Văn hóa – Di sản

Cao Huy Diệu – văn nhân ưu thời mẫn thế

Phạm Văn Hưng 22/11/2023 17:25

Chúng ta vốn đã quá quen thuộc với quan niệm của người xưa về mối quan hệ hai chiều giữa “địa linh” và “nhân kiệt”, trong đó yếu tố “địa linh” quyết định “nhân kiệt” và yếu tố “nhân kiệt” lại tác động làm nên “địa linh” như một chuỗi nhân quả bất tận. Thăng Long - Hà Nội vốn được xác định từ sớm với đặc trưng địa linh của mình và cũng sớm hình thành nên các làng, các vùng với những dòng họ nối đời khoa bảng. Vùng đất Phú Thị thuộc huyện Gia Lâm (Hà Nội) là một không gian địa lí như thế và dòng họ Cao ở đất này là một dòng họ như thế. Trong cả hai trục tọa độ không gian, thời gian ấy, danh nhân Cao Huy Diệu (Thế kỷ XVIII-XIX) - danh thần dưới triều Gia Long (1762 - 1820) - là một trong những con người tiêu biểu cho dòng họ Cao, cho quê hương Phú Thị và cho Thăng Long - Hà Nội nghìn năm văn hiến.

song-thien-duc.jpg
Sông Thiên Đức.

Đất Phú Thị có con sông Thiên Đức chảy qua giáp lũy tre sau làng và phía trước mặt có núi Thọ Chương do chúa Trịnh đặt tên. Nơi sơn kì thủy tú ấy đã sinh ra nhiều danh nhân cho Thăng Long và cho đất nước. Chính miền quê này là nơi nuôi dưỡng tâm hồn Cao Huy Diệu. Tương truyền, ông là người nổi tiếng về tài năng văn chương từ rất sớm, người đương thời coi là bậc anh tuấn thông minh dĩnh ngộ hiếm có. Khi còn dùi mài kinh sử với các thầy tại trường, lúc làm bài hạch, ông thường được chấm hạng ưu. Đó là một hai nét điểm xuyết về mặt tiểu sử mà các nho sĩ đều khao khát có nhưng không mấy người đạt được. Dễ hiểu vì từ khi còn rất trẻ ông đã thuộc vào số ít những người danh tiếng lừng lẫy khắp Bắc Thành. “Hữu xạ tự nhiên hương”, những danh sĩ đương thời như Cao Khắc Kỉ và Lê Hồng Hân... cũng tìm đến cùng ông kết giao, lấy văn chương làm phương tiện thù đáp và tỏ ra mến phục cả nhân cách và tài năng Cao Huy Diệu. Có lẽ tên hiệu “Vô Song” của ông một phần bắt nguồn từ sự đánh giá của người khác về ông và một phần từ sự tự ý thức của ông - một nhà Nho sống vào nửa sau của thế kỉ XVIII và nửa đầu của thế kỉ XIX - về bản thân mình. Giống như nhiều nhân vật thời trước, ông có nhiều tên hiệu, bên cạnh Vô Song là tên hiệu Hồng Quế Hiên (trong đó chữ “Hiên” thường được dùng trong tên hiệu của họ Cao Phú Thị như Ngọ Hiên, Mẫn Hiên, Bái Hiên...); tên tự của ông là Cửu Chiếu. Có tài liệu nói ông là người cùng họ với Cao Bá Quát một cách chung chung, có tài liệu lại chỉ đích danh ông là nội tổ của Cao Bá Quát - một trong những nhà thơ lớn của lịch sử văn học Việt Nam trung đại và là một trong những thủ lĩnh của khởi nghĩa Mĩ Lương sau này dưới triều Tự Đức.

Cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào cho biết thông tin chính xác về năm sinh và năm mất của ông nhưng biết chắc Cao Huy Diệu đã có vào Phú Xuân một thời gian ngắn và không rõ ông đã nhận chức quan gì dưới triều Tây Sơn hay chưa. Từ những cứ liệu ít ỏi còn lại, có thể thấy Hồng Quế Hiên không phải là người có thể “dữ thế cộng phù trầm” như một số “thượng lưu nhân vật” và có lẽ trong con đường mà ông vạch ra cho mình (dưới thời loạn, nó tất yếu phải có nhiều ngã rẽ) thì có thể Tây Sơn cũng là một hướng đi mà ông đã từng tính đến hoặc có đi theo một thời gian. Khi nhà Tây Sơn sụp đổ, nhà Nguyễn lên thay, ông đi thi và đỗ đầu kì thi Hương tại trường thi Kinh Bắc vào năm Gia Long thứ 6 (1807) đời vua Nguyễn Thế Tổ. Sau khi đỗ cử nhân, ông giữ chức Tư nghiệp ở Quốc Tử Giám, Đốc học Thăng Long rồi thăng đến Thượng thư. Từ năm Quý Dậu (1813), ông làm Tri phủ Quốc Oai rồi làm Thị lang Bộ Lại, ít lâu sau đổi làm Đốc học trấn Hà Tiên và theo một số tài liệu thì khi vào Hà Tiên ông đã mở trường Gia Định để thu nhận học trò. Nếu như đồng ý với ước đoán rằng ông mất vào khoảng cuối đời Gia Long thì ông chính là một trong những “bạn đương thời của Nguyễn Du” theo cả nghĩa lịch đại và sự phân loại các tác gia thời trung đại theo những cảm hứng mà họ theo đuổi.

Trong sự nghiệp của Cao Huy Diệu, trừ những thông tin còn chưa có được sự kiểm chứng, chúng ta thấy hiện lên ở ông hình ảnh của một vị quan - nhà giáo rõ nét hơn cả dù cho các chức vụ mà ông đảm nhiệm khá đa dạng, vừa là học quan vừa là đường quan. Có lẽ chính điều đó đã phản ánh vào sáng tác của ông. Cao Huy Diệu có Hồng Quế Hiên thi tập, Phương Am Nguyễn tiên sinh truyện, ngoài ra còn tham gia biên soạn sách Luận biện tán tụng ca châm văn tập... Tác phẩm của ông được in trong Cấn Trai thi tập, Di Trạch đường phả kí, Đại Nam anh nhã tiền biên, Đại Việt giải nguyên, Đối liên thi văn tập... Nếu như coi “văn chương, đó chính là phong cách” và “cổ nhân bất đắc kiến - kiến thi như kiến nhân” thì sẽ thấy Cao Huy Diệu “phần nhiều viết về cảnh thiên nhiên và sinh hoạt nông thôn, cảnh trí mộc mạc giản dị, lời thơ trong sáng, nhiều hình ảnh. Đọc thơ ông ta thấy ông là một người nhân hậu, không sôi nổi nhưng lạc quan yêu đời” như nhận xét của soạn giả Tổng tập văn học Việt Nam (Tập VIII, Tái bản, 2000). Đó là cái nhìn trìu mến đầy ân tình của ông với khung cảnh làm ăn của làng gốm Bát Tràng:

Khinh chu ngọ bạc đại hà bàng,

Bàng thị ngô giao bạch thổ phường.

Thiển thiển ngạn biên tân dựng thổ,

Thâm thâm châu diện thủy sinh tang.

Võng lai yếu kính phồn hoa địa,

Công cổ sinh nhai phú quí hương.

Dục vấn chu đầu ngâm diểu giả,

Dã phi công cán dã phi thương.

(Bát Tràng ngọ bạc)

Ngô Linh Ngọc dịch thơ:

Thuyền nhẹ trưa về neo bến Nhị,

Cạnh thuyền đất trắng gốm quê hương.

Đất vừa bồi tới nông choèn bãi,

Dâu mới trồng thêm xanh ngút nương.

Mấy ngõ vãng lai đường tiện lợi,

Một vùng giàu có nghiệp công thương.

Đầu thuyền ngâm ngợi rằng ai đó,

Chẳng phải nhà quan chẳng khách buôn!

(Buổi trưa đậu thuyền ở Bát Tràng)

Qua con mắt nhà thơ, cảnh vật hiện lên sinh động và ấm áp. Điều đó có được là do quan niệm ôn nhu đôn hậu của nhà nho đã chi phối việc thể hiện cuộc sống quanh mình. Bên cạnh đó, Cao Huy Diệu cũng rung động và chia sẻ với nỗi vất vả của người dân trong suốt chục năm từ Bính Ngọ tới Bính Thìn phải chịu cảnh loạn lạc, phiêu bạt, đói kém và luôn mơ ước “có được chiếc chăn rộng để đắp cho tất cả mọi người trong thiên hạ” (Trung thu dạ vũ). Đó thực sự là tấm lòng của nhà Nho nhập thế một cách tích cực, tự ý thức được trách nhiệm đạo giác tư dân và luôn thường trực trong mình một nỗi niềm “tiên ưu” canh cánh!

Cũng như bao người dân Việt Nam, ở con người và thơ văn của Cao Huy Diệu luôn có một tâm thức hướng về cội nguồn, hướng về những chiến công của cha ông, xem đó là những điều đáng tự hào và là điểm tựa cho hiện tại. Bài Yết Phù Đổng tối linh từ cung kí đã nói lên điều đó. Trên thực tế, cảm hứng về lịch sử trong bài thơ: “Đền Xung Thiên lẫy lừng/ Chùa Kiến Sơ rạng rỡ/ Gươm, ngựa vút trời cao/ Tiếng thơm lưu sử cũ..” của ông cũng nằm trong sự thống nhất với những rung động trước vẻ “núi xuân tươi đẹp”: “Núi non dằng dặc uốn La thành/ Trời xuân trăm sắc thủy tươi xinh” và rung động trước những điều tưởng như bình dị: “Trẻ xóm qua cầu leo dốc núi/ Đường về chầm chậm bóng chiều rơi/ Roi tre in ngược lòng mây thẳm/ Nghé bướng nhờn nghe tiếng mõ lười...” Và như một qui luật muôn thuở, với rất nhiều nhà nho, những lúc cần tĩnh lặng thân - tâm, nhà Nho Cao Huy Diệu lại tìm đến cửa Thiền để chiêm nghiệm về lẽ tỉnh thức giữa cõi đời: “Thế giới dưới chân cờ nửa cuộc/ Cười ai bể trọc chửa nhìn ra” (Tiền đăng Tiêu Sơn tự) nhưng những khoảnh khắc đó không quá nhiều. Điều khiến ông bận lòng, lao tâm khổ tứ vẫn là làm sao có được cuộc sống an bình:

Một mai đời giống thuở Đường Ngu,

Đều đều cữ gió đúng tuần mưa.

Triều đình trong sáng, nước bình trị,

Làng xóm âu ca, dân ấm no.

(Trung thu dạ vũ)

Đối với Cao Huy Diệu, nỗi niềm canh cánh trong ông trước sau vẫn là lí tưởng chính trị xã hội “vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn” mà nhà Nho muôn đời hằng theo đuổi, theo đuổi một cách nhiệt thành.

Cuộc đời Cao Huy Diệu có một quãng khá dài đảm trách cương vị học quan. Chính tích của ông không quá nhiều, sự nghiệp của ông cũng chưa đủ để xếp ông vào nhóm những nhà sư phạm tiêu biểu nhất trong lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, ở những góc độ khác nhau, đặc biệt là qua thơ văn (nếu ta coi văn thơ của nhà nho là phương tiện để họ trình hiện bản thân, trong đó có cả mục đích “tải đạo”) sẽ thấy ở Vô Song Cao Huy Diệu một cái nhìn đôn hậu với cuộc đời, với cảnh vật. Ở ông, có những phẩm chất mà nếu phát triển lên sẽ in bóng trong hai hậu duệ là Cao Bá Quát và Cao Bá Đạt ở sự tinh tế, nhạy cảm, thương cảm cho thân phận con người. Chỉ có thể như thế bởi vì họ là những anh hoa của dòng họ Cao đất Phú Thị và cũng là anh hoa của đất kinh kì văn hiến./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Nguyễn Hiền – trạng nguyên thần đồng
    Nguyễn Hiền sinh ngày 12 tháng 7 năm Ất Mùi (1235), quê ở làng Vương Miện, huyện Thượng Hiền (sau đổi là Thượng Nguyên, phủ Thiên Trường, lộ Sơn Nam), nay là thôn Dương A, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
(0) Bình luận
  • Triển lãm “Cửu Đỉnh triều Nguyễn: Di sản tư liệu qua hình ảnh và tài liệu lưu trữ – Hướng tiếp cận giáo dục di sản bằng trải nghiệm số”
    Qua ứng dụng công nghệ số, triển lãm “Cửu Đỉnh triều Nguyễn: Di sản tư liệu qua hình ảnh và tài liệu lưu trữ – Hướng tiếp cận giáo dục di sản bằng trải nghiệm số” đã mang đến cho công chúng một cách tiếp cận di sản trực quan, sinh động và gần gũi hơn.
  • Hà Nội đón Bằng công nhận Bảo vật quốc gia chuông chùa An Xá
    Chùa Bắc Biên (Phúc Xá tự), còn gọi là chùa An Xá, là di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu của vùng đất Bồ Đề. Trong hệ thống di vật của chùa, chuông chùa An Xá là hiện vật nổi bật, được đúc vào tháng 11 năm 1690 dưới thời Lê Trung hưng bằng phương pháp thủ công truyền thống, mang tính độc bản.
  • Lễ hội Bình Đà 2026: Trang nghiêm nghi lễ Quốc Tổ, lan tỏa hào khí cội nguồn dân tộc
    Sáng 22/4 (tức ngày mùng 6 tháng 3 năm Bính Ngọ), tại Đền Nội, Bình Đà, xã Bình Minh, thành phố Hà Nội, Lễ rước, tế và dâng hương Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân đã được tổ chức trang nghiêm trong khuôn khổ Lễ hội Bình Đà 2026, thu hút đông đảo nhân dân địa phương, du khách thập phương cùng cộng đồng người Việt hướng về cội nguồn.
  • Bình Đà rộn ràng mùa hội Quốc Tổ
    Những ngày tháng Tư, khi tiết trời Hà Nội bước vào thời khắc đẹp nhất của mùa xuân muộn, vùng đất Bình Đà lại rộn ràng cờ hội, đón người dân và du khách thập phương về dự Lễ hội Bình Đà 2026. Diễn ra từ ngày 19 đến 22/4 tại xã Bình Minh, đây là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của Thủ đô, gắn với tín ngưỡng thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân - vị thủy tổ trong huyền sử dân tộc Việt Nam.
  • Hai Bàn thờ Phật bằng đá ở xã Dương Hòa được công nhận Bảo vật Quốc gia
    Lễ công bố Quyết định và đón Bằng công nhận Bảo vật Quốc gia đối với Bàn thờ Phật bằng đá tại chùa Hương Trai và chùa Đại Bi diễn ra tại sân Ải Cả, xã Dương Hòa (Hà Nội) vào ngày 17/4/2026. Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Thu Hà đã tới dự.
  • Văn hóa dân gian cần được xem như một nguồn lực phát triển đất nước
    Từ thực tế di sản văn hóa truyền thống của dân tộc, GS.TS Lê Hồng Lý – Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam cho rằng, chúng ta cần xem xét văn hóa dân gian như một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc, đúng với định hướng phát triển văn hóa Việt Nam mà Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • “Phan Thuận An với Huế”: Kết tinh một đời nghiên cứu về mảnh đất cố đô
    Nhà xuất bản Tri thức phối hợp cùng Tri Thức Trẻ Books vừa ra mắt bạn đọc bộ sách “Phan Thuận An với Huế”. Đây không chỉ là một công trình khảo cứu công phu có giá trị học thuật mà còn là kết tinh của tình yêu bền bỉ mà nhà nghiên cứu Phan Thuận An đã dành cho vùng đất cố đô.
  • Ký ức tháng Tư
    Tháng Tư lại về. Với người lính, đó không chỉ là một tháng trong năm mà là tháng của ký ức, của những tiếng gọi từ quá khứ vọng về. Mỗi khi tháng Tư chạm ngõ, lòng chúng tôi lại dậy lên những âm thanh cũ: tiếng bước chân hành quân, tiếng võng kẽo kẹt giữa rừng, tiếng hát lạc trong gió núi. Và trên hết, đó là ký ức về ngày đất nước thống nhất - ngày mà bao máu xương, bao tuổi trẻ đã hóa thành niềm vui chung của dân tộc.
  • Du lịch Hà Nội tăng trưởng mạnh, đón hơn 3 triệu lượt khách trong tháng 4/2026
    Theo báo cáo của Sở Du lịch Hà Nội, trong tháng 4/2026, tổng lượng khách du lịch đến Thủ đô ước đạt 3,09 triệu lượt, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2025.
  • Việt Nam giành 4 huy chương tại Giải Thể thao Điện tử châu Á 2026
    Sau 2 ngày tranh tài tại Giải Thể thao điện tử châu Á 2026 - Esports Championships Asia 2026 (ECA 2026), đội tuyển thể thao điện tử Việt Nam đã giành 4 huy chương, trong đó có 1 huy chương vàng, 2 huy chương bạc và 1 huy chương đồng.
Đừng bỏ lỡ
  • Chương trình nghệ thuật “Âm vang Tổ quốc” thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa
    Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Thành phố Hà Nội trở thành điểm hẹn của những chương trình nghệ thuật đặc sắc, được đầu tư công phu, bài bản và sáng tạo bám sát tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
  • Những bài thơ bất yên
    Đi qua ba tập thơ trong thời gian ngắn, nhà thơ Đinh Minh Thiện như không bằng lòng với những gì đã có, để phải cất lên một tập thơ mới. Ở đó, tác giả gửi gắm nhiều suy niệm về cuộc sống, mơ vọng về nơi an trú, ngẫm ngợi những tỉnh thức, hoài niệm với quê nhà, với mẹ và những niềm thân thiết thôn dã, mùa màng…
  • Cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa từ không gian cộng đồng
    Chiều 26/4, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục diễn ra, thu hút đông đảo người dân và du khách dừng chân thưởng thức trong suốt hơn một giờ đồng hồ với chất lượng nghệ thuật cao mà vẫn gần gũi.
  • Việt Nam - Hàn Quốc hợp tác làm phim lịch sử về Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn
    Bộ phim tái hiện cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, vị danh tướng kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, người đã ba lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại quân Nguyên Mông.
  • Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thời đại kỹ thuật số
    Theo GS.TS. Nguyễn Chí Bền - nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị trong bối cảnh của thời đại kỹ thuật số thông minh, cần sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý. Việt Nam đang đứng trước thời cơ và thách thức, song có thể tạo ra sức mạnh mềm có ảnh hưởng sâu rộng bằng văn hóa, nếu sử dụng tốt mặt ưu thế các thành tố của thời đại kỹ thuật số thông minh.
  • Nghệ nhân ba miền “Cung tiến Kỳ hoa Dị thảo” vào Hoàng cung Huế
    Các câu lạc bộ, hội nhóm và nghệ nhân tự nguyện dâng tiến nhiều tác phẩm phong lan, cây kiểng tiêu biểu vào Hoàng cung Huế.
  • Phường Ba Đình số hóa di sản ẩm thực, lan tỏa giá trị văn hóa Thủ đô
    Tại hội nghị sơ kết công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm diễn ra ngày 24/4, phường Ba Đình triển khai dự án số hóa ẩm thực với nhiều nội dung, xây dựng dữ liệu số về các món ăn đặc trực; gắn mã QR giới thiệu thông tin, nguồn gốc món ăn; quảng bá ẩm thực gắn với du lịch và văn hóa; ứng dụng công nghệ trong bảo tồn và phát duy giá trị truyền thống.
  • Đảm bảo tính truyền thống và văn minh trong Lễ hội Thăng Long Tứ trấn - đền Kim Liên
    Thông tin từ UBND phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám cho biết, Lễ hội truyền thống di tích Thăng Long tứ trấn đền Kim Liên năm 2026 sẽ được tổ chức trong 3 ngày, từ 30/4 đến 2/5/2026 (tức từ ngày 14 đến 16 tháng 3 năm Bính Ngọ) tại di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đặc biệt đền Kim Liên (phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám).
  • Liên hoan Yosakoi Việt Nam 2026: Kết nối văn hóa, lan tỏa năng lượng tích cực
    Tiếp nối thành công của Liên hoan Yosakoi những năm trước, Liên hoan Yosakoi Việt Nam lần thứ IV năm 2026 với chủ đề “Giao lưu văn hóa - Khơi nguồn năng lượng - Hướng đến tương lai” chính thức diễn ra trong hai ngày 25 - 26/4 tại Ninh Bình và Hà Nội, quy tụ đông đảo nghệ sĩ, vũ công và công chúng yêu nghệ thuật.
  • Nhà hát Kịch Việt Nam dựng vở “Vũ Như Tô” của tác giả Nguyễn Huy Tưởng
    Nhà hát Kịch Việt Nam vừa khởi công dàn dựng vở kịch kinh điển “Vũ Như Tô” - một trong những tác phẩm tiêu biểu của sân khấu Việt Nam của Nhà văn, cố tác giả Nguyễn Huy Tưởng, do Đạo diễn - NSƯT Trịnh Mai Nguyên dàn dựng.
Cao Huy Diệu – văn nhân ưu thời mẫn thế
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO