Hà Nội xưa - nay

Nhớ nghề ren ở làng Bình Đà xưa

Nguyễn Minh Hoa 09:19 07/08/2023

Làng tôi - làng Bình Đà, xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, Hà Nội thuộc vùng ven đô, quốc lộ vắt qua mấy cánh đồng mùa nào cũng thơm hương lúa. Không như mọi làng khác thuần nông, làng tôi có phố - phố làng - ấy là phố Bình Đà, đông nghèn mỗi dịp Tết. Xưa, thiên hạ thường phải tìm về để được mục sở thị làng pháo danh tiếng và… tiện thì buôn một chuyến, một vài chuyến để cái Tết được đủ đầy hơn. Xa gần chỉ biết đến nghề pháo truyền thống của làng mà không biết người làng Bình Đà còn có nghề làm ren.

anh-1.jpg
anh-2.jpg
Tấm ren trang trí gợi nhắc ký ức nghề làm ren một thuở.

Theo tôi nhớ thì nghề ren về làng vào khoảng những năm khoán quản. Nếu tính người phụ nữ biết may vá, thêu thùa là người có hoa tay, hay khéo tay thì gần như đàn bà, con gái làng Bình Đà khéo tay cả. Từ người già đến trung niên, trẻ con đều biết làm ren. Có thể còn có cả đàn ông con giai cũng biết “rút ren’’.

Nếu như làm pháo luôn đi kèm những đồ nghề cồng kềnh, có phần nguy hiểm… thì làm ren ngược lại, rất an toàn. Chỉ có mỗi cái kim, cái đê tay, cái kéo bấm chỉ và mẫu. Làm ren cần phải sạch, trước hết là từ bàn tay phải luôn sạch và khô, vì thế mà thường là một tiếng phải đứng lên rửa tay một lần. Nếu làm chỉ màu kem mà đã phải ngồi riêng thì làm ren chỉ trắng tinh còn cầu kỳ hơn nhiều, khi làm hết một sợi chỉ lại phải lau tay bằng khăn sạch, ẩm. Người làm ren xưa thường chọn góc sạch, thoáng mát, trong nhà, góc sân hay dưới tán cây cho mát, vì thói quen từ thời làng xã ngày xưa chưa có điện sáng hoặc đề phòng những lúc mất điện. Nhà xưa thường lợp ngói, bụi bặm từ mái có thể rơi xuống bất cứ lúc nào. Người làm ren thường phải chăng tấm vải hay nilon che bụi cẩn thận, ngồi dưới gốc cây cũng phải chăng miếng vải ngăn chặn côn trùng, quả sâu, lá rụng rơi xuống tấm hàng. Nếu nhỡ tay làm hỏng nhiều khi phải đền bù tính đến dễ bằng cả tạ thóc.

Người làng thuần nông từng có lời “tị” hoặc “chê bôi” người làng Bình Đà tham công tiếc việc, hết làm pháo lại làm ren, rồi cấy hái, xen canh thì chơi vào dịp nào, tiền để đâu cho hết, rằng người Bình Đà đảm thế thì làng ngoài chẳng dám gả con về đấy… Lời chê ấy cũng là khen và mong được như người làng tôi.

Đầu tiên phải kể đến mối liên quan của 2 nghề này: Đó là, cả 2 nghề đều yêu cầu tỉ mẩn, công phu và chính xác. Người Bình Đà từ già trẻ, đàn ông đàn bà đều có đức tính ấy. Đến ngụ cư ở đất này dần dà còn biết nghề pháo nữa là người làng. Thế nhưng, pháo có vụ, Giêng Hai cấy hái xong chẳng nhẽ chơi, thế nên nhiều nhà quay sang làm ren luôn. Làm ren không có vụ nhưng đều việc quanh năm. Đôi khi hàng gấp thì còn phải chong đèn làm.

Làm ren thật sự là một nghề đòi hỏi sự cần cù, tỉ mỉ, công phu. Từ lược theo mẫu đã phải chuẩn thì mới mong có cái khung mà mạng theo. Mạng dày, mạng thưa có lẽ là dễ nhất trong các loại trên tấm ren, còn bô đê hay đánh bọ thì phải tay thợ có nghề.

Trẻ con ngay từ bé, nhất là những bé gái tầm 6 - 8 tuổi đã được mẹ hay bà dạy nghề. Thời ấy để xin được một tấm mẫu ren rất khó, nên các bà, các mẹ thường lấy tấm mẫu cũ hay giấy xi măng xin vẽ theo mẫu để dạy con. Bọn trẻ chăm và rất cố gắng để nhanh chóng được làm vào tấm hàng như người lớn.

Trẻ con theo người lớn làm, có khi sau 2 vụ hè đã biết việc, học hết cấp 1 đã mạng thạo. Cô gái nào theo học lên cấp 3 thì có vẻ nhãng việc hơn, vì bận học, bố mẹ không ép. Nhà nào eo hẹp tiền nong thì các cô gái thường phải cố làm thêm sau giờ học để dành dụm chi tiêu cho mình hay đóng tiền học thêm. Còn các cô mà không theo học lên cấp 3 thì không lâu sau đã thành tay thiện nghệ, rút ren nhanh thoăn thoắt. Vừa có tiền góp biếu bố mẹ lại vừa có tiền làm vốn riêng, các cô gái này thường rất “đắt chồng”.

Nghề ren ở làng Bình Đà phát triển suốt mấy mươi năm, có thể nói đủ để 3-4 thế hệ thạo việc và góp phần làm nên danh tiếng của làng một thuở. Sản phẩm nghề ren Bình Đà không chỉ tỏa đi các vùng trong nước mà còn vươn ra quốc tế. Ngoài sản phẩm cao cấp để xuất khẩu thì còn có loại bình dân hơn sau này có thể kể đến như chỉ Cầu Bầu, làm bằng loại chỉ bóng. Khi nghề pháo mất, nghề ren cũng phần nào giúp các hộ có việc làm, có thu nhập, đỡ hụt hẫng.

Nhưng rồi, vì nhiều lý do, trong đó có lý do đứt gãy nguồn xuất khẩu, nguồn đặt hàng, việc kinh doanh các mặt hàng thực phẩm thuận lợi hơn nên người làng dần dà bỏ nghề ren. Thêm nữa, mức độ đô thị hóa nhanh, trẻ con trong làng đã theo học các cấp không còn bỏ học khi hết cấp 1, cấp 2 như xưa. Các thế hệ sau có nhiều cơ hội học lên cao thoát ly, kiếm việc làm có lương, có bảo hiểm, khiến nghề của làng mất dần thế hệ tiếp nối.

Những người thợ già còn làm nghề thì mắt cũng đã kém, hàng không còn chạy như những làng nghề chuyên nghiệp đang đà phát triển trên địa bàn khác trong huyện, trong vùng. Từng đó lý do khiến nghề ren của làng nay chỉ còn dĩ vãng. Ký ức đó là câu chuyện về cái đê đồng mua của bà hàng xén chợ làng đã được người thợ dùng mòn vẹt. Không có cái đê này đố mà bô đê được, đầu ngón tay đẩy trôn kim có mà thủng tay, máu chảy. Nhưng khó nhất thì vẫn phải là khâu chằng bọ, đánh bọ, khâu này phải thợ cao tay mới làm được. Nhiều người già đời làm ren mà đánh bọ vẫn xấu... Đến nay, nếu có kể lại câu chuyện ấy, may chăng chỉ có người trung niên mới hiểu chứ thế hệ trẻ nào biết được rằng chỉ với những tấm ren nhỏ to ấy, bà chúng đã chắt chiu xây được nhà cho bố lấy vợ, mẹ chúng đã có tiền ăn học để chúng trở thành con nhà thoát ly như hôm nay…

Thi thoảng, khi tôi thấy 1 tấm ren cũ, được mua từ châu Âu bày ở nhà bạn hay đâu đó, chợt nghĩ biết đâu nó đã từng được sinh ra từ những người làm ren làng tôi mấy mươi năm trước../.

Bài liên quan
  • Đánh thức nghề thủ công khu phố cổ Hà Nội
    Tìm hiểu về làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội không thể không nhắc tới khu phố cổ Hà Nội - nơi xưa kia thợ thủ công tứ xứ kéo về mang theo những đặc sắc của nghề truyền thống quê hương mình tới nội đô. Trải qua thời gian, nghề truyền thống nơi đây đã mai một đáng kể. Trong bối cảnh TP. Hà Nội tập trung đầu tư trọng điểm vào 6 lĩnh vực để trở thành nền kinh tế mũi nhọn trong phát triển công nghiệp văn hóa thì việc đánh thức nghề thủ công mỹ nghệ trong khu phố cổ là hết sức cần thiết.
(0) Bình luận
  • Nhớ đình xưa nơi phố cũ
    Một buổi chiều cuối năm 2025, tôi trở về bên Hồ Gươm, nơi lưu giữ miền cổ tích của tuổi thơ mình. Rảo bước trên vỉa hè phố Cầu Gỗ để vào chợ Hàng Bè, nơi tôi đã đi qua không biết bao lần trong suốt 25 năm đầu đời của mình (1954-1979), tôi bỗng ngỡ ngàng như lạc vào một miền xa lạ.
  • Bến xe Hà Nội: Nơi những hành trình bắt đầu từ ký ức
    Trong nhịp sống hối hả của Thủ đô, bến xe không chỉ là nơi đi và đến. Đó còn là nơi lưu giữ ký ức của biết bao thế hệ — nơi những người con xa quê lần đầu đặt chân tới Hà Nội, nơi những chuyến xe chở theo ước mơ, hy vọng và cả những nỗi niềm rất đời thường.
  • Chiếc vé nhỏ - Câu chuyện tàu điện Hà Nội xưa
    Mỗi khi nghe ca khúc “Nhớ về Hà Nội”, những người Hà Nội ngoài ngũ tuần chắc hẳn lại nhớ về một thời xa vắng khi tiếng leng keng của tàu điện đánh thức phố phường mỗi sớm mai. Những chuyến tàu xanh hay đỏ, ghế gỗ, vành sắt mòn bóng đã chở biết bao thế hệ người Hà Nội. Ít ai nghĩ câu chuyện về những chuyến tàu ấy lại bắt đầu từ một thứ nhỏ bé: chiếc vé.
  • Phố và phường qua những ngôi đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội
    Hà Nội, trong lịch sử dài lâu của mình, được tạo nên bởi “phố” và “phường”. “Phố” và “phường” Hà Nội không chỉ là đơn vị hành chính mà còn hàm chứa những thăng trầm của lịch sử, những đổi thay của xã hội và những giá trị được kiến tạo bởi các cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Một trong những điểm nổi bật của quá trình kiến tạo này là sự gắn bó mật thiết giữa “phường” với tư cách là đơn vị hành chính đô thị và “phường” với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp và “phố” là nơi buôn bán của cư dân đô thị. Trải qua thời gian, dấu ấn đậm nét của những phường nghề Thăng Long xưa vẫn được lưu lại ở các ngôi đình thờ tổ nghề ngay trong vùng lõi của Thủ đô, được gọi là khu phố cổ.
  • Kiến tạo bản sắc Hà Nội từ văn hóa dân gian
    Vốn được hiểu là tổng thể những đặc trưng văn hóa ổn định, bản sắc văn hóa của một nơi chốn trên thực tế lại không ngừng vận động, biến đổi qua thời gian. Bản sắc văn hóa Hà Nội cũng không phải ngoại lệ. Là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài, bền bỉ, bản sắc văn hóa Hà Nội là sự kết tinh của quá trình đan xen, bồi đắp của những lớp trầm tích của đời sống dân gian và những mảng màu đa sắc của đời sống đô thị hàng nghìn năm. Trong quá trình này, văn hóa dân gian giữ vai trò nền tảng, từ đó, bản sắc văn hóa Hà Nội được định hình; và qua biết bao lớp vun bồi của giao lưu văn hóa, qua bao chảy trôi, thăng trầm của lịch sử, qua những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, vẫn có thể thấy vẻ đẹp đặc sắc của linh hồn phố thị Hà Nội được kiến tạo từ văn hóa dân gian.
  • Lễ hội chùa Vua xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sắc cuộc thi “cờ người” đất Thăng Long – Hà Nội
    Thông tin UBND phường Hai Bà Trưng (TP. Hà Nội) cho biết, Lễ hội truyền thống chùa Vua - xuân Bính Ngọ 2026 sẽ diễn ra từ ngày 22 – 25/2 (mùng 6 đến mùng 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ). Lễ hội được khai mạc vào sáng ngày 25/2 (ngày 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ) tại chùa Vua (số 17 Thịnh Yên), trong đó đặc sắc nhất là phần thi cờ tướng.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • “Chìa khóa” để Hà Nội khai thác hiệu quả nguồn lực từ quảng cáo, phát triển công nghiệp văn hóa
    Quá trình phát triển đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng và mở rộng không gian công cộng, Hà Nội đã hình thành nhiều vị trí có tiềm năng khai thác quảng cáo, góp phần phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, chỉnh trang đô thị và phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô. Nhất là vừa qua, thực hiện Luật Thủ đô 2026, HĐND thành phố Hà Nội khóa XVII đã ban hành Nghị quyết số 33/2026/NQ-HĐND, là nghị quyết đầu tiên quy định cơ chế quản lý và khai thác hoạt động quảng cáo theo cơ chế đặc thù của Thủ đô Hà Nội,
  • Đặc sắc Chương trình chính luận nghệ thuật “Sao Độc lập” năm 2026
    Tối 30/8 tại Nhà hát Hồ Gươm, Bộ Công an phối hợp với Tạp chí Cộng sản tổ chức chương trình chính luận nghệ thuật “Sao Độc lập” năm 2026 với chủ đề “Ánh sao độc lập - Khát vọng Việt Nam hùng cường”.
  • Bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt
    Trường ca “Thần Nông chân đất” của nhà thơ Phùng Trung Tập (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 12 chương, với 184 trang. Tác phẩm tái hiện và ngợi ca lao động nông nghiệp như nền tảng sinh tồn của cộng đồng Việt, đồng thời đưa người nông dân lên tầm biểu tượng văn hóa - lịch sử - những “Thần Nông chân đất” đã mở cõi, dựng làng, giữ nước và truyền sinh khí cho non sông qua hàng nghìn năm. Đây là bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt Nam trong chiều dài lịch sử dân tộc.
  • Các điểm gửi xe miễn phí tại Hà Nội trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9
    Nhằm phục vụ người dân tham quan và vui chơi dịp Lễ Quốc khánh 2/9, Hà Nội bố trí nhiều điểm trông giữ xe hoàn toàn miễn phí từ 17h00 ngày 31/8/2026 đến hết ngày 02/9/2026. Các vị trí đỗ xe trải rộng tại các tuyến phố trung tâm, di tích lịch sử, công viên lớn, trường học và bến xe cửa ngõ...
  • Phường Chương Mỹ lấy ý kiến Nhân dân về Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt đô thị 2A kéo dài
    UBND phường Chương Mỹ (TP Hà Nội) vừa niêm yết công khai hồ sơ phương án tuyến, vị trí công trình và mẫu phiếu lấy ý kiến để các cơ quan, tổ chức, cá nhân và đại diện cộng đồng dân cư trên địa bàn nghiên cứu, tham gia đóng góp ý kiến về Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt đô thị số 2A kéo dài (Hà Đông – Xuân Mai).
Đừng bỏ lỡ
Nhớ nghề ren ở làng Bình Đà xưa
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO