Văn hóa – Di sản

Phan Huy Vịnh – người con dòng văn Phan Huy với hai lần đi sứ

Nguyễn Tiến Thịnh 12/11/2023 16:05

Phan Huy Vịnh (1800 - 1870) là một nhà thơ Việt Nam khá nổi tiếng thế kỷ XIX, người làng Sài Sơn, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (nay là xã Yên Sơn, huyện Quốc Oai, ngoại thành Hà Nội). Ông có cha là Phan Huy Thực và ông nội Phan Huy Ích. Tiếp nối truyền thống khoa cử của dòng họ Phan Huy, nhà thơ, nhà văn hóa Phan Huy Vịnh đỗ Cử nhân năm 1828 và được trao chức Chủ sự Bộ Binh. Nhiều năm sau ông được thăng chức Thượng thư Bộ Lễ và hai lần được cử đi sứ nhà Thanh vào các năm 1841, 1854.

Phan Huy Vịnh thuộc dòng họ Phan Huy nổi tiếng. Hai thế kỉ trước, tại làng Thầy, xã Thụy Khuê, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai (tỉnh Sơn Tây) bắt đầu xuất hiện những cây bút danh tiếng. Tất cả là người một họ, thuộc dòng văn Phan Huy. Dòng họ này được biết đến như một tấm gương hiếu học ở nước ta. Tiến sĩ Phan Huy Cận là người đỗ đại khoa và cũng là người mở đầu dòng khoa bảng của họ Phan. Các thế hệ kế tiếp có các Tiến sĩ Phan Huy Ích, Tiến sĩ Phan Huy Ôn, Tiến sĩ Phan Huy Huệ... Sau này các ông Phan Huy Sảng, Phan Huy Thự, Phan Huy Thực, Phan Huy Chú, Phan Huy Vịnh, Phan Huy Đàm... cũng nối tiếp truyền thống khoa cử. Có người đỗ Tiến sĩ, có người đỗ Cử nhân, Tú tài... Tất cả góp phần làm rạng danh dòng họ. Trong số đó có nhiều vị ra làm quan, tham gia gánh vác những công việc quốc gia đại sự. Bởi có tài năng, mưu lược nên nhiều người trong dòng họ Phan Huy được vinh dự cử đi sứ, đem lại vẻ vang cho nước nhà... Có thể nói, thơ đi sứ của dòng văn Phan Huy thể hiện phong phú ở các mặt nội dung và phương thức thể hiện. Các tác giả, đồng thời là sứ giả, bên cạnh việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, sứ mệnh được giao phó, họ còn làm thêm một việc nữa là “sáng tác thơ”. Điều này cho thấy tài năng và sức sáng tạo nghệ thuật của những vị quan dòng họ Phan Huy là hết sức nhiệt huyết, mãnh liệt, góp phần tạo nên tài năng Phan Huy Vịnh.

ong-ban-ki-moon-va-phu-nhan-chup-anh-chung-cung-dong-ho-phan-huy-tai-nha-tho-ho-tai-xa-sai-son-nam-2015.-anh-zing.vn.jpg
Ông Ban Ki-Moon (nguyên Tổng Thư kí Liên Hiệp Quốc) và phu nhân chụp ảnh chung cùng dòng họ Phan Huy tại nhà thờ họ tại xã Sài Sơn năm 2015. Ảnh Zing.vn

Trở lại tác giả Phan Huy Vịnh. Có thể thấy, ở cương vị Thượng thư, ông là vị quan thanh liêm, chính trực. Ông luôn luôn suy tư, trăn trở làm thế nào để người dân được hưởng cảnh thái bình, thịnh trị. Khi là nhà thơ, ông gửi gắm nỗi niềm cá nhân và tâm trạng của mình vào những sáng tác chất chứa tình đời, tình người. Phan Huy Vịnh sáng tác không nhiều. Nhân hai lần đi sứ, ông sáng tác tập thơ Như Thanh sứ trình (Hành trình đi sứ sang Thanh) và Nhân trình tùy bút thi tập (Tập thơ tùy bút ruổi ngựa đi sứ). Như Thanh sứ trình (có tên khác là Như Thanh sứ bộ Phan Huy Vinh thi) chính là tập thơ của Phan Huy Vịnh soạn, gồm 52 trang. Tác phẩm này ghi lại những khoảnh khắc đi sứ đầy khó khăn gian lao, vất vả của sứ giả Phan Huy Vịnh đến Trung Quốc. Lần đi sứ này kéo dài hơn 2 năm, từ năm 1841 đến 1843. Huy Vịnh đi sứ lần này để triều cống, báo tin Minh Mệnh mất và cầu phong cho Thiệu Trị lên ngôi. Trong số các trước tác có 9 bài khải, thiếp giao dịch với Trung Quốc và 4 bài văn tế thần, 24 câu đối, 6 hoành biển đề ở chùa Tương Sơn, miếu Khuất Nguyên, lầu Nhạc Dương, đền Vũ Mục... cùng một bài văn ghi chuyện Khổng Tử bị nạn ở nước Tần, nước Thái.

Tập thơ thứ hai là Nhân trình tùy bút thi tập (còn có tên là Sài Phong nhân trình tùy bút hoặc Nhân trình tùy bút) do Phan Huy Vịnh, hiệu Sài Phong soạn. Sách này gồm 174 bài thơ làm khi đi sứ Trung Quốc từ năm Nhâm Tý (1852) đến năm Quý Sửu (1853), gồm có thơ tả cảnh, tả tình, đề vịnh, tặng đáp, xướng họa, hoài cổ... Tập thơ Phan Huy Vịnh sáng tác trong lần đi sứ sang Trung Quốc lần này, do có nhiều kinh nghiệm từ chuyến đi sứ trước (năm 1841) nên tác giả mở rộng chủ đề sáng tác hơn. Những bài thơ tả cảnh, vịnh cảnh, vịnh vật... thể hiện tâm trạng của người đi sứ xuất hiện nhiều hơn.

Tác giả Việt Anh có giới thiệu một bài họa thơ của Phan Huy Vịnh. Bài họa có tên Bồi Ngọc Phong, Ngô trượng ông du Hoa Phát sơn tự thứ vận trình đáp (Cùng ông thông gia họ Ngô, hiệu Ngọc Phong chơi chùa núi Hoa Phát, hoạ vần trình đáp) với nội dung như sau:

Sơn đối Sài Sơn nhất dạng thanh,

Thượng khai lan nhược dữ sơn danh.

Kỳ quan phan thạch lâm cao các,

Cổ ý môn đài độc cựu minh.

Điểu độ phong tiền tà hữu ảnh,

Hoa phi vũ hậu tế vô thanh.

Bồi du hội đắc thi ông lạc,

Dư hứng phiên phiên đáo thảo đình.

(Ngọn núi đối mặt với núi Sài cùng một vẻ trong lành,

Trên đó hoa lan nở như tên núi vậy.

Thăm kỳ quan nên bám núi đá lên gác cao,

Dò ý xưa nên rẽ rêu đọc lời minh cũ.

Chim bay trước gió nghiêng nghiêng bóng,

Hoa bay sau mưa liu riu không âm thanh.

Theo người cùng chơi mới hiểu được niềm vui của nhà thơ,

Hứng tràn phấp phới tới tận sân cỏ)

Bài họa này có ý thơ vui, trong sáng. Cảnh thiên nhiên với hoa lan, núi đá, chim bay, mưa, sân cỏ hòa trộn cùng tâm trạng, tạo niềm hứng khởi, vui tươi cho lòng người.

Có thể nói thơ Phan Huy Vịnh đa phần là những bài vịnh cảnh, vịnh vật... thể hiện tâm trạng thầm kín của cá nhân nhà thơ. Các tác phẩm của ông phần lớn được sáng tác trong lúc đi sứ và các chuyến du lãm... Nhìn chung, tiếng thơ Phan Huy Vịnh trong sáng, giản dị, giàu cảm xúc, suy tư.

Từ trước tới nay, không ít người vẫn ghi nhận bản dịch bài thơ Tỳ bà hành (Bạch Cư Dị) là của Phan Huy Vịnh. Tuy nhiên, nguồn tin này chưa chính xác, cần được đính chính lại. Dựa vào gia phả họ Phan và di cảo thơ văn Phan Huy Thực (cha của Phan Huy Vịnh), một số nhà nghiên cứu Hán học như Tạ Ngọc Liễn, Hoàng Thị Ngọ trong sách Phan Huy Chú và dòng văn Phan Huy (1983) và gần đây là bài viết Lại thêm một tư liệu về người dịch bài “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị (Tạp chí Hán Nôm) của Thế Anh đã đưa ra kết luận bản dịch Tỳ bà hành là của Phan Huy Thực chứ không phải Phan Huy Vịnh như sự “tương truyền” bấy lâu nay. Nhóm Tạ Ngọc Liễn, Hoàng Thị Ngọ cho biết trong cuốn Phan gia thế phả, phần chép về Phan Huy Thực viết: “Trước tác (của ông) có Hoa thiều tạp vịnh, khúc diễn âm Tỳ bà hành, Nhàn ảnh vấn đáp. Ngoài ra còn có các bài tấu nghị về việc chế định điển lễ, nhạc khúc và văn chương thù ứng..; phần chép về Phan Huy Vịnh như sau: “Tự Hàm Phủ, hiệu Sài Phong, sinh ngày 25 tháng Giêng năm Tân Dậu (1801)... Thơ có Nhân trình tùy bút tập”. Như vậy, trong gia phả họ Phan không thấy nhắc đến việc Phan Huy Vịnh dịch Tỳ bà hành. Như vậy, căn cứ vào sách trên và một số nguồn tư liệu khác có thể khẳng định Phan Huy Thực mới chính là dịch giả bài Tỳ bà hành.

Dòng họ Phan Huy được coi là một “hiện tượng” hiếm có trong làng văn Việt Nam. Nếu như “một người làm quan cả họ được nhờ” thì dòng họ Phan Huy có thể nói một cách “ưu ái” rằng “một họ làm quan cả nước được nhờ”. Dòng họ này, với những tên tuổi đáng kính như Phan Huy Cận, Phan Huy Ích, Phan Huy Ôn, Phan Huy Quýnh, Phan Huy Thực, Phan Huy Chú, Phan Huy Vịnh, Phan Huy Lê... xuất hiện như những vì sao khuê và tỏa sáng trên bầu trời văn học, sử học nước nhà. Dòng họ này thực đáng làm gương cho đất nước về tài năng và sự hiếu học. Phan Huy Vịnh là con cháu của dòng họ Phan Huy. Ông đã học tập, thi cử, đỗ đạt và làm quan đến chức Thượng thư. Việc đi sứ Trung Quốc và sáng tác thơ văn cho thấy ông là người tài năng, đức độ. Bằng sự nỗ lực, tận tâm, Phan Huy Vịnh là người kế tục xứng đáng sự nghiệp của cha ông, luôn có ý thức tiếp nối truyền thống học tập, khoa cử, làm quan của dòng họ./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Trần Khánh Dư – danh tướng thủy binh
    Trần Khánh Dư người huyện Chí Linh (Hải Dương), chưa rõ năm sinh, mất năm 1339, dòng dõi tôn thất nên được phong tước Nhân Huệ vương. Khi quân Nguyên mới sang xâm lược nước ta, ông thường nhằm chỗ sơ hở đánh úp, Trần Thánh Tông khen là có chí lược, lập làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi vua). Khi đánh dẹp ở miền núi thắng lớn, được phong chức Phiêu kỵ đại tướng quân. Rồi từ tước hầu, do được vua yêu, thăng mãi lên Thượng vị hầu áo tía, giữ chức phán thủ. Sau vì tư thông với công chúa Thiên Thụy, con dâu của Trần Quốc Tuấn nên bị cách hết quan tước, tịch thu sản nghiệp, phải lui về ở Chí Linh làm nghề bán than.
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Bồi dưỡng tâm hồn, khơi dậy khả năng sáng tạo và tình yêu văn học, nghệ thuật cho học sinh Thủ đô
    Chiều 12/8, tại Nhà Văn hóa xã Đông Anh (Hà Nội), Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Chương trình tổng kết Đề án Sân khấu học đường tại các trường THCS, THPT Hà Nội năm 2026, đánh dấu việc hoàn thành các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, workshop và thực hành biểu diễn dành cho giáo viên, học sinh phổ thông trên địa bàn thành phố.
  • [Podcast] Tản văn: Phượng tím vắt ngang trời thương nhớ
    Đến Đà Lạt vào ngày nắng chói, đôi mắt chị dõi tìm loài hoa gieo thương nhớ, phượng tím. Đà Lạt mùa nào sắc đó, đều là những loài đặc trưng của xứ sở ngàn hoa. Mùa dã quỳ vàng hoang hoải, mùa cỏ hồng bềnh bồng như mây, mùa hoa ban trắng tinh khôi, mùa anh đào ngọt ngào trong trẻo. Với chị, lưu luyến nhất vẫn là mùa phượng tím. Mùa này phượng rải sắc tím ngăn ngắt khắp đất cùng trời, gợi lên trong lòng xiết bao lưu luyến.
  • Hà Nội đẩy mạnh hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp
    Trong chương trình hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp, Thành phố Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2030 có 70% học sinh THPT được định hướng và 90% sinh viên hoàn thành học phần khởi nghiệp, hướng tới đạt 100% ở giai đoạn 2031 - 2035.
  • Lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội
    Triển khai Thông báo số 134-TB/VPTW ngày 02/8/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng, Thường trực Thành ủy Hà Nội yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tiếp tục phát huy những kết quả, nền tảng đã đạt được trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, đồng thời tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương thức quản trị, chất lượng nguồn nhân lực và phạm vi lan tỏa của đổi mới sáng tạo trong đời sống xã hội.
Đừng bỏ lỡ
Phan Huy Vịnh – người con dòng văn Phan Huy với hai lần đi sứ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO