bật. Mỗi làng Việt là một đơn vị tụ cư của những người dân chủ yếu trong cùng địa vực nhất định. Bởi thế cái làng ấy giống như một ngôi nhà chung của một cộng đồng dân cư cùng chung sống với nhau trên cùng một không gian địa lý. Và lẽ dĩ nhiên kiến trúc của ngôi nhà ấy phải có cổng. Chẳng thế, từ xa xưa, dân gian thường nhắc bảo nhau rằng: “nhà có nóc, làng có cổng”. Bao đời nay, thường thường làng nào chẳng có cổng. Làng có điều kiện thì làm nhiều cổng, thường là hai cái, gồm cổng tiền (trước làng) và cổng hậu (sau làng). Cổng trước làng thường hay trổ về hướng Nam, Đông Nam, Đông. Đó là những hướng đón những ngọn gió mát lành, hướng của mặt trời lên. Và lẽ dĩ nhiên, trong cái niềm tin tâm linh ấy của người xưa những hướng đó sẽ đem đến phúc lộc, bình an cho tất cả dân làng. Còn cổng hậu thường được trổ về phía Tây, hướng mặt trời lặn, tượng trưng cho sự khép lại của mọi vật. Bởi thế cổng hậu thường hay được sử dụng làm nơi đưa tiễn những người trong làng đã khuất ra ngoài nghĩa địa. Người xưa quan niệm những điều không may không được đưa ra phía trước làng. Cổng trước làng dùng để cho người trong làng ra ngoài làng đi làm ăn; dùng làm nơi tiễn trai làng ra trận để bảo vệ xứ sở quê hương hoặc dùng để đón những người con ưu tú của làng trở về, kiểu như “vinh quy bái tổ”… Thế đấy, cổng làng hình thành, phát triển cùng với quá trình dựng làng, một thời gắn liền với những niềm tin và khát vọng của cả cộng đồng trong một vai trò công năng chủ yếu là phục vụ việc phòng chống: thủy, hỏa, đạo, tặc. Cũng chính vì thế cổng làng của người Việt rất phong phú về kiểu cách, hình dáng, chất liệu. Tùy từng điều kiện về kinh tế, tự nhiên, thẩm mỹ của mỗi làng mà có những cái cổng làng khác nhau. Về hình dáng kiểu cách, cổng làng có thể làm một tầng với cái gian nhà chỉ có duy nhất một lối vào, ra. Nhưng cũng có cái cổng làng làm rất cầu kỳ theo kiểu hai tầng, tám mái như thể “thượng gia hạ môn” hoặc kiểu “vọng lâu” với nhiều cửa ra vào (có từ ba cửa trở lên) cùng các cột trụ trang trí tứ linh rất đẹp … Về chất liệu, cổng làng có cái làm bằng đá, có cái làm bằng gạch nung, có cái làm bằng gạch đá ong … Tất cả, theo năm tháng cùng với những nắng mưa, cùng với những thăng trầm của lịch sử, cổng làng có cái còn khá nguyên vẹn, thâm trầm cùng những rêu phong. Nhưng cũng có làng không còn giữ được cái cổng cổ xưa của cha ông tạo dựng. Và cũng có cổng làng song tồn cùng sự xâm thực của thế giới thảo mộc tạo thành những “kỳ quan” khiến người qua không khỏi mê mẩn. Nhưng dù có khác nhau thế nào đi nữa thì mỗi cái cổng làng còn lại đến ngày nay đều rất gần gũi, thân yêu, dễ mến và gây thương nhớ với tất cả mọi người.

cong-lang-phuong-vien-hoai-duc-.jpg
Cổng làng Viên Phương (Hoài Đức)

Tuổi thơ tôi và của tất cả những ai sinh ra, lớn lên từ làng quê, hẳn đều mang trong mình biết bao kỷ niệm với những sân đình, giếng nước, gốc đa, mái chùa. Và tất nhiên có cả hình ảnh cái cổng làng của cả đôi quê nội, ngoại. Sau này lớn lên được đi nhiều nơi, đến nhiều làng, tôi càng thích thú và mê mẩn với những cổng làng của những vùng quê khác, nhất là vùng đất cổ xứ Đoài. Với tôi mỗi cái cổng làng như một câu chuyện kể sống động làm hiện lên trong trí tưởng tượng những cảm xúc đầy lý thú. Có cổng làng giản dị, mộc mạc tựa như cổng làng Mông Phụ (Sơn Tây). Nó không bề thế, cao to, uy nghi, tôn nghiêm giống như kiến trúc đình, miếu với rồng chầu, nghê trực mà chỉ đơn giản với gian nhà xây bằng tường gạch đá ong, tọa dưới tán đa cổ thụ rợp bóng, xanh mát quanh năm như để làm chỗ ngồi hóng mát cho người già, con trẻ trong mỗi buổi chiều hôm. Tuy vậy cổng ấy cũng có tuổi đời quãng chừng ngót năm trăm năm; ngày ngày âm thầm thực hiện cái việc: “Cổng làng mở rộng. Ồn ào/ Nông phu lững thững đi vào nắng mai” hay “Cổng làng vài chị gái non/ Dừng chân uể oải chờ cơn gió nồm” (Bàng Bá Lân). Cổng làng và cây đa ấy đã từng như che chở, âu yếm cho biết bao sinh linh của làng nhưng đồng thời cũng là một chứng nhân của biết bao kiếp người với những buồn vui, vất vả. Có cái cổng làng bề thế, uy nghiêm, đẹp đẽ, cầu kỳ như thể cổng làng Ước Lễ (Thanh Oai). Cổng làng Ước Lễ có cấu trúc và trang trí theo kiểu cách của kinh thành Huế với cầu cong, tường cao, hào sâu và mái cổng làm rất cầu kỳ với hai tầng, mỗi tầng có bốn mái tựa như kiểu mái đình, mái chùa; nóc mái trên cùng có đắp lưỡng long chầu nguyệt, tám góc mái có các đầu đao cong vút tỏa ra bốn bề không gian rất duyên dáng cùng những hình ảnh của rồng, cá chép, dơi bay được đắp nổi trên bề mặt cổng như thể ký thác, gửi gắm bao khát vọng, ước mơ ngàn đời của dân làng về học hành, bình an, phồn thịnh. Và cũng có những cái cổng làng rất đẹp mang dấu ấn của sự giao lưu văn hóa của các tộc người Chăm, Việt cách đây khoảng bảy trăm năm nhưng đã “hết duyên”. Nay cứ âm thầm, lặng lẽ thi gan cùng tuế nguyệt, mặc cho cỏ cây xâm thực trên thân xác phôi pha như thể cổng làng Phương Viên (Hoài Đức) nằm bên bờ đê tả Đáy. Toàn cổng là một khối đặc, xây bằng gạch, theo kiểu hình tháp giật cấp nhìn rất bề thế, vững chắc, khỏe khoắn. Cổng có ba cửa tò vò, trên có nhiều mái hình ống, uốn cong nhìn rất uyển chuyển. Cổng làng ấy vẫn còn đó nhưng “qua đường không ai hay” (Vũ Đình Liên) lâu dần trở thành phế tích chơ vơ bên bờ đê. Duyên phận hẩm hưu của cái cổng làng ấy cũng giống như số phận ăm ắp nỗi buồn của những người thợ Chăm phải ly hương theo nhà Trần khi bị bắt làm tù binh đưa về đất Bắc. Phải chăng cái bóng dáng lẻ loi, lặng lẽ, âm thầm có phần như nhẫn nại của tòa cổng ấy cũng đang phong kín biết bao tâm sự của người thợ xưa đã từng ký thác, gửi gắm những nỗi niềm nhung nhớ cố hương vào từng tầng tháp cổ nơi đất khách quê người trong nghìn trùng xa cách, giữa mênh mông biển sầu. Có cổng làng cùng cây cổ thụ nâng đỡ, nương tựa bên nhau để cùng tồn tại và vô tình để lại cho đờ những kiệt tác tựa “kỳ quan” như thể cổng làng Yên Cốc (Chương Mỹ). Ngay cả những người cao tuổi trong làng ở đây cũng chẳng biết cây đa và cái cổng có từ bao giờ. Họ chỉ biết rằng khi sinh ra thì đã thấy cây đa ôm lấy cổng làng rồi. Rễ đa buông xuống ôm chặt lấy cổng làng, giữ cho cổng làng không bị gục đổ bởi mưa nắng của thời gian. Trái lại cổng làng như đang gồng mình nâng đỡ thân đa cho khỏi bị mưa giật bão rung, trường tồn qua năm tháng. Người ta bảo thần linh ở cây đa đã che chở cho dân làng yên thân vượt qua thời chiến tranh với bao bom rơi đạn lạc. Giờ đây cái cổng ấy không chỉ là linh hồn của dân làng mà còn là một “kỳ quan” trong mắt khách thập phương.

cong-lang-yen-coc-chuong-my-.jpg
Cổng làng Yên Cốc (Chương Mỹ)

Mỗi cái cổng làng của người xưa còn lại đến ngày nay không chỉ là niềm tự hào hãnh diện, lưu dấu tài hoa của cha ông một thủa mà còn là hồn thiêng của mỗi làng quê. Nó đã gắn bó với biết bao kiếp người qua các thế hệ. Cái cổng làng ấy đã có một thời làm nơi đầu làng chờ cha, cuối làng đón mẹ của bao tuổi thơ. Và giờ đây, bên lũy tre xanh hay dưới gốc đa già, cái cổng làng trầm mặc, rêu phong, thân thương ấy hàng ngày vẫn đang dõi theo vòng quay: sinh - trưởng - tụ - về của biết bao con người như những ngày xưa. Trong mê mải của những nghĩ suy về cổng làng, ngắm nhìn hình hài của những chiếc cổng trường tồn qua năm tháng với bao khắc nghiệt của nắng mưa gió bão, của dâu bể trần ai sao ta thấy nó hiện lên sao mà vẫn gần gũi và thân thương quá đỗi. Cổng làng cứ thế nhẫn nại, bám trụ theo thời gian. Đôi khi cứ tưởng chừng nó rất vô tri, vô giác nhưng dường như nó đang âm thầm mang trên mình cái sứ mệnh đại sứ của thời gian; kết nối quá khứ với hiện tại và tương lai bằng những âm vang của ngôn ngữ kiến trúc, ngôn ngữ tạo hình và bằng cả những nét rêu phong, nham nhở, lở lói trên thân thể có vẻ như đã già nua... Có lẽ thế nên có cũng không ít cổng làng vẫn bình yên, vững vàng, trước bao biến cố thăng trầm cùng những bão táp phong ba trong suốt dặm dài của lịch sử dựng nước và giữ nước.

Cái cổng làng một thủa yêu thương của biết bao người ấy là cả một bầu trời kỷ niệm với không ít người xa xứ. Đã có biết bao người mưu sinh khắp bốn bể chân trời nhưng mỗi khi có dịp về làng, bước thấp bước cao, khấp kha khấp khểnh chỉ muốn nhanh chóng được trông thấy cái cổng làng. Và rồi đến khi đối diện với nó trong lòng không khỏi dưng dưng, trào dâng những xúc cảm, hoài niệm của một thời niên thiếu với biết bao trò ngịch ngợm ở quanh cái cổng làng ngày xưa. Còn nữa, với những người chưa có điều kiện trở lại với quê hương thì cổng làng trong họ là cả bầu trời thương nhớ; cả một miền ký ức trong những câu chuyện kể với những người thân mỗi khi lòng sắt se nhớ về quê cũ. Và có lẽ mỗi lần như vậy cố hương trong họ lại hiện về trong những nỗi nhớ tha hương cứ đau đáu, day dứt, khắc khoải, da diết đến lạ … Những câu chuyện như thế với người thân đã nghe rồi, nghe mãi như thể “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” nhưng với họ thì vẫn tinh khôi như mới nói lần đầu. Họ cứ say sưa kể, ngất ngây như không hề thấy cũ, không hề tẻ nhạt, buồn chán.

Sức sống và tình yêu với cổng làng tưởng như vô hình thế ấy nhưng thực ra rất mãnh liệt và bền chặt. Nó tựa như sợi dây quấn chặt người quê với cái nơi sinh ra và lớn lên trong suốt hành trình đi trên mặt đất. Chẳng biết có phải vì vậy mà cổng làng từ lâu đã trở thành một hình tượng thẩm mỹ của rất nhiều loại hình nghệ thuật: văn học, âm nhạc, điện ảnh và đặc biệt là hội họa. Cổng làng trong những tác phẩm nghệ thuật ấy, nếu để ý kỹ, ta cũng sẽ thấy mỗi khi xuất hiện hiếm khi phải đứng một mình. Cổng làng nếu không song hành với bóng đa, cây cầu, người dắt trâu về thì cũng là lũy tre, cây gạo, dòng mương … Tất cả những hình ảnh thân quen của chốn dân dã ấy dễ đập vào mắt ta như chạm vào cái huyệt đạo thần kinh nhạy cảm nhất, tái hiện trong lòng người xem một cách khá sinh động cái không gian văn hóa của làng cùng nhịp sống chậm chạp hay hối hả của những miền quê trong một lát cắt diệu kỳ, làm vơi đi chút nỗi nhớ nhà đối với kẻ tha phương; làm sống lại những kỷ niệm của một thời đã xa với không phải chỉ riêng của một người. Chẳng biết có phải vậy mà có không ít người xa quê, không có điều kiện trở lại quê nhà đã phải gọi điện cho người thân nhờ chụp ảnh và gửi cho mình cái cổng làng của một thời thương nhớ. Hoặc có kẻ may mắn được trở lại quê hương thì không khỏi lưu lại dáng hình của mình bên chiếc cổng làng và cất giữ tấm ảnh như một báu vật của đời.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Phan Anh. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.

Bài liên quan
  • Hà Nội bốn mùa yêu thương
    Hà Nội, trái tim thân yêu của cả nước, là linh hồn của dân tộc Việt từ ngàn xưa. Nơi có con sông Hồng chảy vào đất Việt. Nơi có bốn mùa đều ghi dấu tình yêu của em dành cho Hà Nội và anh, vĩnh viễn không đổi thay.
(0) Bình luận
  • Có một Hà Nội trên những chuyến xe
    Tôi đã đi nhiều chuyến xe trong đời nhưng có lẽ những chuyến xe buýt đối với tôi có nhiều kỉ niệm gắn bó, giống như tôi gắn bó với Hà Nội vậy.
  • Nhớ gói xôi đỗ đen nơi góc phố
    Ra trường đã nhiều năm, nếm trải bao món ngon Hà thành nhưng tôi vẫn luôn vấn vương hương vị gói xôi đỗ đen gói trong tầu lá sen của cô hàng xôi nơi cổng trường đại học.
  • Sầm uất chợ Đồng Xuân
    Đang chộn rộn niềm vui chung cùng cả nước về Đại Thắng Mùa Xuân, chúng tôi bất ngờ nhận tin vui, tươi mới hơn cả mong đợi: “Những đồng chí đang học dở đại học và những đồng chí có giấy gọi nhập học đại học được xuất ngũ về trường học tiếp”.
  • Thu Hà Nội
    Mới ngày nào còn đi giữa cái nắng chói chang của mùa hè, hay trong cơn mưa rào như trút nước; vậy mà một buổi sáng ra đường chợt thấy lành lạnh - mới hay ta đang đi giữa mùa thu…
  • Hà thành, đêm trên phố
    Bây giờ, Hà Nội trong tôi còn có một khoảng lặng, sâu lắng khó quên, đó là những đêm trên phố cổ. Thoạt nghe, ý niệm ấy có vẻ hơi cường điệu. Bởi vì người ta thường nghĩ về một Thủ đô ngàn năm văn hiến với những nét tĩnh lặng, cổ kính, rêu phong trong ánh nắng ban mai mơ màng buông xuống “ba mươi sáu phố phường”; nên có lẽ, sẽ ngỡ ngàng, nếu ai đó khi nghe thấy nơi này được gọi là “thành phố của những đêm thâu”.
  • Hương vị đặc trưng của mùa hè miền Bắc
    Sáng nay, người bạn đồng hương từ miền Bắc khi vào Sài Gòn thăm tôi, đã khệ nệ mang theo một chiếc túi đầy ắp những quả mận đỏ au. Bạn tôi từ tốn bảo: “Tớ biết cậu thích ăn mận nên đặc biệt mang túi mận này vào cho cậu. Tớ mua từ cô hàng rong thân thiết hay đẩy xe ngang nhà tớ nên đảm bảo an toàn”. Tôi mỉm cười, khẽ khàng chạm nhẹ vào những quả mận đỏ, thấy như cả khoảng đời tuổi thơ của mình đang quay trở lại. Có cảm tưởng mùa mận ở Hà Nội không chỉ là thời điểm những gánh hàng rong chất đầy quả ngọt của
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Phát huy vai trò của văn nghệ sĩ Thủ đô: Khơi dậy nguồn lực sáng tạo cho phát triển công nghiệp văn hóa
    Trong nền kinh tế sáng tạo, tài năng và sức sáng tạo của con người chính là nguồn vốn quan trọng nhất. Đối với Hà Nội, đội ngũ văn nghệ sĩ không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn giữ vai trò trung tâm trong quá trình hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị. Khơi dậy, phát huy và tạo điều kiện để nguồn lực sáng tạo ấy phát triển sẽ là “chìa khóa” để Hà Nội khai thác hiệu quả tiềm năng văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế của một trung tâm sáng tạo trong kỷ nguyên mới.
  • Khơi nguồn sáng tạo của văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân, chung sức phát triển Thủ đô Hà Nội
    Chiều 29/7, Thành ủy Hà Nội tổ chức gặp mặt đại biểu văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân tiêu biểu trên địa bàn thành phố. Đây là dịp để lãnh đạo thành phố lắng nghe những hiến kế về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp văn hóa và phát huy nguồn lực con người, góp phần tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh, bền vững của Thủ đô.
  • Tạo dựng bản sắc kiến trúc Hà Nội: Giữ hồn cốt Thủ đô, kiến tạo diện mạo cho tương lai
    Kiến trúc không chỉ định hình diện mạo đô thị mà còn lưu giữ ký ức, phản ánh bản sắc văn hóa và trình độ phát triển của mỗi thời đại. Đối với Hà Nội - thành phố ngàn năm văn hiến, việc kiến tạo những công trình mới hài hòa với không gian lịch sử, đồng thời phát huy vai trò của đội ngũ kiến trúc sư trong bảo tồn và sáng tạo, là yêu cầu quan trọng để xây dựng Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại", đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới.
  • Thưởng thức những giai điệu jazz giữa không gian di sản Nhà Bát Giác
    Vào 17h00 ngày 2/8, Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục chào đón công chúng đến với chương trình "Âm nhạc cuối tuần", nơi những thanh âm của jazz trở thành chiếc cầu nối đưa nhiều nền văn hóa gặp gỡ trong không gian di sản giữa lòng Thủ đô. Từ những tác phẩm kinh điển của thế giới đến những giai điệu Việt Nam đậm chất tự sự, chương trình mở ra một hành trình thưởng thức âm nhạc đa tầng cảm xúc, góp phần bồi đắp diện mạo văn hóa của Hà Nội - Thành phố sáng tạo.
  • Giải Marathon Quốc tế VTV LPBank 2026 lần đầu chinh phục cung đường di sản
    Giải Marathon Quốc tế VTV LPBank 2026 hứa hẹn thu hút đông đảo vận động viên khi lần đầu tổ chức tại Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, Ninh Bình.
Đừng bỏ lỡ
  • “Chuyện Hà Nội - Một ngày rất Hà Nội”: Kích cầu du lịch văn hóa, kinh tế đêm Thủ đô
    “Chuyện Hà Nội - Một ngày rất Hà Nội” - chương trình nghệ thuật do Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long thực hiện, đã ra mắt công chúng vào tối 30/7 tại Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long (số 31 - 33 phố Lương Văn Can, phường Hoàn Kiếm).
  • [Podcast] Tản văn: Một ly tỉnh và nhớ
    Người ta có muôn vàn cách để quên một điều gì đó nhưng để nhớ về kỷ niệm thì lại chẳng có nhiều. Tôi hay chọn buổi sáng thứ Bảy trong tuần để được thư thả về phố núi quê hương, ngồi đợi giọt đắng của đất đai, mưa nắng điểm từng nhịp xuống chiếc ly sứ như đợi thời gian mở cánh cửa diệu kì của mình.
  • Phường Bồ Đề ra mắt mô hình "Không gian văn hoá công đoàn": Kết nối tri thức, lan toả văn hoá đọc
    Chào mừng kỷ niệm 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 – 28/7/2026), vừa qua, Công đoàn phường Bồ Đề phối hợp với Công đoàn Trường THCS Ngọc Thụy và Công đoàn Trường Tiểu học Ái Mộ B tổ chức Lễ ra mắt Mô hình “Không gian văn hóa công đoàn”.
  • Triển khai xây dựng, quảng bá thương hiệu Quốc gia “Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam”
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND TP Huế triển khai Đề án xây dựng, quảng bá thương hiệu Quốc gia "Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam".
  • [Podcast] Canh dải khoai - Đặc sản trứ danh xứ Đoài
    Trải qua thăng trầm thời gian, người Hà Nội vẫn luôn biết gìn giữ những món ăn truyền thống từ công thức gia truyền, đồng thời họ còn nâng niu những giá trị văn hóa được gửi gắm trong từng món ăn, từ cách chọn nguyên liệu, chế biến đến cách thưởng thức. Và canh dải khoai là một món ăn như thế.
  • Kiệt tác opera “La Traviata” của Ý chuẩn bị công chiếu tại Hà Nội
    Trong hai đêm 30 và 31/7/2026, Nhà hát Hồ Gươm, khán giả yêu nghệ thuật hàn lâm tại Hà Nội sẽ được hòa mình vào không gian âm nhạc đỉnh cao với sự xuất hiện của vở opera kinh điển “La Traviata”.
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Từ giai điệu "Hà Nội mùa thu" đến sức sống của một không gian văn hóa cộng đồng
    Trong không gian Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội), chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 26/7 không chỉ mang đến những giai điệu Jazz đặc sắc mà còn mở ra một cách cảm nhận mới về Hà Nội. Điểm nhấn của chương trình là ca khúc “Hà Nội mùa thu” của nhạc sĩ Vũ Thanh đã đưa hình ảnh Thủ đô hiện lên bằng vẻ đẹp tinh tế, giàu chiều sâu văn hóa, qua đó khẳng định vai trò của nghệ thuật trong việc kiến tạo không gian văn hóa cộng đồng và lan tỏa những giá trị bền vững của thành phố.
  • Có một Hà Nội trên những chuyến xe
    Tôi đã đi nhiều chuyến xe trong đời nhưng có lẽ những chuyến xe buýt đối với tôi có nhiều kỉ niệm gắn bó, giống như tôi gắn bó với Hà Nội vậy.
  • Đội CC&CNCH khu vực số 13 tuyên truyền, hướng dẫn kỹ năng PCCC&CNCH tại chung cư 96A, 96B Định Công
    Thực hiện công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và kỹ năng về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC&CNCH) cho người dân sinh sống tại các khu chung cư, ngày 31/7/2026, Đội Cảnh sát chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ khu vực số 13 - Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH, Công an thành phố Hà Nội đã phối hợp với Ban quản lý hai tòa nhà chung cư 96A và 96B Định Công (phường Phương Liệt, thành phố Hà Nội) tổ chức buổi tuyên truyền, phổ biến kiến thức và kỹ năng về PCCC&CNCH.
Cổng làng một mảnh hồn quê gây thương nhớ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO