Văn hóa – Di sản

Cao Huy Diệu – văn nhân ưu thời mẫn thế

Phạm Văn Hưng • 22/11/2023 17:25

Chúng ta vốn đã quá quen thuộc với quan niệm của người xưa về mối quan hệ hai chiều giữa “địa linh” và “nhân kiệt”, trong đó yếu tố “địa linh” quyết định “nhân kiệt” và yếu tố “nhân kiệt” lại tác động làm nên “địa linh” như một chuỗi nhân quả bất tận. Thăng Long - Hà Nội vốn được xác định từ sớm với đặc trưng địa linh của mình và cũng sớm hình thành nên các làng, các vùng với những dòng họ nối đời khoa bảng. Vùng đất Phú Thị thuộc huyện Gia Lâm (Hà Nội) là một không gian địa lí như thế và dòng họ Cao ở đất này là một dòng họ như thế. Trong cả hai trục tọa độ không gian, thời gian ấy, danh nhân Cao Huy Diệu (Thế kỷ XVIII-XIX) - danh thần dưới triều Gia Long (1762 - 1820) - là một trong những con người tiêu biểu cho dòng họ Cao, cho quê hương Phú Thị và cho Thăng Long - Hà Nội nghìn năm văn hiến.

song-thien-duc.jpg
Sông Thiên Đức.

Đất Phú Thị có con sông Thiên Đức chảy qua giáp lũy tre sau làng và phía trước mặt có núi Thọ Chương do chúa Trịnh đặt tên. Nơi sơn kì thủy tú ấy đã sinh ra nhiều danh nhân cho Thăng Long và cho đất nước. Chính miền quê này là nơi nuôi dưỡng tâm hồn Cao Huy Diệu. Tương truyền, ông là người nổi tiếng về tài năng văn chương từ rất sớm, người đương thời coi là bậc anh tuấn thông minh dĩnh ngộ hiếm có. Khi còn dùi mài kinh sử với các thầy tại trường, lúc làm bài hạch, ông thường được chấm hạng ưu. Đó là một hai nét điểm xuyết về mặt tiểu sử mà các nho sĩ đều khao khát có nhưng không mấy người đạt được. Dễ hiểu vì từ khi còn rất trẻ ông đã thuộc vào số ít những người danh tiếng lừng lẫy khắp Bắc Thành. “Hữu xạ tự nhiên hương”, những danh sĩ đương thời như Cao Khắc Kỉ và Lê Hồng Hân... cũng tìm đến cùng ông kết giao, lấy văn chương làm phương tiện thù đáp và tỏ ra mến phục cả nhân cách và tài năng Cao Huy Diệu. Có lẽ tên hiệu “Vô Song” của ông một phần bắt nguồn từ sự đánh giá của người khác về ông và một phần từ sự tự ý thức của ông - một nhà Nho sống vào nửa sau của thế kỉ XVIII và nửa đầu của thế kỉ XIX - về bản thân mình. Giống như nhiều nhân vật thời trước, ông có nhiều tên hiệu, bên cạnh Vô Song là tên hiệu Hồng Quế Hiên (trong đó chữ “Hiên” thường được dùng trong tên hiệu của họ Cao Phú Thị như Ngọ Hiên, Mẫn Hiên, Bái Hiên...); tên tự của ông là Cửu Chiếu. Có tài liệu nói ông là người cùng họ với Cao Bá Quát một cách chung chung, có tài liệu lại chỉ đích danh ông là nội tổ của Cao Bá Quát - một trong những nhà thơ lớn của lịch sử văn học Việt Nam trung đại và là một trong những thủ lĩnh của khởi nghĩa Mĩ Lương sau này dưới triều Tự Đức.

Cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào cho biết thông tin chính xác về năm sinh và năm mất của ông nhưng biết chắc Cao Huy Diệu đã có vào Phú Xuân một thời gian ngắn và không rõ ông đã nhận chức quan gì dưới triều Tây Sơn hay chưa. Từ những cứ liệu ít ỏi còn lại, có thể thấy Hồng Quế Hiên không phải là người có thể “dữ thế cộng phù trầm” như một số “thượng lưu nhân vật” và có lẽ trong con đường mà ông vạch ra cho mình (dưới thời loạn, nó tất yếu phải có nhiều ngã rẽ) thì có thể Tây Sơn cũng là một hướng đi mà ông đã từng tính đến hoặc có đi theo một thời gian. Khi nhà Tây Sơn sụp đổ, nhà Nguyễn lên thay, ông đi thi và đỗ đầu kì thi Hương tại trường thi Kinh Bắc vào năm Gia Long thứ 6 (1807) đời vua Nguyễn Thế Tổ. Sau khi đỗ cử nhân, ông giữ chức Tư nghiệp ở Quốc Tử Giám, Đốc học Thăng Long rồi thăng đến Thượng thư. Từ năm Quý Dậu (1813), ông làm Tri phủ Quốc Oai rồi làm Thị lang Bộ Lại, ít lâu sau đổi làm Đốc học trấn Hà Tiên và theo một số tài liệu thì khi vào Hà Tiên ông đã mở trường Gia Định để thu nhận học trò. Nếu như đồng ý với ước đoán rằng ông mất vào khoảng cuối đời Gia Long thì ông chính là một trong những “bạn đương thời của Nguyễn Du” theo cả nghĩa lịch đại và sự phân loại các tác gia thời trung đại theo những cảm hứng mà họ theo đuổi.

Trong sự nghiệp của Cao Huy Diệu, trừ những thông tin còn chưa có được sự kiểm chứng, chúng ta thấy hiện lên ở ông hình ảnh của một vị quan - nhà giáo rõ nét hơn cả dù cho các chức vụ mà ông đảm nhiệm khá đa dạng, vừa là học quan vừa là đường quan. Có lẽ chính điều đó đã phản ánh vào sáng tác của ông. Cao Huy Diệu có Hồng Quế Hiên thi tập, Phương Am Nguyễn tiên sinh truyện, ngoài ra còn tham gia biên soạn sách Luận biện tán tụng ca châm văn tập... Tác phẩm của ông được in trong Cấn Trai thi tập, Di Trạch đường phả kí, Đại Nam anh nhã tiền biên, Đại Việt giải nguyên, Đối liên thi văn tập... Nếu như coi “văn chương, đó chính là phong cách” và “cổ nhân bất đắc kiến - kiến thi như kiến nhân” thì sẽ thấy Cao Huy Diệu “phần nhiều viết về cảnh thiên nhiên và sinh hoạt nông thôn, cảnh trí mộc mạc giản dị, lời thơ trong sáng, nhiều hình ảnh. Đọc thơ ông ta thấy ông là một người nhân hậu, không sôi nổi nhưng lạc quan yêu đời” như nhận xét của soạn giả Tổng tập văn học Việt Nam (Tập VIII, Tái bản, 2000). Đó là cái nhìn trìu mến đầy ân tình của ông với khung cảnh làm ăn của làng gốm Bát Tràng:

Khinh chu ngọ bạc đại hà bàng,

Bàng thị ngô giao bạch thổ phường.

Thiển thiển ngạn biên tân dựng thổ,

Thâm thâm châu diện thủy sinh tang.

Võng lai yếu kính phồn hoa địa,

Công cổ sinh nhai phú quí hương.

Dục vấn chu đầu ngâm diểu giả,

Dã phi công cán dã phi thương.

(Bát Tràng ngọ bạc)

Ngô Linh Ngọc dịch thơ:

Thuyền nhẹ trưa về neo bến Nhị,

Cạnh thuyền đất trắng gốm quê hương.

Đất vừa bồi tới nông choèn bãi,

Dâu mới trồng thêm xanh ngút nương.

Mấy ngõ vãng lai đường tiện lợi,

Một vùng giàu có nghiệp công thương.

Đầu thuyền ngâm ngợi rằng ai đó,

Chẳng phải nhà quan chẳng khách buôn!

(Buổi trưa đậu thuyền ở Bát Tràng)

Qua con mắt nhà thơ, cảnh vật hiện lên sinh động và ấm áp. Điều đó có được là do quan niệm ôn nhu đôn hậu của nhà nho đã chi phối việc thể hiện cuộc sống quanh mình. Bên cạnh đó, Cao Huy Diệu cũng rung động và chia sẻ với nỗi vất vả của người dân trong suốt chục năm từ Bính Ngọ tới Bính Thìn phải chịu cảnh loạn lạc, phiêu bạt, đói kém và luôn mơ ước “có được chiếc chăn rộng để đắp cho tất cả mọi người trong thiên hạ” (Trung thu dạ vũ). Đó thực sự là tấm lòng của nhà Nho nhập thế một cách tích cực, tự ý thức được trách nhiệm đạo giác tư dân và luôn thường trực trong mình một nỗi niềm “tiên ưu” canh cánh!

Cũng như bao người dân Việt Nam, ở con người và thơ văn của Cao Huy Diệu luôn có một tâm thức hướng về cội nguồn, hướng về những chiến công của cha ông, xem đó là những điều đáng tự hào và là điểm tựa cho hiện tại. Bài Yết Phù Đổng tối linh từ cung kí đã nói lên điều đó. Trên thực tế, cảm hứng về lịch sử trong bài thơ: “Đền Xung Thiên lẫy lừng/ Chùa Kiến Sơ rạng rỡ/ Gươm, ngựa vút trời cao/ Tiếng thơm lưu sử cũ..” của ông cũng nằm trong sự thống nhất với những rung động trước vẻ “núi xuân tươi đẹp”: “Núi non dằng dặc uốn La thành/ Trời xuân trăm sắc thủy tươi xinh” và rung động trước những điều tưởng như bình dị: “Trẻ xóm qua cầu leo dốc núi/ Đường về chầm chậm bóng chiều rơi/ Roi tre in ngược lòng mây thẳm/ Nghé bướng nhờn nghe tiếng mõ lười...” Và như một qui luật muôn thuở, với rất nhiều nhà nho, những lúc cần tĩnh lặng thân - tâm, nhà Nho Cao Huy Diệu lại tìm đến cửa Thiền để chiêm nghiệm về lẽ tỉnh thức giữa cõi đời: “Thế giới dưới chân cờ nửa cuộc/ Cười ai bể trọc chửa nhìn ra” (Tiền đăng Tiêu Sơn tự) nhưng những khoảnh khắc đó không quá nhiều. Điều khiến ông bận lòng, lao tâm khổ tứ vẫn là làm sao có được cuộc sống an bình:

Một mai đời giống thuở Đường Ngu,

Đều đều cữ gió đúng tuần mưa.

Triều đình trong sáng, nước bình trị,

Làng xóm âu ca, dân ấm no.

(Trung thu dạ vũ)

Đối với Cao Huy Diệu, nỗi niềm canh cánh trong ông trước sau vẫn là lí tưởng chính trị xã hội “vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn” mà nhà Nho muôn đời hằng theo đuổi, theo đuổi một cách nhiệt thành.

Cuộc đời Cao Huy Diệu có một quãng khá dài đảm trách cương vị học quan. Chính tích của ông không quá nhiều, sự nghiệp của ông cũng chưa đủ để xếp ông vào nhóm những nhà sư phạm tiêu biểu nhất trong lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, ở những góc độ khác nhau, đặc biệt là qua thơ văn (nếu ta coi văn thơ của nhà nho là phương tiện để họ trình hiện bản thân, trong đó có cả mục đích “tải đạo”) sẽ thấy ở Vô Song Cao Huy Diệu một cái nhìn đôn hậu với cuộc đời, với cảnh vật. Ở ông, có những phẩm chất mà nếu phát triển lên sẽ in bóng trong hai hậu duệ là Cao Bá Quát và Cao Bá Đạt ở sự tinh tế, nhạy cảm, thương cảm cho thân phận con người. Chỉ có thể như thế bởi vì họ là những anh hoa của dòng họ Cao đất Phú Thị và cũng là anh hoa của đất kinh kì văn hiến./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Nguyễn Hiền – trạng nguyên thần đồng
    Nguyễn Hiền sinh ngày 12 tháng 7 năm Ất Mùi (1235), quê ở làng Vương Miện, huyện Thượng Hiền (sau đổi là Thượng Nguyên, phủ Thiên Trường, lộ Sơn Nam), nay là thôn Dương A, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
(0) Bình luận
  • Đình Tường Phiêu- từ di sản độc đáo đến câu chuyện phát huy giá trị
    Tại Di tích quốc gia đặc biệt đình Tường Phiêu (xã Phúc Thọ, TP Hà Nội), bài toán phát triển kinh tế di sản gắn với bảo tồn, lan tỏa giá trị văn hóa, lịch sử đang có những chuyển biến tích cực. Chính quyền địa phương đang gắn kết các giá trị độc nhất vô nhị tại đình Tường Phiêu với làng nghề hoa cây cảnh truyền thống, giáo dục di sản ở địa phương để chung sức phát triển du lịch văn hóa Hà Nội.
  • Hà Nội sẵn sàng cho Festival làng nghề toàn cầu lần thứ nhất
    UBND Thành phố Hà Nội vừa có chỉ đạo tổ chức Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất, năm 2026, diễn ra từ giữa tháng 11/2026 tại Hoàng thành Thăng Long. Sự kiện quy tụ khoảng 200 đại biểu, nghệ nhân quốc tế với nhiều hoạt động trọng tâm như Lễ Khai mạc, Hội nghị xúc tiến đầu tư, Hội thi sản phẩm thủ công Châu Á – Thái Bình Dương và các tour trải nghiệm làng nghề.
  • Hà Nội xếp hạng 43 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp thành phố
    Nhằm bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử lâu đời của Thủ đô, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ký ban hành Quyết định chính thức xếp hạng di tích cấp thành phố đối với 43 di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc nghệ thuật và danh lam thắng cảnh trên địa bàn.
  • Lễ hội Đả Ngư 2026 - nét đẹp văn hóa đặc trưng của người Hà Nội
    Sáng 24/10, Ban tổ chức lễ hội đền Và (phường Sơn Tây, TP Hà Nội) long trọng tổ chức Lễ hội Đả Ngư rằm tháng 9 năm Bính Ngọ 2026 (tức ngày 15 tháng 9 âm lịch). Trước đó, chiều ngày 23/10, nhà đền đã làm lễ Phong triều.
  • Lễ hội Đả Ngư đền Và năm 2026: Hướng về nguồn cội, quảng bá các giá trị lịch sử, văn hóa Hà Nội
    Cụ thể hóa Chương trình hành động số 08-Ctr/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống, UBND phường Sơn Tây (TP Hà Nội) cho biết, đang tích cực triển khai các công tác chuẩn bị, sẵn sàng tổ chức Lễ hội Đả Ngư đền Và - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  • Cỗ gà lão làng Triều Đông
    Triều Đông là một trong năm làng của xã Tân Minh, huyện Thường Tín (nay thuộc xã Thượng Phúc, Thành phố Hà Nội), thờ ba vị thần Việt Hồng, Việt Tuấn và Việt Chân.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Mỹ thuật ứng dụng và di sản: Từ giá trị truyền thống đến thiết kế đương đại
    Gần 300 nhà quản lý, chuyên gia và nhà thiết kế trao đổi, chia sẻ tại Hội thảo quốc tế “Mỹ thuật ứng dụng và di sản: Từ giá trị truyền thống đến thiết kế đương đại” tại Trường Đại học Nghệ thuật - Đại học Huế.
  • Tiếp tục đổi mới, khơi dậy tinh thần sáng tạo của văn nghệ sĩ Thủ đô
    Sáu mươi năm xây dựng và phát triển, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội đã trở thành mái nhà chung của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa Thủ đô và nền văn học, nghệ thuật nước nhà. Tại tọa đàm “Văn học, nghệ thuật Thủ đô - 60 năm xây dựng và phát triển” do Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội tổ chức tại Hà Nội sáng 29/10, các ý kiến, tham luận đã làm rõ những dấu ấn sáng tạo, hành trình phát triển cùng những yêu cầu đặt ra trong thời gian tới của văn học nghệ thuật Thủ đô.
  • Một Hà Nội hoài niệm với phở gánh
    Tôi sinh ra ở một làng quê nghèo miền Trung, nơi có cát trắng, gió Lào. Trong những năm tháng tuổi thơ, tôi chưa một lần rời khỏi lũy tre làng. Đến tuổi trưởng thành, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tôi làm việc ở chiến khu Việt Bắc. Rồi một ngày tháng Mười năm 1954, tôi được về công tác tại Hà Nội. Đêm trước ngày vào nội đô, lòng tôi xốn xang, không sao chợp mắt.
  • Phường Tây Hồ trao Huy hiệu Đảng cho 113 đảng viên
    Sáng 30/10, Đảng ủy phường Tây Hồ (TP. Hà Nội) đã tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 07/11/2026 cho 113 đồng chí đảng viên từ 30 đến 70 năm tuổi Đảng. Đây là dịp ghi nhận quá trình rèn luyện, cống hiến của các đảng viên, đồng thời tiếp tục phát huy kinh nghiệm, uy tín của các thế hệ đi trước trong xây dựng Đảng, chính quyền và địa phương.
  • Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ khai giảng khóa đào tạo cho nhóm đối tượng đặc thù
    Ngày 30/10, Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ tổ chức lễ khai giảng khóa I đào tạo nghề cho nhóm đối tượng đặc thù, gồm công dân hoàn thành nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân và người tái hòa nhập cộng đồng.
Đừng bỏ lỡ
  • Phát triển không gian đô thị Hà Nội theo Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm
    Vừa qua, tại kỳ họp thứ bảy (kỳ họp chuyên đề), HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã thông qua Nghị quyết phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường Vành đai 3.5 (đoạn từ Quốc lộ 2 đến đầu cầu Thượng Cát). Qua đó góp phần phát triển không gian đô thị đa trung tâm, hiện đại, bền vững theo định hướng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm.
  • Địa điểm làm việc của Nhà xuất bản Sự thật (1947-1950) được xếp hạng Di tích quốc gia
    Ngày 29/10/2026, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký ban hành Quyết định số 2913/QĐ-BVHTTDL về việc xếp hạng Di tích quốc gia đối với Di tích lịch sử Địa điểm làm việc của Nhà xuất bản Sự thật (nay là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật), tại xóm Cây Hồng (1947-1950), xã Bình Thành, tỉnh Thái Nguyên.
  • Hà Nội sẵn sàng cho Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026
    Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026 sẽ diễn ra vào ngày 24/11/2026 tại Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình với quy mô khoảng 50.000 người. Sự kiện nhằm tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống, kết hợp di sản với sáng tạo đương đại và khẳng định văn hóa là nguồn lực phát triển đất nước...
  • Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Trung: Người sáng tạo giá trị mới từ chất liệu truyền thống
    Từ những sợi mây, nan tre vốn gắn với nghề đan lát truyền thống làng nghề Phú Vinh (TP Hà Nội), Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Trung đã tìm ra một hướng sáng tạo riêng cho nghề: đan tranh chân dung. Bắt đầu từ bức chân dung Bác Hồ vào năm 1976, ông từng bước đưa kỹ thuật đan thủ công vượt ra ngoài những sản phẩm quen thuộc, tái hiện hình ảnh các nhân vật lịch sử bằng ngôn ngữ tạo hình độc đáo. Hành trình ấy không chỉ cho thấy sức sáng tạo của người nghệ nhân mà còn mở ra những hướng đi mới cho chất liệu truyền thống.
  • [Podcast] Tản văn: Suối cạn
    Chẳng nhớ tôi đã đi dọc con suối cạn sau nhà bao nhiêu lần. Mỗi lần đi, lại một lần suy tư về con suối mà mình chưa biết tuổi. Có lẽ ngày xửa, ngày xưa khi rừng đầu nguồn chưa bị tàn phá, nó là con suối xinh đẹp, tràn đầy sức sống từ dòng nước trong vắt đầu nguồn.
  • Giải mã sức hấp dẫn của sơn mài qua triển lãm “Nguyên – Lãng du cùng Sơn”
    Từ ngày 30-10 đến 4-11-2026, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, số 66 Nguyễn Thái Học, phường Ba Đình, Hà Nội, triển lãm “Nguyên – Lãng du cùng Sơn” mang đến cho công chúng cơ hội tiếp cận sơn mài từ cả hai phương diện: thưởng thức tác phẩm hoàn chỉnh và tìm hiểu quá trình tạo nên tác phẩm.
  • Hà Nội tập huấn Luật Thủ đô 2026 cùng các văn bản triển khai thi hành về lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch
    Sáng 28/10, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Thủ đô, các văn bản triển khai thi hành Luật Thủ đô năm 2026 và đối thoại, giải đáp thắc mắc liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của ngành. Hội nghị diễn ra trực tiếp tại Hội trường Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (số 47 Hàng Dầu, phường Hoàn Kiếm) và kết nối trực tuyến tới điểm cầu 126 xã/phường; các Nhà hát thuộc Sở và Trụ sở Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật (VHNT) Hà Nội.
  • Đình Tường Phiêu- từ di sản độc đáo đến câu chuyện phát huy giá trị
    Tại Di tích quốc gia đặc biệt đình Tường Phiêu (xã Phúc Thọ, TP Hà Nội), bài toán phát triển kinh tế di sản gắn với bảo tồn, lan tỏa giá trị văn hóa, lịch sử đang có những chuyển biến tích cực. Chính quyền địa phương đang gắn kết các giá trị độc nhất vô nhị tại đình Tường Phiêu với làng nghề hoa cây cảnh truyền thống, giáo dục di sản ở địa phương để chung sức phát triển du lịch văn hóa Hà Nội.
  • [Podcast] Chè đỗ xanh - Ngọt thanh hương vị Hà Nội xưa
    Nhắc đến chè truyền thống Hà Nội, người ta thường nhớ đến hương vị phong của chè sen thơm dịu, chè cốm mang hương lúa non, chè bà cốt ấm nồng mùi gừng, chè đỗ đen ngọt mát trong những ngày hè. Trong bức tranh ẩm thực đa dạng đó, chè đỗ xanh với nguyên liệu chính đỗ xanh là nguyên liệu quen thuộc trong bữa ăn của người Việt, được dùng để nấu xôi, làm bánh, nấu cháo hay chế biến thành nhiều món chè.
  • Tạo xung lực mới để Hà Nội và Phú Thọ cùng phát triển trong kỷ nguyên mới
    Thành phố Hà Nội đã thực hiện lấy ý kiến Nhân dân về việc “Điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính giữa thành phố Hà Nội và tỉnh Phú Thọ tại khu vực Vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm”. Việc điều chỉnh địa giới hành chính này rất cần thiết, đáp ứng các yêu cầu thực tiễn của hai địa phương cũng như mục tiêu quản lý thống nhất, phát triển bền vững, tăng cường liên kết Vùng Thủ đô và bảo đảm hài hòa lợi ích của Hà Nội và tỉnh Phú Thọ
Cao Huy Diệu – văn nhân ưu thời mẫn thế
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO