Hà Nội xưa - nay

Ký ức Hà Nội thời bao cấp qua di sản kiến trúc

Phương Thúy 11:44 15/11/2024

Lịch sử đô thị Hà Nội có tầng tầng, lớp lớp các công trình kiến trúc được chia thành nhiều giai đoạn. Nếu như các công trình kiến trúc Pháp là minh chứng cho bước đầu du nhập văn minh phương Tây thì những công trình mang phong cách kiến trúc Đông Dương lại là sự kết hợp độc đáo giữa văn hóa phương Đông và phương Tây. Những công trình kiến trúc thời kì 1954 - 1986 đã thể hiện một tiếng nói mới, có sự kế thừa, học hỏi và sáng tạo, mang bản sắc kiến trúc Việt Nam, góp phần kiến tạo xã hội trong tâm thế một dân tộc được làm chủ vận mệnh của mình.

ban-sao-cua-thi-diem-lap-ghep-nha-o-khu-truong-dinh-1971-.jpg
Bản sao của Thí điểm lắp ghép nhà ở khu Trương Định (1971)

Từ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, chung tay kiến thiết, tập trung sản xuất chi viện cho miền Nam. Trong không khí thời kì phát triển mới của Thủ đô và đất nước, nhiều công trình kiến trúc được xây dựng. Giai đoạn 1954 - 1986, Hà Nội bắt đầu xuất hiện kiến trúc xã hội chủ nghĩa ở một số công trình do Liên Xô viện trợ xây dựng, bao gồm: công trình công cộng (trụ sở cơ quan, trường học, công viên, cung lao động, cung thiếu nhi); công trình nhà tập thể (Kim Liên, Nguyễn Công Trứ, Giảng Võ, Trung Tự, Khương Thượng); công trình công nghiệp (nhà máy cơ khí, bóng đèn, phích nước, cao su, xà phòng, thuốc lá, dệt may, bánh kẹo, đường, vật liệu xây dựng).

Từ 1954 - 1965, thế hệ kiến trúc sư thứ nhất của Việt Nam chỉ học trong nước (trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương). Bước sang những năm 1973 - 1986, thế hệ kiến trúc sư thứ 2 của Việt Nam được hình thành với nền tảng tốt nghiệp trong và ngoài nước, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Phong cách xã hội chủ nghĩa thời kỳ này có mối liên hệ với kiến trúc xã hội chủ nghĩa Đông Âu, thể hiện rõ ở những mặt bằng, hình khối đa dạng và sinh động; bố cục điểm - tuyến - diện - khối; cho phép giải phóng không gian tầng 1. Trong các công trình cũng có những bức tường hoa gió và được làm chắn nắng trên mặt đứng.

cum-cong-nghiep-cao-xa-la-thoi-diem-moi-khanh-thanh.jpg
Cụm công nghiệp Cao Xà Lá thời điểm mới khánh thành

Nói về giá trị của kiến trúc thời bao cấp, KTS Vũ Hiệp - giảng viên Trường Đại học Giao thông vận tải phân tích: “Những giá trị có thể nhìn thấy rõ là sự thẩm mỹ, khoa học và công năng. Cụ thể hơn thì các công trình được tạo hình theo nguyên lý kiến trúc hiện đại; hạn chế chi tiết trang trí, đưa công nghệ bê tông vào xây dựng và giải pháp sinh khí hậu trong thiết kế; sử dụng rất chặt chẽ, đảm bảo hiệu quả cao nhất trong điều kiện kinh tế eo hẹp. Ngoài ra, những giá trị khác là kiến trúc thời kỳ này đã củng cố bản sắc kiến trúc Việt Nam, góp phần kiến tạo xã hội, là biểu tượng cho một đất nước độc lập, thoát khỏi ách đô hộ thực dân cũng như bước vào hòa giải dân tộc (giai đoạn sau 1975)”.

So với năm 1954, Hà Nội có những bước tiến đáng kể. Trong bối cảnh không gian đô thị mở rộng, phát triển theo quy hoạch tổng thể, có rất nhiều công trình quy mô lớn, đa dạng và phong phú về thể loại, phong cách. Là một phần trong lực lượng kiến trúc sư giai đoạn này, KTS Trần Thanh Bình chịu trách nhiệm thiết kế các công trình: Trụ sở Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (sau này là Bộ Giáo dục và Đào tạo), Trung tâm hóa vật liệu hạt nhân (sau này là Viện công nghệ Xạ hiếm), Trường Đại học Giao thông vận tải, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Học viện Âm nhạc Quốc gia... Ông nhớ lại: “Tinh thần chiến thắng giặc Mỹ của cả dân tộc đang phơi phới nên tâm thế phải xây dựng đất nước to đẹp hơn, đàng hoàng hơn cũng được thể hiện trong thiết kế. Phương châm thiết kế của thời kỳ này bao gồm: thích dụng, bền vững, kinh tế; phải đẹp và phải ở trong điều kiện có thể về kinh phí hạn hẹp, tiêu chuẩn thiết kế thấp (ở ngưỡng tối thiểu)”.

Thời kỳ này cũng có rất nhiều những kiến trúc công trình công cộng quy mô, đa dạng, phong phú về thể loại và phong cách đã ra đời như: Cung văn hóa hữu nghị Việt Xô (khởi công năm 1978), Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (khởi công năm 1973), Khách sạn Thắng Lợi (khởi công năm 1973)… Với kiến trúc nhà ở, đây cũng là bước phát triển đoạn tuyệt với nhà ở “ký túc xá”, “công xã” và chuyển hẳn sang căn hộ khép kín. Hà Nội được nhận diện với những mẫu nhà lắp ghép với các cấu trúc căn hộ mới. Điều đặc biệt nhất là những công trình luôn hướng tới phong cách hiện đại ở hình khối và tính bản địa, phù hợp với điều kiện khí hậu.
Nhưng bên cạnh những công trình, ước mơ và khát vọng của những kiến trúc sư trong bối cảnh khắc nghiệt cũng cần được nhắc tới trong di sản kiến trúc thời bao cấp. Bởi đối mặt với những khó khăn về tình hình kinh tế và xã hội, vật liệu, không gian sáng tạo, sự giao lưu tri thức nhưng những kiến trúc sư vẫn luôn có khát vọng vươn lên để xây dựng một đất nước hiện đại, xây dựng một xã hội mới qua kiến trúc, mang lại cuộc sống tốt đẹp, thoải mái nhất cho người dân. Một trong những câu chuyện thể hiện rõ nét nhất là “cuộc cách mạng bếp - xí - tắm”.

cung-thieu-thi-ha-noi-thoi-diem-moi-xay-dung..jpg
Cung Thiếu thi Hà Nội thời điểm mới xây dựng.

Thời bao cấp, chỉ có cán bộ cấp trung (cấp cục trưởng) mới được phân 1 căn hộ 2 phòng, cán bộ cấp cao (cấp thứ trưởng) được phân 2 căn hộ. Còn với đa số cán bộ, công nhân viên, chủ nghĩa bình quân được áp dụng - thường hai, ba gia đình ở chung một căn hộ, thậm chí ở chung phòng, sử dụng chung nhà bếp, nhà vệ sinh và nhà tắm. Vào đầu những năm 1980, tỷ lệ hộ chia sẻ căn hộ/ phòng hay ở chung/ ở tập thể ở Kim Liên là khoảng 61% (“Kiến trúc Hà Nội thế kỷ 19 - 20”, Đặng Thái Hoàng, Nxb Hà Nội, 1985). Sau khi đi học từ Liên Xô về, Kiến trúc sư Trương Tùng là người có 5 năm trải nghiệm cuộc sống trong khu tập thể Văn Chương, ông rất thấm nỗi khổ của người dân khi không có những không gian sinh hoạt riêng. Vì vậy, ông là người đã đưa ra chủ trương thiết kế căn hộ 2 phòng nhỏ để tiện phân chia, đồng thời thiết kế căn hộ có bếp và phòng tắm riêng.

Nhưng từ chủ trương đến thực hiện được là một hành trình rất dài. PGS.TS Nguyễn Văn Huy - Giám đốc Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam, sau này đã sưu tầm tài liệu của các nhà khoa học và từng trò chuyện sâu với KTS Trương Tùng, chia sẻ: “Trong quá trình đi học ở Liên Xô, KTS Trương Tùng đã sưu tầm 21 bản vẽ của các nước ở Châu Âu về cách các nước thiết kế không gian sống, mang về Việt Nam để thuyết phục cấp trên thực hiện. Ông kiên trì cho đến khi thuyết phục được. Năm 1969 - 1971, công trình nhà tập thể có bếp - xí - tắm đầu tiên được thí điểm trong trường Đại học Bách Khoa. Công trình đầu tiên này phải xây bằng tấm bê tông lớn nhưng Việt Nam lúc ấy chưa có nhà máy bê tông. Trong một lần đi dọc sông Hồng, ông thấy người ta đổ xỉ than bỏ đi. Ông nói rằng “cái tôi cần thì người ta lại bỏ”. Và ông đã đề xuất sử dụng xỉ than để làm bê tông tấm lớn, vừa nhẹ, vừa tiện dụng. Những tấm bê tông lớn đầu tiên ở nước ta được hình thành nhờ việc phơi nắng”.

Dù đã được thí điểm, KTS Trương Tùng vẫn tiếp tục không ngừng bền bỉ đấu tranh cho đến khi mô hình nhà tập thể này được thực sự xây dựng rộng rãi. Phải tới năm 1987, Nhà nước mới chính thức đưa ra tiêu chuẩn thiết kế xây dựng nhà ở, trong đó “căn hộ phải được thiết kế độc lập, khép kín với đầy đủ các bộ phận: phòng khách và các bộ phận phụ trợ” (Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam 1987). Những bài học từ ước mơ và khát vọng KTS Trương Tùng nói riêng hay thế hệ kiến trúc sư thời bao cấp nói chung trở thành một phần trong di sản kiến trúc.

“Ngoài tinh thần sáng tạo trong nghịch cảnh, bền bỉ và tâm huyết với ước mơ còn là sự ảnh hưởng lâu dài của kiến trúc thời bao cấp đến kiến trúc Việt Nam hiện đại, đặc biệt là các giá trị về tính bền vững, thực dụng và tinh thần cộng đồng. Những ước mơ và khát vọng của thế hệ kiến trúc sư thời ấy cũng đã tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển của kiến trúc Việt Nam hiện đại, và là nguồn cảm hứng cho thế hệ kiến trúc sư trẻ tiếp tục sáng tạo”, PGS. TS Nguyễn Văn Huy đúc rút.

“Hào hùng và bi tráng” là vậy nhưng trong câu hỏi “Kiến trúc nào đại diện cho bản sắc Hà Nội?” (một khảo sát xã hội do KTS Vũ Hiệp thực hiện), kiến trúc thời bao cấp chỉ chiếm 9%. (Kiến trúc truyền thống chiếm 56%, kiến trúc Pháp chiếm 18% và kiến trúc đương đại chiếm 17%). Để lý giải cho tỷ lệ hạn chế về di sản kiến trúc thời bao cấp, KTS Vũ Hiệp đã thực hiện một cuộc tổng hợp ý kiến của các chuyên gia. “Kiến trúc giai đoạn 1954 - 1986 được xây dựng trong giai đoạn đất nước khó khăn nên quy mô, sự phong phú về hình khối, cũng như chất lượng vật liệu không bằng các giai đoạn khác. Ký ức xã hội cũng khá phức tạp - trong khi vẫn nhớ về giai đoạn đó vì tự hào chiến thắng Mỹ nhưng lại muốn quên đi những khó khăn về kinh tế và đói nghèo do không được tự do kinh doanh và sản xuất. Kiến trúc giai đoạn này cũng ít được quảng bá đến công chúng. Khảo sát các sách lịch sử kiến ​​trúc trong 10 năm trở lại đây, chúng tôi nhận thấy sự thống trị của các cuốn sách về kiến ​​trúc thuộc địa Pháp và sự vắng bóng của kiến ​​trúc giai đoạn 1954 - 1986”, KTS Vũ Hiệp cho biết.

Nhìn lại kiến trúc thời bao cấp trong bối cảnh 5 năm Hà Nội gia nhập Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của UNESCO có thể thấy kiến trúc thời kỳ này cần được đánh giá khách quan hơn. Hà Nội là thành phố lớn duy nhất ở Đông Nam Á có một hệ thống di sản kiến trúc XHCN rõ nét, đầy đủ: công trình công nghiệp, công cộng, nhà ở. Những công trình đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh quá khứ, văn hóa và bản sắc của thành phố, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình phát triển của thành phố theo thời gian. Đây cũng là một nguồn lực đặc biệt của Hà Nội để xây dựng thương hiệu đô thị: Thành phố Vì hòa bình, Thành phố sáng tạo./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Nhớ đình xưa nơi phố cũ
    Một buổi chiều cuối năm 2025, tôi trở về bên Hồ Gươm, nơi lưu giữ miền cổ tích của tuổi thơ mình. Rảo bước trên vỉa hè phố Cầu Gỗ để vào chợ Hàng Bè, nơi tôi đã đi qua không biết bao lần trong suốt 25 năm đầu đời của mình (1954-1979), tôi bỗng ngỡ ngàng như lạc vào một miền xa lạ.
  • Bến xe Hà Nội: Nơi những hành trình bắt đầu từ ký ức
    Trong nhịp sống hối hả của Thủ đô, bến xe không chỉ là nơi đi và đến. Đó còn là nơi lưu giữ ký ức của biết bao thế hệ — nơi những người con xa quê lần đầu đặt chân tới Hà Nội, nơi những chuyến xe chở theo ước mơ, hy vọng và cả những nỗi niềm rất đời thường.
  • Chiếc vé nhỏ - Câu chuyện tàu điện Hà Nội xưa
    Mỗi khi nghe ca khúc “Nhớ về Hà Nội”, những người Hà Nội ngoài ngũ tuần chắc hẳn lại nhớ về một thời xa vắng khi tiếng leng keng của tàu điện đánh thức phố phường mỗi sớm mai. Những chuyến tàu xanh hay đỏ, ghế gỗ, vành sắt mòn bóng đã chở biết bao thế hệ người Hà Nội. Ít ai nghĩ câu chuyện về những chuyến tàu ấy lại bắt đầu từ một thứ nhỏ bé: chiếc vé.
  • Phố và phường qua những ngôi đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội
    Hà Nội, trong lịch sử dài lâu của mình, được tạo nên bởi “phố” và “phường”. “Phố” và “phường” Hà Nội không chỉ là đơn vị hành chính mà còn hàm chứa những thăng trầm của lịch sử, những đổi thay của xã hội và những giá trị được kiến tạo bởi các cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Một trong những điểm nổi bật của quá trình kiến tạo này là sự gắn bó mật thiết giữa “phường” với tư cách là đơn vị hành chính đô thị và “phường” với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp và “phố” là nơi buôn bán của cư dân đô thị. Trải qua thời gian, dấu ấn đậm nét của những phường nghề Thăng Long xưa vẫn được lưu lại ở các ngôi đình thờ tổ nghề ngay trong vùng lõi của Thủ đô, được gọi là khu phố cổ.
  • Kiến tạo bản sắc Hà Nội từ văn hóa dân gian
    Vốn được hiểu là tổng thể những đặc trưng văn hóa ổn định, bản sắc văn hóa của một nơi chốn trên thực tế lại không ngừng vận động, biến đổi qua thời gian. Bản sắc văn hóa Hà Nội cũng không phải ngoại lệ. Là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài, bền bỉ, bản sắc văn hóa Hà Nội là sự kết tinh của quá trình đan xen, bồi đắp của những lớp trầm tích của đời sống dân gian và những mảng màu đa sắc của đời sống đô thị hàng nghìn năm. Trong quá trình này, văn hóa dân gian giữ vai trò nền tảng, từ đó, bản sắc văn hóa Hà Nội được định hình; và qua biết bao lớp vun bồi của giao lưu văn hóa, qua bao chảy trôi, thăng trầm của lịch sử, qua những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, vẫn có thể thấy vẻ đẹp đặc sắc của linh hồn phố thị Hà Nội được kiến tạo từ văn hóa dân gian.
  • Lễ hội chùa Vua xuân Bính Ngọ 2026: Đặc sắc cuộc thi “cờ người” đất Thăng Long – Hà Nội
    Thông tin UBND phường Hai Bà Trưng (TP. Hà Nội) cho biết, Lễ hội truyền thống chùa Vua - xuân Bính Ngọ 2026 sẽ diễn ra từ ngày 22 – 25/2 (mùng 6 đến mùng 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ). Lễ hội được khai mạc vào sáng ngày 25/2 (ngày 9 tháng Giêng năm Bính Ngọ) tại chùa Vua (số 17 Thịnh Yên), trong đó đặc sắc nhất là phần thi cờ tướng.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Văn học nghệ thuật góp phần bồi đắp hình ảnh người Hà Nội thanh lịch, văn minh
    Hà Nội tự hào là nơi hội tụ, kết tinh và tỏa sáng của vùng đất địa linh nhân kiệt, hội tụ nhân tài của đất nước, một "Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người" và là "Thành phố anh hùng, Thành phố vì hòa bình". Đây chính là nguồn sức mạnh nội sinh, động lực tinh thần to lớn để phát triển Thủ đô hôm nay và thời gian tới. Từ ngàn xưa, nơi đây luôn luôn khơi dậy tinh thần tự hào, tình yêu, trách nhiệm; xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, hiện đại, tôn trọng pháp luật và lối sống nhân ái, nghĩa tình, trong sáng: "Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An".
  • [Podcast] Tản văn: Mùa hoa vông nem
    Mỗi lần xe bus dừng lại ngay con dốc để tôi rẽ vào xóm nhỏ, bao giờ cũng vậy tôi thường đi bộ thật chậm, bởi trong mỗi bước đi là cả một vùng trời ký ức. Tôi đi giữa hai hàng vông, đã chứng kiến bao sự đổi thay trên chính cuộc đời của chúng. Ban đầu chúng chỉ là những đoạn thân gỗ được vạt trụi lá rồi cắm dọc theo hai bên con đường nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, được làn mưa phùn tẩm ướt, từng chồi xanh bắt đầu nhú lên. Những chiếc lá kết chụm nhau tạo thành ché xanh mơn mởn.
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Màng bảo vệ PE - Giải pháp nhỏ, giá trị lớn
    Màng bảo vệ PE ngày càng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn như một giải pháp bảo vệ bề mặt hiệu quả.
  • Phường Tây Hồ tri ân người có công nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
    Sáng 24/7/2026, Đảng ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ phường Tây Hồ tổ chức Hội nghị tri ân người có công với cách mạng, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và gia đình chính sách nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026).
Đừng bỏ lỡ
  • Công bố Lễ hội Di sản và Âm nhạc Quốc tế Huế - Huế Wonderverse Music Fest 2026
    Lễ hội Di sản và Âm nhạc Quốc tế Huế - Huế Wonderverse Music Fest nhằm hiện thực hóa chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa của Chính phủ và định hướng xây dựng Huế trở thành Thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam.
  • Ca khúc “Hàng bia trắng”: Khi giai điệu hóa thành nén tâm nhang tri ân
    Kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7), nhạc sĩ Nguyễn Thành Trung vừa ra mắt ca khúc “Hàng bia trắng”. Tác phẩm vừa được giới thiệu trong chương trình nghệ thuật chính luận “Một thời hoa lửa” do Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với các đơn vị tổ chức tại Hà Nội tối 22/7. Qua chất giọng giàu nội lực và cảm xúc của Quán quân Sao Mai 2017 Thu Thủy cùng tiếng cello của nghệ sĩ Thiên Nga, tiếng guitar của nghệ sĩ Thanh Tùng, ca khúc đã góp phần lan tỏa thông điệp tri ân sâu sắc.
  • Khai mạc tuần phim kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
    Tối 21/7, tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia (Hà Nội), Bộ VHTTDL tổ chức Lễ khai mạc Tuần phim Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026). Tuần phim sẽ diễn ra từ ngày 21 – 28/7/2026 tại hơn 190 cụm rạp trên toàn quốc.
  • Đưa Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam trở thành biểu tượng hội tụ bản sắc văn hóa dân tộc
    Việc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam được chuyển giao về thành phố Hà Nội quản lý không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với thiết chế văn hóa đặc biệt này mà còn tạo thêm động lực để Thủ đô hiện thực hóa mục tiêu đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển. Đó là định hướng được nhấn mạnh trong Thông báo số 573-TB/TU ngày 16/7/2026 của Văn phòng Thành ủy về kết luận của đồng chí Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy tại buổi làm việc với Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.
  • Khởi động Cuộc thi sáng tác Ca khúc và Logo về phường Mường Thanh năm 2026
    Ban tổ chức mong muốn thu hút, khuyến khích đội ngũ nhạc sĩ, họa sĩ chuyên nghiệp lẫn không chuyên trên toàn quốc đóng góp tài năng, trí tuệ. Từ đó, địa phương sẽ lựa chọn được một biểu trưng chính thức cùng những ca khúc tiêu biểu mang tính khái quát cao, phản ánh chân thực bản sắc độc đáo và dòng chảy phát triển của phường.
  • Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam
    Các nhà khoa học, chuyên gia và nhà quản lý... trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm cùng các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại TP Huế.
  • Vinh danh 23 tấm gương “Người tốt, việc tốt” tiêu biểu trên địa bàn thành phố Hà Nội
    Thành phố Hà Nội trao tặng danh hiệu “Người tốt, việc tốt” cho 23 cá nhân xuất sắc thuộc ba cơ quan, đơn vị gồm: Sở Y tế thành phố Hà Nội; Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội.
  • Phường Sơn Tây: Nhiều hoạt động ý nghĩa lan tỏa đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”
    Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), Đảng bộ, chính quyền, MTTQ Việt Nam phường Sơn Tây (TP Hà Nội) tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa, thể hiện và lan tỏa đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” tốt đẹp của dân tộc Việt Nam cũng như người Hà Nội thanh lịch, văn minh nói riêng.
  • Từ một lần lạc đường đến một tình yêu Hà Nội
    Tôi nhớ Hà Nội không phải bởi những danh thắng nổi tiếng hay những con phố cổ rêu phong, mà bởi một lần lạc đường của tuổi sinh viên. Ngày ấy, giữa thành phố xa lạ, khi loay hoay tìm lối đi, tôi đã gặp những con người bình dị với cách ứng xử nhẹ nhàng, lịch thiệp và đầy thiện ý. Chính những cuộc gặp gỡ ngắn ngủi ấy đã giúp một cậu sinh viên miền Trung hiểu rằng, vẻ đẹp của Hà Nội không chỉ nằm ở cảnh sắc mà còn hiện hữu trong sự tử tế của những người đang sống nơi đây.
  • Hương vị mùa hè Hà Nội
    Những ngày giữa mùa hè, tôi tạm gác lại việc giảng dạy, theo bạn bè đi du ngoạn Cửu Trại Câu. Vùng đất này khi bước vào hè đẹp như một thế giới cổ tích giữa núi rừng Tây Tứ Xuyên. Bản thân tôi vốn yêu thiên nhiên nên cứ thế đi miên man giữa những hồ nước xanh ngọc bích trong veo phản chiếu bầu trời, thác nước trắng xóa đổ xuống giữa rừng nguyên sinh, phảng phất không khí mát lạnh của cao nguyên. Đi giữa Cửu Trại Câu mùa này, cảm giác như đang bước vào một bức tranh thiên nhiên khổng lồ. Chắc đó là lí do khiến nơi đây trở thành một trong những điểm đến đẹp nhất mùa hè ở Trung Quốc.
Ký ức Hà Nội thời bao cấp qua di sản kiến trúc
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO