Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Cổng làng một mảnh hồn quê gây thương nhớ

Phan Anh 19/02/2023 10:25

Cổng làng, xưa kia có chức năng đảm bảo an ninh cho cộng đồng thì bây giờ chủ yếu nghiêng về khía cạnh bảo tồn, lưu giữ các giá trị văn hóa, lịch sử của một thời đã qua. Giờ đây nó được ví von là một mảnh hồn quê gây thương nhớ.

cong-lang-uoc-le-thanh-oai-.jpg
Cổng làng Ước Lễ (Thanh Oai)

Cái mảnh hồn quê gây thương nhớ ấy một thời từng là “biên giới” của bên trong và bên ngoài như lời bài thơ của Phạm Lưu Vũ, từng được nhạc sỹ Trọng Đài phổ nhạc trong bộ phim “Gia phả của đất”: “bên trong là thanh bình/ bên ngoài là thiên hạ”, “bên trong là ký ức/ bên ngoài là tha phương”, “bên ngoài là ra đi/ bên trong là ở lại”… Và, bao đời nay, ở nông thôn Việt Nam, nhất là đồng bằng Bắc Bộ, hình ảnh cổng làng cùng với cây đa, giếng nước, mái đình đã làm thành bộ tứ để hình thành nên hồn cốt của mỗi làng quê. Có thể nói không ngoa, cái cổng làng của mỗi làng quê ấy; dù sang trọng, tôn nghiêm hay giản dị, mộc mạc thì từ trong thực tế cuộc sống vật chất hay tinh thần cũng đã gắn bó, tri kỷ với mỗi thành viên của cộng đồng làng kể từ tuổi ấu thơ cho đến khi phải trở về với cát bụi. Còn với những ai phải tha hương, cái “cổng làng neo ở giữa/ trong, ngoài thế gian” ấy không chỉ hiện lên như một biểu tượng đẹp đẽ đầy tự hào của người xa xứ mỗi khi nhớ về cái nơi chôn nhau cắt rốn mà còn là một bóng hình của cố hương gắn với biết bao nỗi niềm, kỷ niệm chẳng thể nào phôi phai. Cái mảnh hồn quê thương nhớ ấy cứ mãi náu nương, neo đậu trong tâm hồn những kẻ ly hương tựa như “nỗi nhớ chìm trong thớ đá/ ghim vào muôn kiếp cỏ cây”, đằm sâu trong ký ức của biết bao người.

cong-lang-mong-phu-son-tay-.jpg
Cổng làng Mông Phụ (Sơn Tây)

Với người Việt, văn hóa làng là đặc điểm nổi bật. Mỗi làng Việt là một đơn vị tụ cư của những người dân chủ yếu trong cùng địa vực nhất định. Bởi thế cái làng ấy giống như một ngôi nhà chung của một cộng đồng dân cư cùng chung sống với nhau trên cùng một không gian địa lý. Và lẽ dĩ nhiên kiến trúc của ngôi nhà ấy phải có cổng. Chẳng thế, từ xa xưa, dân gian thường nhắc bảo nhau rằng: “nhà có nóc, làng có cổng”. Bao đời nay, thường thường làng nào chẳng có cổng. Làng có điều kiện thì làm nhiều cổng, thường là hai cái, gồm cổng tiền (trước làng) và cổng hậu (sau làng). Cổng trước làng thường hay trổ về hướng Nam, Đông Nam, Đông. Đó là những hướng đón những ngọn gió mát lành, hướng của mặt trời lên. Và lẽ dĩ nhiên, trong cái niềm tin tâm linh ấy của người xưa những hướng đó sẽ đem đến phúc lộc, bình an cho tất cả dân làng. Còn cổng hậu thường được trổ về phía Tây, hướng mặt trời lặn, tượng trưng cho sự khép lại của mọi vật. Bởi thế cổng hậu thường hay được sử dụng làm nơi đưa tiễn những người trong làng đã khuất ra ngoài nghĩa địa. Người xưa quan niệm những điều không may không được đưa ra phía trước làng. Cổng trước làng dùng để cho người trong làng ra ngoài làng đi làm ăn; dùng làm nơi tiễn trai làng ra trận để bảo vệ xứ sở quê hương hoặc dùng để đón những người con ưu tú của làng trở về, kiểu như “vinh quy bái tổ”… Thế đấy, cổng làng hình thành, phát triển cùng với quá trình dựng làng, một thời gắn liền với những niềm tin và khát vọng của cả cộng đồng trong một vai trò công năng chủ yếu là phục vụ việc phòng chống: thủy, hỏa, đạo, tặc. Cũng chính vì thế cổng làng của người Việt rất phong phú về kiểu cách, hình dáng, chất liệu. Tùy từng điều kiện về kinh tế, tự nhiên, thẩm mỹ của mỗi làng mà có những cái cổng làng khác nhau. Về hình dáng kiểu cách, cổng làng có thể làm một tầng với cái gian nhà chỉ có duy nhất một lối vào, ra. Nhưng cũng có cái cổng làng làm rất cầu kỳ theo kiểu hai tầng, tám mái như thể “thượng gia hạ môn” hoặc kiểu “vọng lâu” với nhiều cửa ra vào (có từ ba cửa trở lên) cùng các cột trụ trang trí tứ linh rất đẹp … Về chất liệu, cổng làng có cái làm bằng đá, có cái làm bằng gạch nung, có cái làm bằng gạch đá ong … Tất cả, theo năm tháng cùng với những nắng mưa, cùng với những thăng trầm của lịch sử, cổng làng có cái còn khá nguyên vẹn, thâm trầm cùng những rêu phong. Nhưng cũng có làng không còn giữ được cái cổng cổ xưa của cha ông tạo dựng. Và cũng có cổng làng song tồn cùng sự xâm thực của thế giới thảo mộc tạo thành những “kỳ quan” khiến người qua không khỏi mê mẩn. Nhưng dù có khác nhau thế nào đi nữa thì mỗi cái cổng làng còn lại đến ngày nay đều rất gần gũi, thân yêu, dễ mến và gây thương nhớ với tất cả mọi người.

cong-lang-phuong-vien-hoai-duc-.jpg
Cổng làng Viên Phương (Hoài Đức)

Tuổi thơ tôi và của tất cả những ai sinh ra, lớn lên từ làng quê, hẳn đều mang trong mình biết bao kỷ niệm với những sân đình, giếng nước, gốc đa, mái chùa. Và tất nhiên có cả hình ảnh cái cổng làng của cả đôi quê nội, ngoại. Sau này lớn lên được đi nhiều nơi, đến nhiều làng, tôi càng thích thú và mê mẩn với những cổng làng của những vùng quê khác, nhất là vùng đất cổ xứ Đoài. Với tôi mỗi cái cổng làng như một câu chuyện kể sống động làm hiện lên trong trí tưởng tượng những cảm xúc đầy lý thú. Có cổng làng giản dị, mộc mạc tựa như cổng làng Mông Phụ (Sơn Tây). Nó không bề thế, cao to, uy nghi, tôn nghiêm giống như kiến trúc đình, miếu với rồng chầu, nghê trực mà chỉ đơn giản với gian nhà xây bằng tường gạch đá ong, tọa dưới tán đa cổ thụ rợp bóng, xanh mát quanh năm như để làm chỗ ngồi hóng mát cho người già, con trẻ trong mỗi buổi chiều hôm. Tuy vậy cổng ấy cũng có tuổi đời quãng chừng ngót năm trăm năm; ngày ngày âm thầm thực hiện cái việc: “Cổng làng mở rộng. Ồn ào/ Nông phu lững thững đi vào nắng mai” hay “Cổng làng vài chị gái non/ Dừng chân uể oải chờ cơn gió nồm” (Bàng Bá Lân). Cổng làng và cây đa ấy đã từng như che chở, âu yếm cho biết bao sinh linh của làng nhưng đồng thời cũng là một chứng nhân của biết bao kiếp người với những buồn vui, vất vả. Có cái cổng làng bề thế, uy nghiêm, đẹp đẽ, cầu kỳ như thể cổng làng Ước Lễ (Thanh Oai). Cổng làng Ước Lễ có cấu trúc và trang trí theo kiểu cách của kinh thành Huế với cầu cong, tường cao, hào sâu và mái cổng làm rất cầu kỳ với hai tầng, mỗi tầng có bốn mái tựa như kiểu mái đình, mái chùa; nóc mái trên cùng có đắp lưỡng long chầu nguyệt, tám góc mái có các đầu đao cong vút tỏa ra bốn bề không gian rất duyên dáng cùng những hình ảnh của rồng, cá chép, dơi bay được đắp nổi trên bề mặt cổng như thể ký thác, gửi gắm bao khát vọng, ước mơ ngàn đời của dân làng về học hành, bình an, phồn thịnh. Và cũng có những cái cổng làng rất đẹp mang dấu ấn của sự giao lưu văn hóa của các tộc người Chăm, Việt cách đây khoảng bảy trăm năm nhưng đã “hết duyên”. Nay cứ âm thầm, lặng lẽ thi gan cùng tuế nguyệt, mặc cho cỏ cây xâm thực trên thân xác phôi pha như thể cổng làng Phương Viên (Hoài Đức) nằm bên bờ đê tả Đáy. Toàn cổng là một khối đặc, xây bằng gạch, theo kiểu hình tháp giật cấp nhìn rất bề thế, vững chắc, khỏe khoắn. Cổng có ba cửa tò vò, trên có nhiều mái hình ống, uốn cong nhìn rất uyển chuyển. Cổng làng ấy vẫn còn đó nhưng “qua đường không ai hay” (Vũ Đình Liên) lâu dần trở thành phế tích chơ vơ bên bờ đê. Duyên phận hẩm hưu của cái cổng làng ấy cũng giống như số phận ăm ắp nỗi buồn của những người thợ Chăm phải ly hương theo nhà Trần khi bị bắt làm tù binh đưa về đất Bắc. Phải chăng cái bóng dáng lẻ loi, lặng lẽ, âm thầm có phần như nhẫn nại của tòa cổng ấy cũng đang phong kín biết bao tâm sự của người thợ xưa đã từng ký thác, gửi gắm những nỗi niềm nhung nhớ cố hương vào từng tầng tháp cổ nơi đất khách quê người trong nghìn trùng xa cách, giữa mênh mông biển sầu. Có cổng làng cùng cây cổ thụ nâng đỡ, nương tựa bên nhau để cùng tồn tại và vô tình để lại cho đờ những kiệt tác tựa “kỳ quan” như thể cổng làng Yên Cốc (Chương Mỹ). Ngay cả những người cao tuổi trong làng ở đây cũng chẳng biết cây đa và cái cổng có từ bao giờ. Họ chỉ biết rằng khi sinh ra thì đã thấy cây đa ôm lấy cổng làng rồi. Rễ đa buông xuống ôm chặt lấy cổng làng, giữ cho cổng làng không bị gục đổ bởi mưa nắng của thời gian. Trái lại cổng làng như đang gồng mình nâng đỡ thân đa cho khỏi bị mưa giật bão rung, trường tồn qua năm tháng. Người ta bảo thần linh ở cây đa đã che chở cho dân làng yên thân vượt qua thời chiến tranh với bao bom rơi đạn lạc. Giờ đây cái cổng ấy không chỉ là linh hồn của dân làng mà còn là một “kỳ quan” trong mắt khách thập phương.

cong-lang-yen-coc-chuong-my-.jpg
Cổng làng Yên Cốc (Chương Mỹ)

Mỗi cái cổng làng của người xưa còn lại đến ngày nay không chỉ là niềm tự hào hãnh diện, lưu dấu tài hoa của cha ông một thủa mà còn là hồn thiêng của mỗi làng quê. Nó đã gắn bó với biết bao kiếp người qua các thế hệ. Cái cổng làng ấy đã có một thời làm nơi đầu làng chờ cha, cuối làng đón mẹ của bao tuổi thơ. Và giờ đây, bên lũy tre xanh hay dưới gốc đa già, cái cổng làng trầm mặc, rêu phong, thân thương ấy hàng ngày vẫn đang dõi theo vòng quay: sinh - trưởng - tụ - về của biết bao con người như những ngày xưa. Trong mê mải của những nghĩ suy về cổng làng, ngắm nhìn hình hài của những chiếc cổng trường tồn qua năm tháng với bao khắc nghiệt của nắng mưa gió bão, của dâu bể trần ai sao ta thấy nó hiện lên sao mà vẫn gần gũi và thân thương quá đỗi. Cổng làng cứ thế nhẫn nại, bám trụ theo thời gian. Đôi khi cứ tưởng chừng nó rất vô tri, vô giác nhưng dường như nó đang âm thầm mang trên mình cái sứ mệnh đại sứ của thời gian; kết nối quá khứ với hiện tại và tương lai bằng những âm vang của ngôn ngữ kiến trúc, ngôn ngữ tạo hình và bằng cả những nét rêu phong, nham nhở, lở lói trên thân thể có vẻ như đã già nua... Có lẽ thế nên có cũng không ít cổng làng vẫn bình yên, vững vàng, trước bao biến cố thăng trầm cùng những bão táp phong ba trong suốt dặm dài của lịch sử dựng nước và giữ nước.

Cái cổng làng một thủa yêu thương của biết bao người ấy là cả một bầu trời kỷ niệm với không ít người xa xứ. Đã có biết bao người mưu sinh khắp bốn bể chân trời nhưng mỗi khi có dịp về làng, bước thấp bước cao, khấp kha khấp khểnh chỉ muốn nhanh chóng được trông thấy cái cổng làng. Và rồi đến khi đối diện với nó trong lòng không khỏi dưng dưng, trào dâng những xúc cảm, hoài niệm của một thời niên thiếu với biết bao trò ngịch ngợm ở quanh cái cổng làng ngày xưa. Còn nữa, với những người chưa có điều kiện trở lại với quê hương thì cổng làng trong họ là cả bầu trời thương nhớ; cả một miền ký ức trong những câu chuyện kể với những người thân mỗi khi lòng sắt se nhớ về quê cũ. Và có lẽ mỗi lần như vậy cố hương trong họ lại hiện về trong những nỗi nhớ tha hương cứ đau đáu, day dứt, khắc khoải, da diết đến lạ … Những câu chuyện như thế với người thân đã nghe rồi, nghe mãi như thể “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” nhưng với họ thì vẫn tinh khôi như mới nói lần đầu. Họ cứ say sưa kể, ngất ngây như không hề thấy cũ, không hề tẻ nhạt, buồn chán.

Sức sống và tình yêu với cổng làng tưởng như vô hình thế ấy nhưng thực ra rất mãnh liệt và bền chặt. Nó tựa như sợi dây quấn chặt người quê với cái nơi sinh ra và lớn lên trong suốt hành trình đi trên mặt đất. Chẳng biết có phải vì vậy mà cổng làng từ lâu đã trở thành một hình tượng thẩm mỹ của rất nhiều loại hình nghệ thuật: văn học, âm nhạc, điện ảnh và đặc biệt là hội họa. Cổng làng trong những tác phẩm nghệ thuật ấy, nếu để ý kỹ, ta cũng sẽ thấy mỗi khi xuất hiện hiếm khi phải đứng một mình. Cổng làng nếu không song hành với bóng đa, cây cầu, người dắt trâu về thì cũng là lũy tre, cây gạo, dòng mương … Tất cả những hình ảnh thân quen của chốn dân dã ấy dễ đập vào mắt ta như chạm vào cái huyệt đạo thần kinh nhạy cảm nhất, tái hiện trong lòng người xem một cách khá sinh động cái không gian văn hóa của làng cùng nhịp sống chậm chạp hay hối hả của những miền quê trong một lát cắt diệu kỳ, làm vơi đi chút nỗi nhớ nhà đối với kẻ tha phương; làm sống lại những kỷ niệm của một thời đã xa với không phải chỉ riêng của một người. Chẳng biết có phải vậy mà có không ít người xa quê, không có điều kiện trở lại quê nhà đã phải gọi điện cho người thân nhờ chụp ảnh và gửi cho mình cái cổng làng của một thời thương nhớ. Hoặc có kẻ may mắn được trở lại quê hương thì không khỏi lưu lại dáng hình của mình bên chiếc cổng làng và cất giữ tấm ảnh như một báu vật của đời.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Phan Anh. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.

Bài liên quan
  • Hà Nội bốn mùa yêu thương
    Hà Nội, trái tim thân yêu của cả nước, là linh hồn của dân tộc Việt từ ngàn xưa. Nơi có con sông Hồng chảy vào đất Việt. Nơi có bốn mùa đều ghi dấu tình yêu của em dành cho Hà Nội và anh, vĩnh viễn không đổi thay.
(0) Bình luận
  • Gánh hoa bưởi qua phố
    Chỉ một khoảnh khắc lơ đãng, giữa ồn ào xe cộ của thủ đô, tôi đã chạm vào một khung hình như bước ra từ điện ảnh. Trong nắng ban mai, một gánh hàng hoa đầy ắp hoa bưởi trắng tinh, toả hương thanh tao, chầm chậm xuất hiện giữa góc phố rêu phong, mềm mại như những nét màu nước vừa chạm cọ. Bức tranh ấy khiến một người từng muốn vào Nam lập nghiệp khi ra trường, đã đi chu du khắp mọi nơi như tôi cảm thấy xao xuyến. Tôi nhớ mình đã từng ở Singapore, từng lang thang trong đêm ở Seoul và những lúc quậy phá tưng bừng ở khu phố đêm Bùi Viện tại Sài Gòn, đều cảm thấy ngơ ngác và lạc lõng giữa thành phố náo nhiệt và dường như không bao giờ ngủ ấy.
  • Bánh cuốn, nhịp thở chậm của phố phường
    Mùa hè đến, Hà Nội khoác lên mình vẻ dịu dàng hiếm có. Trời xanh trong, nắng dịu như mật, gió từ hồ Tây thổi qua mái tóc mang theo mùi nước và sương sớm. Không ồn ào, không vội vã, nhịp sống như được đặt về nhịp thở tự nhiên nhất. Từ Trung Quốc, tôi đặt vé máy bay quay trở về thủ đô để tận hưởng những cuộc dạo chơi kết hợp “food tour” đầy thi vị.
  • Mùa hoa ban ở Hà Nội
    Có những thành phố, khi vào xuân bỗng trở nên dịu dàng như một thước phim quay chậm đầy mênh mang. Và Hà Nội là một nơi như thế. Mùa xuân ở Hà Nội không quá ồn ào, phô trương nhưng lại toát lên một vẻ đẹp rất điện ảnh với nắng nhẹ ấm áp trải xuống những đại lộ thẳng tắp, cánh hoa ban trắng khẽ rơi trong gió. Tôi vốn thích hoa ban, luôn có cảm tưởng sắc trắng tinh khôi của loài hoa này dẫu đơn thuần nhưng lại nổi bật trên nền trời xanh nhạt hoà phối cùng sắc xanh non của liễu rủ bên hồ Gươm. Bản thân cứ thế chậm rãi đi dạo dưới ánh nắng dịu dàng trải dài trên mặt nước Hồ Gươm. Trong khoảnh khắc giơ máy ảnh lên, bản thân khẽ khàng nhận ra: hóa ra cảnh sắc như bức hoạ không chỉ tồn tại trong thơ cổ, mà đang hiện hữu ngay trước mắt mình.
  • Dáng hình lịch sử giữa nhịp sống
    Phố Pháo đài Láng thuộc phường Láng, quận Đống Đa, Hà Nội. Giữa nhịp sống ngày càng hiện đại của Thủ đô, nơi đây vẫn giữ cho mình một vẻ riêng rất khó lẫn — vừa mang dáng dấp lịch sử, vừa chan chứa hơi thở đời thường của một vùng đất giàu truyền thống văn hóa.
  • Hà Nội trong miền nhớ tuổi hai mươi
    Có những miền đất, người ta đi qua chỉ một lần nhưng nhớ suốt cả đời. Với tôi, Hà Nội là một nơi như thế. Không phải bởi vẻ đẹp nổi tiếng của hồ Gươm hay ba mươi sáu phố phường, cũng không hẳn vì những điều quá lớn lao, mà bởi một mùa đông rất cũ, rất nhẹ và rất sâu trong ký ức của anh sinh viên năm nào lần đầu ra Bắc vào mùa đông năm 2007.
  • Nơi giao thoa giữa quá khứ và hiện tại
    Tôi may mắn có bảy năm công tác tại một cơ quan có trụ sở làm việc cạnh quốc lộ số 5, gần ngã tư Phú Thụy. Tôi biết ơn đất và người Dương Xá, ở đây tôi đã thành công và thăng tiến. Hàng năm cứ vào khoảng trung tuần tháng Hai âm lịch tôi lại được chiêm ngưỡng rồi hòa mình vào không gian lễ hội đẹp, phấn khởi, tươi vui xen lẫn niềm tự hào của người dân tại khu đền Nguyên Phi Ỷ Lan.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Tản văn: Về nghe tiếng lá rơi thềm
    Đã lâu rồi tôi không được thảnh thơi nằm đu đưa trên chiếc võng bên thềm nhà, nghe tiếng gió la đà vòm hoa khế tím. Những bông hoa khế li ti cứ hễ có cơn gió đi qua là rụng xuống, rải đầy trên bậc tam cấp đã xanh màu rêu.
  • Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba
    Sáng ngày 24/6/2026, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (66 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội) đã diễn ra Lễ kỷ niệm 60 năm thành lập Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (24/6/1966 - 24/6/2026) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba.
  • Chiều hạ vàng
    Nhắc đến sắc vàng, dễ thường người ta lại nghĩ đến mùa thu, mùa của làn gió heo may với những nắng vàng, lá vàng... đã trở thành những ước lệ kinh điển như thể “con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô” (Lưu Trọng Lư), “Ô! hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông” (Bích Khê)…
  • Gánh hoa bưởi qua phố
    Chỉ một khoảnh khắc lơ đãng, giữa ồn ào xe cộ của thủ đô, tôi đã chạm vào một khung hình như bước ra từ điện ảnh. Trong nắng ban mai, một gánh hàng hoa đầy ắp hoa bưởi trắng tinh, toả hương thanh tao, chầm chậm xuất hiện giữa góc phố rêu phong, mềm mại như những nét màu nước vừa chạm cọ. Bức tranh ấy khiến một người từng muốn vào Nam lập nghiệp khi ra trường, đã đi chu du khắp mọi nơi như tôi cảm thấy xao xuyến. Tôi nhớ mình đã từng ở Singapore, từng lang thang trong đêm ở Seoul và những lúc quậy phá tưng bừng ở khu phố đêm Bùi Viện tại Sài Gòn, đều cảm thấy ngơ ngác và lạc lõng giữa thành phố náo nhiệt và dường như không bao giờ ngủ ấy.
  • Trung tâm Hà Nội đón thêm dự án hiếm hoi với 3 mặt hồ, 4 mặt đường, cạnh Metro
    Nguồn cung thấp tầng nội đô Hà Nội ngày càng khan hiếm, đặc biệt các dự án nhà phố thương mại mặt hồ lại càng ít xuất hiện trên thị trường. Lợi thế cảnh quan, khả năng đầu tư, khai thác kinh doanh tối ưu và nguồn cung hữu hạn giúp phân khúc này luôn duy trì sức hút đối với nhà đầu tư.
Đừng bỏ lỡ
  • Triển lãm đa giác quan “Giao thời”: Kết nối di sản với công nghệ
    Từ ngày 24/6 đến 31/7/2026, tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam diễn ra triển lãm đa giác quan “Giao thời”. Sự kiện do Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam phối hợp với VietArt, LumiPark và LumiTech tổ chức.
  • Chiếu miễn phí bộ phim tài liệu “Đất tổ quê cha” nhân Ngày Gia đình Việt Nam
    Buổi chiếu phim sẽ chính thức diễn ra vào lúc 15h00, Chủ nhật ngày 28/06/2026 tại Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương, số 465 Hoàng Hoa Thám, Ngọc Hà, Hà Nội.
  • Hấp dẫn chuỗi hoạt động tại Lễ hội Sen Hà Nội 2026
    Diễn ra từ ngày 26 đến 28/6 tại nhiều không gian văn hóa quanh hồ Tây, Lễ hội Sen Hà Nội năm 2026 được tổ chức với nhiều hoạt động đặc sắc nhằm tôn vinh vẻ đẹp của hoa sen trong đời sống văn hóa Việt, quảng bá giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội. Đồng thời sự kiện giới thiệu những sản phẩm du lịch, văn hóa và sáng tạo gắn với sen tới người dân, du khách trong nước và quốc tế.
  • Ngày văn hóa Việt Nam tại Hà Nội năm 2026: Tôn vinh di sản, khơi nguồn sáng tạo Thủ đô
    “Ngày văn hóa Việt Nam tại Hà Nội” năm 2026 diễn ra từ ngày 21 đến 24/11/2026 tại khu vực hồ Hoàn Kiếm nhằm tôn vinh, quảng bá các giá trị di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội. Lễ khai mạc được tổ chức hoành tráng với quy mô gần 4.000 người tham gia diễu hành hành trình qua 3 chương nghệ thuật đặc sắc. Xuyên suốt bốn ngày hội, công chúng sẽ được hòa mình vào không gian nghệ thuật đa sắc màu tại ba sân khấu phụ và mãn nhãn với màn trình diễn ánh sáng công nghệ 3D mapping tại Tháp Rùa. Bên cạnh đó, hệ thống triển lãm ứng dụng công nghệ thực tế ảo cùng các khu vực ẩm thực, mua sắm...
  • Màu thời gian
    Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu tới quý độc giả bài thơ Màu thời gian của tác giả Nguyễn Đình Xuân.
  • Nhà hát Hồ Gươm đón dàn nghệ sĩ quốc tế danh tiếng trong đêm nhạc "Frozen Fire"
    Vào tối ngày 26/6, tại Nhà hát Hồ Gươm sẽ diễn ra chương trình hòa nhạc đặc biệt mang tên "Frozen Fire". Đêm diễn quy tụ những tên tuổi nghệ sĩ quốc tế danh tiếng, nổi bật là nhạc trưởng người Phần Lan Kalle Kuusava cùng nữ nghệ sĩ violin tài năng Sara Dragan đến từ Ba Lan, kết hợp với các nghệ sĩ tài hoa của Dàn nhạc Giao hưởng Hà Nội (Hanoi Philharmonic Orchestra). Đây là cơ hội hiếm có để công chúng yêu nhạc cổ điển Thủ đô trực tiếp thưởng lãm những kiệt tác giao hưởng kinh điển của châu Âu cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX ngay trên sân khấu hiện đại bậc nhất Việt Nam.
  • Hà Nội ban hành Quy chế làm việc của Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô
    Ban Chỉ đạo về phát triển văn hóa Thủ đô Hà Nội vừa chính thức ban hành Quy chế làm việc, tạo cơ sở để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều phối và giám sát việc triển khai các chủ trương, nhiệm vụ phát triển văn hóa trên địa bàn Thành phố; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng và phát triển văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Xã Hồng Vân phổ biến Luật Thủ đô năm 2026 tới cán bộ, Nhân dân
    Nhằm lan tỏa các nội dung của Luật Thủ đô năm 2026, UBND xã Hồng Vân (TP Hà Nội) đã tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến, tập huấn và bồi dưỡng Luật Thủ đô năm 2026 và các văn bản hướng dẫn thi hành tới các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động các cơ quan, đơn vị, đại diện các thôn, tổ dân phố trên địa bàn xã.
  • Nhìn lại một thời của Hội Họa sĩ trẻ Sài Gòn
    Ngày 20/6, tại Hà Nội đã diễn ra tọa đàm nghệ thuật “Hội Họa sĩ trẻ Sài Gòn trước năm 1975: Một thời nhớ lại” do A&V Foundation tổ chức. Thông qua những chia sẻ của họa sĩ Trịnh Cung cùng phần trao đổi với nhà nghiên cứu, phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng và các khách mời, tọa đàm đã góp phần nhận diện rõ hơn quá trình hình thành, phát triển của Hội Họa sĩ trẻ Sài Gòn cũng như những giá trị nghệ thuật mà thế hệ họa sĩ này để lại cho mỹ thuật Việt Nam.
  • Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt
    Chiều 20/6/2026, NXB Kim Đồng phối hợp cùng Học viện đào tạo Truyện tranh Comicola Academy và Cộng đồng họa sĩ truyện tranh Việt Nam PunkgaMe tổ chức tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt” và workshop “Quy trình chuyển thể tác phẩm văn học sang truyện tranh”. Tham dự sự kiện có đông đảo biên tập viên, họa sĩ chuyên nghiệp, các bạn trẻ đam mê sáng tác truyện tranh và độc giả yêu thích truyện tranh.
Cổng làng một mảnh hồn quê gây thương nhớ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO