Hà Nội xưa - nay

Ghi chép của Lê Quý Đôn về một số di tích ở kinh thành Thăng Long - Hà Nội

ThS. Nguyễn Thị Tô Hoài • 19:54 24/06/2024

Nhà bác học Lê Quý Đôn sinh thành đến nay đã gần tròn 300 năm. Kể từ khi ông còn thơ ấu cho đến hiện tại, người đời vẫn thường dùng nhiều mỹ từ để ca tụng ông như: thần đồng đất Việt, nhà bác học kiệt xuất, “tập đại thành” lớn của dân tộc Việt Nam… Các nghiên cứu về Lê Quý Đôn cũng luôn ghi nhận công lao đóng góp của ông trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt là Lê Quý Đôn đã để lại cho đời cả một lâu đài văn hóa và khoa học vô cùng quý báu.

den-bach-ma.jpg
Đền Bạch Mã
den-duc-thanh-ca.jpg
Đền Đức Thánh Cả

Trong tất cả các trước tác của Lê Quý Đôn, ông luôn khẳng định, đề cao văn hóa dân tộc và tự hào về nền văn hiến nước nhà. Rất nhiều tác phẩm của ông đã dành để mô tả cảnh đẹp quê hương đất nước, sản vật, phong tục tập quán… của các địa phương. Trong “Kiến văn tiểu lục”, ông dành hẳn một phần có tiêu đề là “Linh tích” để chép về sự tích những vị thần được thờ ở các đền miếu thuộc nhiều địa phương. Trên địa bàn Hà Nội ngày nay, ông đã mô tả khá chi tiết về sự tích của các vị thần được thờ ở một số di tích. Xin được dẫn chứng về 3 di tích đã được Lê Quý Đôn ghi trong mục “Linh tích” như sau:

1. “Miếu thờ Quảng Lợi linh hựu uy tế phu ứng đại vương ở bên cạnh chợ Cửa Đông thuộc Trung Đô (tức Hà Nội ngày nay). Trong U linh tập nói: Cao Vương xây dựng xong La Thành, một hôm đi đến Cửa Đông thành, chợt thấy năm khí sắc từ dưới đất vọt lên, trong ấy có người tiên mặc áo mũ như sáng mây, cưỡi rồng cầm giản điệp, phút chốc thì biến mất. Cao Vương lấy làm kì dị. Đêm nằm mộng thấy thần nhân bảo rằng: “Ta đây là thần vượng khí ở Long Đỗ”, thấy ông mới mở đô phủ nên mừng mà hiển hiện”. Cao Vương đem việc ấy nói rõ cho thuộc hạ biết, có người xin yểm trừ đi, bèn đem một ngàn cân vừa đồng vừa sắt chôn ở chỗ ấy. Chôn được một lát thì mưa gió nổi lên, đồng và sắt đều bật ra cả. Cao Vương lấy làm sợ hãi. Đến thời Thái Tông nhà Lý, mới đóng kinh đô ở Thăng Long, người bốn phương lũ lượt kéo đến, họp tập buôn bán, cùng nhau mở chợ Cửa Đông, lập đàn tràng đại hội sát liền ngay đền thờ thần, họ khởi công xây dựng nhà cửa suốt cả một phố dài, chỉ để một gian làm chỗ thờ. Chợt lúc ấy gió bấc nổi lên rất dữ, trốc cây, bay đá, một dãy nhà cửa hết thảy đổ sụp, chỉ có đền thờ vẫn trơ trơ như cũ, nhà vua nghe được việc này lấy làm kinh dị, xét hỏi duyên do, rồi sửa lễ tế tạ, hạ chiếu phong thần là Quảng Lợi vương. Hằng năm cứ đầu mùa xuân, làm lễ kì phước ở đền này. Hồi triều nhà Trần, chợ Cửa Đông ba lần thất hỏa, lửa cháy lan ra phố xá rất nhiều, duy đền thờ thần không bị tổn hại mảy may nào cả. Các triều vua đề gia phong tôn hiệu.” (Trích trong: Lê Quý Đôn toàn tập, tập 2, “Kiến văn tiểu lục”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 431 - 432).

tac-pham-kien-van-tieu-luc-cua-le-quy-don.jpg
Tác phẩm “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn

Ngôi miếu mà Lê Quý Đôn nhắc đến chính là ngôi đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ, tọa lạc ở số 76 phố Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội ngày nay. Đền Bạch Mã xưa nay vẫn được xem là trấn phía Đông (một trong 4 trấn Đông - Tây - Nam - Bắc) của kinh thành Thăng Long, Hà Nội.

Trong các di tích thuộc “Tứ trấn” ở Hà Nội thì đền Bạch Mã được xây dựng sớm hơn cả và đã có mặt từ thời Lý - Trần, được khẳng định qua chi tiết được nhiều sách cổ nhắc đến: khi đắp thành Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đã cho người cầu khẩn ở đền Long Đỗ. Hệ thống bia đá hiện còn tại di tích cho biết đền được mở rộng vào thời Lê, niên hiệu Chính Hòa (1680 - 1705). Năm Minh Mệnh nguyên niên (1820), đền được tu bổ. Năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), đền được sửa lại, dựng riêng văn chỉ ở bên trái, xây thêm phương đình ở phía trước đền để làm nơi cúng lễ trong các ngày tuần tiết. Đền được công nhận là di tích Lịch sử - Văn hóa năm 1986.

Tồn tại ngay trong lòng phố cổ với nhiều màu sắc, yếu tố nghệ thuật cùng một hệ thống truyền thuyết đầy tính lịch sử và linh thiêng về vị thần được thờ, đền Bạch Mã và Quảng Lợi vương được Lê Quý Đôn nhắc đến trong mục “Linh tích” trước sau vẫn giữ nguyên giá trị về một mốc giới linh thiêng của kinh thành Thăng Long nghìn năm văn hiến.

2. “Đền thờ Chiêu Ứng phù vận đại vương và Thuận Chính Phương Dung công chúa, hai phường Yên Thái và Bát Ân huyện Quảng Đức (nay là khu Ba Đình, Thành phố Hà Nội) cùng phụng sự. Tương truyền thần là vợ chồng Vũ Phục, người triều nhà Lý. Vũ Phục tên tự là Phúc Thiện người hương Minh Bạo, lộ Quốc Oai, làm nghề bán dầu. Lúc ấy vua nhà Lý bị đau mắt, thuốc chữa không khỏi, nghe nói ở vùng núi Vân Mộng huyện Kim Bảng có Quỷ Cốc tiên sinh, là người sở trường về nghề bói dịch, bèn sai người đến bói. Tiên sinh nói: “Trong quẻ này hình như có tượng vua chúa, vì bệ hạ định kinh đô, xếp đặt lại vị trí kinh thành, nên nước vỡ vào phương Kiền, làm cho sức soi dáng của con mắt bị thương tổn, nếu biết trấn yểm, sẽ có thể giữ được yên lành”. Lúc ấy nước sông Cái chảy xoáy, sắp pháp vỡ góc thành Thăng Long, phòng bị sang hộ khó có thể cứu được. Nhà vua liền sai xá nhân tắm gội trai khiết, đến ngã ba sông, cầu đảo thần thổ địa, thần hà bá và tiên cung. Xá nhân đêm nằm mộng thấy thần nhân hình dung rất kì dị, nghi vệ rất trang nghiêm bảo rằng: “Sáng sớm ngày nào đó, hễ thấy người nào đến bến sông này trước nhất, thì nên theo ý muốn của người ta mà tiếp đãi một cách đầy đủ, rồi quẳng người ấy xuống sông và phong cho làm thần, lập miếu thờ tự, mới có thể trấn áp được”. Xá nhân tỉnh dậy, về triều tâu bày, nhà vua rất lấy làm than thở nghi ngờ, liền sai xá nhân theo nhật kì đi đón. Ngày hôm ấy, trời vừa mới sáng, quả nhiên thấy vợ chồng Vũ Phục gánh dầu từ hương Minh Bạo đi đến. Xá nhân đón mời lưu lại, rồi phi ngựa về Kinh tâu bày, nhà vua có ý thương xót, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói: “Nên theo lời nói của thần, đem tình thật hiểu bảo người ta, không nên ức hiếp”. Bèn yên ủi rằng: “Từ trước đến nay, ai mà không chết, nhưng chết đi cần để danh tiếng lại đời sau. Ngày trước vua Vũ Vương có bệnh, Chu Công lập đàn cầu khẩn xin được chết thay, đời sau khen Chu Công là người trung. Ông bà không nên quyến luyến sống nơi ngõ hẻm hang cùng, mà nên cố sức làm bậc tôn thần sau khi đã mất, phù hộ thánh quân giữ vững ngôi báu, ngàn năm hương khói phụng thờ, để tiếng thơm trung nghĩa đến mãi đời sau. Như thế chẳng cũng đẹp đẽ lắm sao?”. Vũ Phục khảng khái nhận lời. Sứ giả hỏi: “Bình nhật ông bà thích thứ gì hơn cả?”. Vũ Phục nói: “Đồ gà mái, nấu cơm nếp”. Sứ giả liền sửa soạn và bảo nên ăn no. Khi ăn xong, Vũ Phục ngửa mặt lên trời khấn rằng: “Vợ chồng già này bỏ mình theo nước, trời cao có thấu xin chứng giám cho”. Liền đó, tự gieo mình xuống nước. Lúc ấy là ngày 30 tháng 11. Từ đấy dòng sông phẳng lặng, nước lớn rút dần, bệnh tình nhà vua cũng được khỏi hẳn. Nhân đấy lập miếu thờ và sắc phong là Chiêu Ứng phù vận đại vương và Thuận Chính Phương Dung công chúa, lễ nghi phẩm trật trọng thể”. (Trích trong: Lê Quý Đôn toàn tập, tập 2, “Kiến văn tiểu lục”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 433 - 434).

Ông bà Vũ Phục được Lê Quý Đôn nhắc đến được các làng của vùng Bưởi xưa gồm Yên Thái, Bái Ân, Thiên Thượng, Nghĩa Đô thờ phụng làm phúc thần với cái tên dân gian là ông Dầu, bà Dầu. Truyền thuyết về ông Dầu, bà Dầu có nhiều dị bản khác nhau cũng như được giải thích theo nhiều ý kiến. Có ý kiến cho rằng sự tích này giải thích hiện tượng cạn dòng của sông Thiên Phù. Có ý kiến thì cho rằng nó phản ánh tập tục lấy người sống làm vật tế lễ trước kia… Nếu lược đi từng lớp văn miêu tả nhuốm màu huyền bí, kì dị, thì cũng có thể qua đó thấy được công cuộc trị thủy thời Lý vô cùng vất vả. Phải chăng, ông bà Vũ Phục cũng tham gia công cuộc trị thủy dẫn đến hy sinh thân mình và trên cơ sở đó mà truyền thuyết đã huyền bí hóa một hiện tượng của lịch sử.

Mặt khác, truyền thuyết về ông bà Vũ Phục cũng thể hiện quan niệm đề cao tư tưởng trung quân của một thời kì Nho giáo thịnh đạt. Bởi vậy, Lê Quý Đôn đã lựa chọn thần tích hai vị phúc thần này để đưa vào mục “Linh tích” trong “Kiến văn tiểu lục” của ông.

3. “Xã Hữu Vĩnh, huyện Hoài An (nay là huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội) có miếu thờ thủy thần rất thiêng. Tương truyền, lúc Hoằng tổ Dương Vương chứa mấy trăm cây gỗ lớn ở bến sông Bồ Đề, một hôm bị mất hết không còn một cây nào cả. Người giữ gỗ báo tin ấy, vương thượng lấy làm lạ, sai người đi tìm khắp các bến sông, thì thấy hai người xã Độc Khê và Hữu Vĩnh, dâng nói: “ngày… tháng…, ở bến sông bản cảnh, bỗng dưng thấy mấy trăm cây gỗ lớn nổi trên mặt nước”. Vương thượng quát mắng rằng: “Thủy thần dám lấy trộm gỗ của ta à”, rồi truyền lệnh giáng phẩm vật vị thần này xuống hạ đẳng và sai trung sứ về miếu thu lấy sắc mệnh đã phong từ trước. Sáng sớm sứ giả bắt đầu ra đi, đến chiều, đã thấy chỗ chứa gỗ trước kia có vô số gỗ lớn ở bến sông, y số như cũ. Vương thượng cười nói: “Thần cũng biết sợ phép”, liền sai người phu ngựa gọi trung sứ trở về, tự điển vẫn để cho như cũ”. (Trích trong: “Lê Quý Đôn toàn tập”, tập 2, “Kiến văn tiểu lục”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 438).

Miếu thờ được Lê Quý Đôn nhắc đến ở trên là đền Đức Thánh Cả hay còn gọi là Thiên Vựng thuộc thôn Hữu Vĩnh, xã Hồng Quang, huyện Ứng Hòa ngày nay. Tương truyền, đền được xây dựng cách đây trên 1.500 năm. Đền thờ thần là vị tướng “Nhất phẩm đại vương” triều tiền Lý Nam Đế.

Các truyền thuyết về ngôi đền cũng kể rằng vào triều Đinh Tiên Hoàng, khi nhà vua đến đền cầu khẩn đã được thần báo mộng là sẽ âm phù giúp vua dẹp loạn 12 sứ quân. Nhớ ơn thần phù giúp, vua Đinh sắc phong “Thượng đẳng thần” cùng mỹ tự “Thượng linh tế thông cảm dực thánh hồng ân uy liệt hiển hựu trung minh quốc Thượng đẳng thần”. Đến thời nhà Trần, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn cũng đã vào đền làm lễ tế thần sau đó tiến đánh quân giặc giành đại thắng.

Trải qua những chặng đường lịch sử binh lửa, thế vận đổi thay của dân tộc, đền Đức Thánh Cả vẫn trường tồn như một biểu tượng về tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Đền đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào năm 1991./.

Bài liên quan
  • Một con phố vẫn thơm mùi thuốc Bắc
    Phố nghề Lãn Ông kéo dài khoảng 180m, nằm trên khu vực từng là đất thôn Hậu Đông, tổng Hậu Túc của huyện Thọ Xương cũ, nay thuộc phường Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp chiếm đóng Hà Nội và đặt tên cho con phố này là “rue de Fou-Kien” (nghĩa là phố Phúc Kiến) do có nhiều người Hoa Kiều từ tỉnh Phúc Kiến di cư về đây sinh sống. Vào năm 1949, con phố này được đổi tên thành Lãn Ông - lấy theo biệt hiệu của vị danh y Việt Nam là Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.
(0) Bình luận
  • Lớp học thời chiến và ký ức từ những vùng sơ tán
    Nhân kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2026), sáng 8/10, Bảo tàng Hà Nội tổ chức tọa đàm “Lớp học thời chiến - Ký ức từ những vùng sơ tán”. Những ký ức của những giáo viên, học sinh từng học tập, giảng dạy tại các vùng sơ tán trong những năm chiến tranh được chia sẻ trong tọa đàm đã tái hiện một giai đoạn đặc biệt của giáo dục Thủ đô.
  • Thể lệ cuộc thi viết “Hà Nội & Tôi” lần thứ III với chủ đề “Ký ức và ước vọng"
    Tiếp nối thành công của cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" lần thứ I và II, Tạp chí Người Hà Nội phát động cuộc thi viết “Hà Nội & Tôi” lần thứ III với chủ đề “Ký ức và ước vọng".
  • Nhớ đình xưa nơi phố cũ
    Một buổi chiều cuối năm 2025, tôi trở về bên Hồ Gươm, nơi lưu giữ miền cổ tích của tuổi thơ mình. Rảo bước trên vỉa hè phố Cầu Gỗ để vào chợ Hàng Bè, nơi tôi đã đi qua không biết bao lần trong suốt 25 năm đầu đời của mình (1954-1979), tôi bỗng ngỡ ngàng như lạc vào một miền xa lạ.
  • Bến xe Hà Nội: Nơi những hành trình bắt đầu từ ký ức
    Trong nhịp sống hối hả của Thủ đô, bến xe không chỉ là nơi đi và đến. Đó còn là nơi lưu giữ ký ức của biết bao thế hệ — nơi những người con xa quê lần đầu đặt chân tới Hà Nội, nơi những chuyến xe chở theo ước mơ, hy vọng và cả những nỗi niềm rất đời thường.
  • Chiếc vé nhỏ - Câu chuyện tàu điện Hà Nội xưa
    Mỗi khi nghe ca khúc “Nhớ về Hà Nội”, những người Hà Nội ngoài ngũ tuần chắc hẳn lại nhớ về một thời xa vắng khi tiếng leng keng của tàu điện đánh thức phố phường mỗi sớm mai. Những chuyến tàu xanh hay đỏ, ghế gỗ, vành sắt mòn bóng đã chở biết bao thế hệ người Hà Nội. Ít ai nghĩ câu chuyện về những chuyến tàu ấy lại bắt đầu từ một thứ nhỏ bé: chiếc vé.
  • Phố và phường qua những ngôi đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội
    Hà Nội, trong lịch sử dài lâu của mình, được tạo nên bởi “phố” và “phường”. “Phố” và “phường” Hà Nội không chỉ là đơn vị hành chính mà còn hàm chứa những thăng trầm của lịch sử, những đổi thay của xã hội và những giá trị được kiến tạo bởi các cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Một trong những điểm nổi bật của quá trình kiến tạo này là sự gắn bó mật thiết giữa “phường” với tư cách là đơn vị hành chính đô thị và “phường” với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp và “phố” là nơi buôn bán của cư dân đô thị. Trải qua thời gian, dấu ấn đậm nét của những phường nghề Thăng Long xưa vẫn được lưu lại ở các ngôi đình thờ tổ nghề ngay trong vùng lõi của Thủ đô, được gọi là khu phố cổ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
  • Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Tấn Phát: Hành trình sáng tạo, làm mới sơn mài truyền thống
    Từ những bức tranh sơn mài trên mặt phẳng đến các tác phẩm tạo hình, Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Tấn Phát (phường Sơn Tây, TP Hà Nội) đã lựa chọn một hướng đi riêng với chất liệu truyền thống. Quá trình học tập, thực hành và tìm tòi thiết kế, anh không chỉ khai thác những đặc trưng vốn có của sơn mài mà còn thử nghiệm cách làm mới, đưa chất liệu sơn mài đến gần hơn với không gian đương đại, bồi đắp hình ảnh sáng tạo của con người Thủ đô.
  • Tận dụng dữ liệu số, Hà Nội cắt giảm nhiều thủ tục trong lĩnh vực văn hóa và di sản
    Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân cũng như doanh nghiệp, Thành phố Hà Nội đã triển khai phương án cắt giảm, tối ưu hóa 5 quy trình xử lý thuộc các lĩnh vực Quảng cáo, nghệ thuật biểu diễn và di sản văn hóa...
  • Lễ hội Đả Ngư đền Và năm 2026: Hướng về nguồn cội, quảng bá các giá trị lịch sử, văn hóa Hà Nội
    Cụ thể hóa Chương trình hành động số 08-Ctr/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống, UBND phường Sơn Tây (TP Hà Nội) cho biết, đang tích cực triển khai các công tác chuẩn bị, sẵn sàng tổ chức Lễ hội Đả Ngư đền Và - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  • Hà Nội khơi thông “điểm nghẽn”, thúc đẩy công nghiệp văn hoá Thủ đô
    Cụ thể hóa Điều 27 Luật Thủ đô 2026, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã ban hành Nghị quyết quy định về phát triển kinh tế ban đêm trên địa bàn Thành phố (Nghị quyết số 34/2026/NQ-HĐND). Đây là văn bản pháp lý quan trọng, góp phần giải quyết các “điểm nghẽn” của phát triển kinh tế đêm, định hướng lại không gian phát triển, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng cường ứng dụng công nghệ và nâng cao hiệu quả quản trị đô thị ban đêm của Hà Nội trong thời kỳ mới.
  • Phát vé miễn phí cho khán giả xem Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng 2026
    Từ 9h hôm nay ngày 13/10, Ban tổ chức Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng 2026 bắt đầu phát vé miễn phí phục vụ khán giả tại Rạp Đại Nam (số 89 phố Huế, phường Hai Bà Trưng, Hà Nội). Liên hoan diễn ra từ ngày 14 đến 23/10, quy tụ 15 đơn vị nghệ thuật với 15 tác phẩm, biểu diễn tại 10 địa điểm trên địa bàn Thủ đô.
  • Hà Nội kiểm kê hơn 2.000 di sản văn hóa phi vật thể
    Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Vũ Thu Hà vừa chính thức phê duyệt việc tổng kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn Thủ đô. Với 2.098 di sản thuộc 6 loại hình trải rộng khắp 126 xã, phường, đây được xem là bước đi quan trọng nhằm nhận diện, giữ gìn và khơi dậy sức sống cho kho tàng văn hóa dân gian phong phú của Hà Nội.
  • Cỗ gà lão làng Triều Đông
    Triều Đông là một trong năm làng của xã Tân Minh, huyện Thường Tín (nay thuộc xã Thượng Phúc, Thành phố Hà Nội), thờ ba vị thần Việt Hồng, Việt Tuấn và Việt Chân.
  • Lan tỏa tình yêu Hà Nội từ không gian âm nhạc cộng đồng
    Tối 11/10, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Không gian Âm nhạc cộng đồng – Điểm hẹn cuối tuần” do Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội tổ chức mang đến cho công chúng không gian âm nhạc giàu cảm xúc, nơi những giai điệu dân gian truyền thống hòa quyện cùng các ca khúc về Hà Nội, quê hương, đất nước.
  • Ra mắt tiểu thuyết “Xứ sở vô danh” của nhà văn người Pháp gốc Việt Đoan Bui
    Chiều ngày 11/10/2026, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức buổi giao lưu, ra mắt tiểu thuyết “Xứ sở vô danh” của nhà văn người Pháp gốc Việt Doan Bui, do dịch giả Thuận chuyển ngữ. Tác phẩm từng được đề cử Giải Femina (Prix Femina) - một giải thưởng văn chương danh giá của Pháp.
  • “Tán Đa Show #02”: Hà Nội tháng Mười ngân vang dưới tán cây trăm tuổi
    Tối 10/10, giữa không khí rộn ràng kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô, khoảng sân nhìn ra hồ Hoàn Kiếm của Báo Nhân Dân (71 Hàng Trống) đông kín người. Gần 2.000 khán giả đã đến với “Tán Đa Show #02”, nhiều gấp đôi so với đêm diễn đầu tiên. Trong hai giờ, từ 19h đến 21h, họ nghe nhạc, trò chuyện với nghệ sĩ và cùng nhau thưởng thức một buổi tối thu Hà Nội.
Ghi chép của Lê Quý Đôn về một số di tích ở kinh thành Thăng Long - Hà Nội
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO