Cuộc thi viết Hà Nội & Tôi

Cây cầu, hồn quê gây thương nhớ xứ Đoài

Phan Ngọc Anh 11:58 27/08/2024

Cách trung tâm Thủ đô Hà Nội khoảng chừng gần ba chục cây số về phía Tây, xã Thạch Xá huyện Thạch Thất được mọi người biết đến là một miền đất cổ của xứ Đoài xưa. Nơi đây nổi tiếng với sáu mươi tư pho tượng cổ có tuổi đời mấy trăm năm ở trong ngôi cổ tự nằm trên núi Câu Lâu (chùa Tây Phương), trong đó có ba mươi tư pho tượng đã được nhà nước công nhận là Bảo vật Quốc gia.

mai-cau-va-ban-tho-than-linh-trong-cau.jpg
Mái cầu và bàn thờ thần linh trong cầu

Không chỉ vậy, vùng đất này còn có nghề truyền thống làm chè lam (đặc sản), làm chuồn chuồn tre (trò chơi dân gian) và múa rối nước (nghệ thuật dân gian). Đặc biệt ở thôn Yên của xã còn có một cây cầu nổi bật lên với hình dáng kiến trúc rất kỳ lạ, độc đáo; bắc qua con ngòi (dẫn nước từ Hương Ngải, Canh Nậu, đồng Bùi ra sông Tích) để đi vào làng. Chính cái hình dáng nổi bật và độc đáo, kỳ lạ ấy mà cây cầu từ khi nào chẳng biết đã trở thành một mảnh hồn quê của mỗi người dân nơi đây và gây biết bao thương nhớ cho cả những người ngang qua.

Cây cầu, mảnh hồn quê gây thương nhớ của thôn Yên, xã Thạch Xá nằm ở phía Đông của làng, trên trục đường liên thông đến xã Hữu Bằng nên được rất nhiều người biết đến. Cây cầu có hình cong khum trên mái, giống như con thuyền úp ngược nên được người trong vùng gọi là cầu Khum. Đây là cây cầu rất cổ. Người làng chỉ biết là rất cổ thôi còn cổ như thế nào, có từ khi nào thì ngay cả những người già nhất trong thôn cũng không thể nào biết rõ. Các cụ bảo rằng khi sinh ra đã thấy có cầu rồi, chỉ nghe truyền lại, cây cầu này có từ lâu và lần trùng tu gần nhất là năm 1935 (niên đại sửa chữa còn ghi trên cửa đi vào, cửa phía Đông). Như vậy, tính từ mốc trùng tu lại, cây cầu cũng đã ngót trăm tuổi. Cổ kính quá đi rồi còn gì nữa! Ngồi trong lòng cầu nhìn lên bộ đòn tay và những cột kèo chúng tôi thấy có những vết màu đen. Cứ tưởng khói hương lâu năm trong cầu quấn quện làm thành những dấu tích thời gian bám trên vỏ gỗ nhưng không phải. Thấy khách ngắm nhìn, chỉ chỏ những mảng màu đen xám bám trên thân gỗ trong cầu, các cụ ngồi chơi liền kể lại cho chúng tôi nghe. Chẳng là, năm 1948, giặc Pháp càn quét qua Yên thôn. Không chỉ bắn phá, chúng còn đốt cây cầu. Cũng may, dân làng kịp thời đến dập lửa cứu chữa nên cầu mới còn lại đến bây giờ. Hóa ra những vết màu đen xám kia chính là những dấu tích của vụ đốt cầu, càn quét năm xưa còn xót lại.

Nhìn hình dáng bên ngoài, phần trên của cây cầu giống như con thuyền úp ngược, nét cong và kiến trúc theo kiểu “thượng gia hạ kiều” (phía trên là nhà, phía dưới là cầu), giống như chùa Cầu ở phố cổ Hội An (Quảng Nam). Cầu có chiều dài ước chừng khoảng mười hai mét, chia thành năm gian hai dĩ. Trong đó gian giữa dài khoảng ba mét rưỡi và nhô cao nhất ở giữa cầu, các gian bên mỗi gian dài khoảng hai mét, hạ thấp dần và cong đều về hai bên đầu hồi theo chiều Đông - Tây. Hai phía hai đầu hồi xây tường bít đốc, bổ bốn trụ, phía dưới mở cửa rộng kiểu cửa tò vò để làm lối vào (bên Đông) ra (bên Tây), phía trên có trang trí trụ đèn lồng, trụ hoa biểu, nghê chầu và các hoa lá khá tinh xảo, nhìn rất đẹp mắt. Chiều ngang của cây cầu ở gian giữa, các gian bên cùng những vì kèo và hai mái không giống nhau. Gian giữa rộng hơn, khoảng năm mét. Các gian bên hẹp hơn, thu dần về hai đầu hồi, chỗ hẹp nhất khoảng hơn bốn mét. Gian giữa mái bên mạn Bắc thiết kế khác bên mạn Nam, phía sau tường nhô lên cao hơn và xây kiểu tường hồi bít đốc để làm bàn thờ chính (thờ Quan Thần Linh). Mạn phía Nam mái chảy dốc xuôi như các gian bên nhưng tường hậu cũng xây kín lên tận mái để làm bàn thờ Thần Kim Quy và Thần Đại Bàng. Mái cầu được làm bằng gỗ tứ thiết nên rất bền bỉ. Nhà trên cầu (thượng gia), ngoài gian giữa và hai gian ngoài cùng xây bằng gạch từ mặt cầu lên tận mái ngói thì hai gian bên cạnh gian giữa xây gạch từ mặt cầu hất lên khoảng hơn nửa mét, phần còn lại lên đến mái nhà trang trí chắn song bằng các con tiện gỗ như cửa sổ và để không, để lấy ánh sáng và tạo sự thông thoáng. Ngoài tường gạch, ngôi nhà được còn được kết cấu với nhau bằng hai hàng cột cái và hai hàng cột quân. Các vì liên kết với nhau bằng kèo suốt, câu nối hai ngọn kèo, xà nách với cột cái và cột con. Trên mái gỗ có lợp ngói mũi hài nhìn rất cổ kính. Các gian hai bên, cạnh gian giữa, phía hai bên thành cầu, từ mặt cầu lên chỗ con tiện, có ghép sàn gỗ, cách mặt cầu khoảng hơn nửa mét. Sàn gỗ này được dùng làm chỗ ngồi nghỉ ngơi cho mọi người trong thôn đến hóng mát, ngắm cảnh (sàn gỗ mỗi bên rộng chừng một mét). Mặt cầu được lát gạch nung đỏ, bằng cách xếp nghiêng các viên gạch với nhau nên rất đẹp và bền.

cau-khum-thon-yen-xa-thach-xa-nhin-tu-phia-ben-trai.jpg
Cầu Khum (thôn Yên xã Thạch Xá) nhìn từ phía bên trái

Phía dưới thượng gia là hạ kiều, tức là phần cầu, được xây bằng gạch đá ong. Cầu được kiến trúc theo lối cuốn cống vòm bằng gạch đá ong đẽo hình múi cam (gạch đá ong là một vật liệu xây dựng đặc trưng của xứ Đoài). Đá ong ở phần chân cầu, chỗ cuốn vòm được xếp nghiêng nên chắc và rất khỏe, có khả năng chịu lực tốt. Toàn bộ chân cầu được thiết kế ba cửa cống uốn vòm. Trong đó cửa cống ở giữa rộng nhất, khoảng gần ba mét nên khi nước xuống thấp người ta có thể bơi thuyền nhỏ đi xuyên qua cống.

Trước kia, khi chưa có con đường phía bên tay phải cầu để đi vào thôn Yên thì cầu Khum chính là cổng làng, giống như là một con đường độc đạo dẫn vào làng. Các cụ già trong thôn có kể, vào khoảng giữa thập niên tám mươi của thế kỷ trước, khi đời sống của nhân dân phát triển, cầu Khum không đáp ứng được nhu cầu giao thông nên thôn phải mở con đường rộng hơn ở bên cạnh cầu để các phương tiện giao thông vào ra trong làng thuận tiện. Kể từ đó vai trò kết nối giao thông của cây cầu không còn nữa. Tuy nhiên người làng Yên vẫn lưu giữ cây cầu để hoài niệm. Theo đó cây cầu lại trở thành nơi vui chơi và thực hiện các nghi thức tâm linh của làng. Thường thì vào những ngày rằm, ngày mùng một hàng tháng và các ngày lễ tết hoặc khi có việc cần thiết, người trong thôn thường hay ra cầu dâng hương cúng lễ thần linh xin phù hộ. Đặc biệt hàng năm, vào những “ngày xuân thu nhị tế”, hai mươi tháng Hai và hai mươi tháng Tám (âm lịch), nhân dân làng Yên thường tổ chức dâng hương, lễ rước thần linh từ bàn thờ ở trong cầu Khum vào trong làng để thể hiện lòng thành kính, đồng thời cũng cầu xin thần linh che chở cho dân làng, xin cho được mưa thuận gió hòa để nhân khang vật thịnh, sinh sôi phát triển, làm ăn thuận lợi. Có lẽ bởi vậy mà trên bàn thờ trong cầu và phía đầu cổng vào ngoài mặt cầu; lối cổng ra đằng sau cầu có viết các câu đối chữ Hán. Trong đó đáng chú ý là bức hoành phi và đôi câu đối chữ Hán ca ngợi thần linh ở gian giữa của cây cầu. Bức hoành phi ghi ba chữ: “Kính như tại” (kính thần như thấy thần tại đây), hai bên có đôi câu đối làm bằng gỗ có khắc chữ “Hùng trấn nhất phương tư địa mạch/ Mạc phù hạp hảnh gián xuân phong” (thần trấn giữ nơi này, mang lại điều tốt lành cho dân).

Theo truyền kể, trước kia ở Tam Thôn (Chàng thôn, Thạch thôn, Yên thôn - đất Thạch Xá xưa) có hai cây cầu làm theo kiểu “thượng gia hạ kiều”. Đó là cầu Bạch Đa ở phía Tây, bắc qua chỗ hẹp nhất của đầm Chàng (trên đường đi ra đường cái quan); cầu Khum ở phía Đông tức cây cầu vào làng Yên. Nay chỉ còn cầu Khum ở Yên thôn. Cầu Bạch Đa đã bị hư hại, không còn. Cũng theo sử sách xưa ghi lại thì đất xứ Đoài xưa còn có ba cây cầu khác cùng làm theo kiểu “thượng gia hạ kiều”. Đó là hai cầu Nhật Tiên Kiều, Nguyệt Tiên Kiều giữa hồ nước dưới chân núi Thầy (xã Sài Sơn huyện Quốc Oai) và một cây cầu ở Đường Lâm, bắc qua một nhánh của sông Tích. Tuy nhiên cây cầu ở Đường Lâm cũng bị hư hại và không còn. Như vậy cùng với hai cây cầu ở chùa Thầy (tương truyền do Trạng Bùng – Phùng Khắc Khoan cung tiến), cầu Khum ở làng Yên có thể xếp vào loại những cây cầu cổ xưa nhất còn sót lại. Đó là những cây cầu thuộc vào loại hàng “hiếm” và “quý” của quê hương xứ Đoài nói riêng và của Thủ đô nói chung. Cây cầu làng Yên ngày nay vẫn sừng sững và duyên dáng giữa dòng nước như một nét chấm phá và hoài niệm của người kẻ Nủa về một làng quê thời xa xưa giữa bốn bề làng xã đang ngày càng hiện đại hóa với những đường to trải nhựa và nhà cao tầng mọc lên san sát theo hướng phát triển của đô thị hóa. Cây cầu ấy, ngày nay, dẫu chức năng giao thông không còn nữa nhưng niềm tự hào một thủa về hình dáng độc đáo, cổ kính cũng như vai trò dẫn lối vào làng thì vẫn còn được lưu truyền trong ký ức của các thế hệ người Yên thôn qua câu ca đầy tự hào, thích thú: “Khom khom lưng tôm/ Lồm nhồm những vảy/ Nước chảy tuôn qua/ Nuốt người vào lại nhả người ra”.

Ngang qua làng Yên, nét xưa cổ kính của xứ Đoài vẫn còn đó. Cây cầu vẫn đêm ngày lặng lẽ soi mình xuống bóng nước xanh mát của con ngòi uốn lượn quanh co bên làng để làm nơi ngự trị tối cao của những đấng thần linh tối thượng. Nó không còn đưa chân người ta đi vào vào làng nhưng vẫn còn là nơi che chở cho sự bình an của dân thôn trong niềm tin tâm linh của mọi người. Dòng thời gian cứ lặng lẽ trôi đi trên những thân gỗ, màu gạch, sắc ngói nhưng nét duyên thầm của cây cầu vẫn không hề bị phai nhạt theo năm tháng. Chẳng những thế, giữa bao thay đổi thay hiện đại của làng quê, sắc màu cổ kính, rêu phong của chân đá ong, của mái ngói mũi hài cùng dáng hình cong cong, khum khum độc lạ của cây cầu giữa hồ nước trong xanh vẫn làm nao lòng và gây bao thương nhớ cho những người qua. Cứ như vậy, hẳn trong bao tâm trí của người dân thôn Yên, cây cầu đã trở thành một mảnh hồn quê, một nẻo đi về với những nỗi nhớ thương mỗi khi phải xa làng, cách mặt. Rồi mai đây, tháng năm cứ lặng lẽ trôi theo dòng thời gian bất tận, cây cầu sẽ vẫn còn duyên dáng, đáng yêu nơi đầu làng bến nước để làm bạn với những người già, trẻ thơ để lại đi vào trong ký ức và trở thành một chứng nhân cho quá trình phát triển của một vùng Tam thôn. Vậy đấy, hồn quê của cây cầu đơn sơ, mộc mạc, giản dị vậy thôi nhưng sẽ mãi là một báu vật của làng Yên, của kẻ Nủa, của xứ Đoài, của Hà Nội ngàn năm văn hiến./.

Tác phẩm tham dự cuộc thi viết "Hà Nội và tôi" của tác giả Phan Ngọc Anh. Thông tin về cuộc thi xem tại đây.
Bài liên quan
  • Nhớ Bưởi
    1. Chúng tôi về Bưởi, khi Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô thành lập vào năm cuối thập niên 60, thế kỷ XX. Các phòng nghiên cứu công nghệ của Viện làm việc trong các dãy nhà cấp bốn của Xí nghiệp giấy Dân Việt, Hợp tác xã giấy Đông Thành, còn phòng thiết kế làm việc tại chùa Hồ Khẩu, xưởng cơ khí đặt ở căn nhà tranh tre gần cổng làng.
(0) Bình luận
  • Đình Nội Bình Đà: Lưu giữ ký ức thiêng liêng về Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân
    Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, có những vùng đất không chỉ lưu giữ dấu tích của thời gian mà còn cất giữ trong mình ký ức thiêng liêng về cội nguồn dân tộc. Với tôi, đình Nội Bình Đà không chỉ là ngôi đình cổ của quê hương, mà còn gắn với tuổi thơ, với những mùa lễ hội tháng ba âm lịch và với niềm tự hào về vùng đất thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân, vị thủy tổ của dân tộc Việt Nam.
  • Có một Hà Nội trên những chuyến xe
    Tôi đã đi nhiều chuyến xe trong đời nhưng có lẽ những chuyến xe buýt đối với tôi có nhiều kỉ niệm gắn bó, giống như tôi gắn bó với Hà Nội vậy.
  • Nhớ gói xôi đỗ đen nơi góc phố
    Ra trường đã nhiều năm, nếm trải bao món ngon Hà thành nhưng tôi vẫn luôn vấn vương hương vị gói xôi đỗ đen gói trong tầu lá sen của cô hàng xôi nơi cổng trường đại học.
  • Sầm uất chợ Đồng Xuân
    Đang chộn rộn niềm vui chung cùng cả nước về Đại Thắng Mùa Xuân, chúng tôi bất ngờ nhận tin vui, tươi mới hơn cả mong đợi: “Những đồng chí đang học dở đại học và những đồng chí có giấy gọi nhập học đại học được xuất ngũ về trường học tiếp”.
  • Thu Hà Nội
    Mới ngày nào còn đi giữa cái nắng chói chang của mùa hè, hay trong cơn mưa rào như trút nước; vậy mà một buổi sáng ra đường chợt thấy lành lạnh - mới hay ta đang đi giữa mùa thu…
  • Hà thành, đêm trên phố
    Bây giờ, Hà Nội trong tôi còn có một khoảng lặng, sâu lắng khó quên, đó là những đêm trên phố cổ. Thoạt nghe, ý niệm ấy có vẻ hơi cường điệu. Bởi vì người ta thường nghĩ về một Thủ đô ngàn năm văn hiến với những nét tĩnh lặng, cổ kính, rêu phong trong ánh nắng ban mai mơ màng buông xuống “ba mươi sáu phố phường”; nên có lẽ, sẽ ngỡ ngàng, nếu ai đó khi nghe thấy nơi này được gọi là “thành phố của những đêm thâu”.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Di sản làng nghề “kết duyên” sáng tạo
    Là nơi lưu giữ ký ức, kỹ năng và bản sắc cộng đồng, các làng nghề Hà Nội dần trở thành nguồn lực cho sáng tạo. Sự gặp gỡ giữa nghệ nhân và nhà thiết kế, nghệ sĩ đang mở ra những khả năng phát triển mới cho thủ công đương đại trên nền tảng di sản. Từ những cuộc “kết duyên” đầy cảm hứng ấy, Hà Nội đang khơi thông mạch ngầm của hệ sinh thái thủ công, biến vốn cổ thành động lực bền vững cho tương lai.
  • Phát huy vai trò của văn nghệ sĩ Thủ đô: Khơi dậy nguồn lực sáng tạo cho phát triển công nghiệp văn hóa
    Trong nền kinh tế sáng tạo, tài năng và sức sáng tạo của con người chính là nguồn vốn quan trọng nhất. Đối với Hà Nội, đội ngũ văn nghệ sĩ không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn giữ vai trò trung tâm trong quá trình hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị. Khơi dậy, phát huy và tạo điều kiện để nguồn lực sáng tạo ấy phát triển sẽ là “chìa khóa” để Hà Nội khai thác hiệu quả tiềm năng văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế của một trung tâm sáng tạo trong kỷ nguyên mới.
  • Khơi nguồn sáng tạo của văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân, chung sức phát triển Thủ đô Hà Nội
    Chiều 29/7, Thành ủy Hà Nội tổ chức gặp mặt đại biểu văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân tiêu biểu trên địa bàn thành phố. Đây là dịp để lãnh đạo thành phố lắng nghe những hiến kế về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp văn hóa và phát huy nguồn lực con người, góp phần tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh, bền vững của Thủ đô.
  • Đình Nội Bình Đà: Lưu giữ ký ức thiêng liêng về Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân
    Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, có những vùng đất không chỉ lưu giữ dấu tích của thời gian mà còn cất giữ trong mình ký ức thiêng liêng về cội nguồn dân tộc. Với tôi, đình Nội Bình Đà không chỉ là ngôi đình cổ của quê hương, mà còn gắn với tuổi thơ, với những mùa lễ hội tháng ba âm lịch và với niềm tự hào về vùng đất thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân, vị thủy tổ của dân tộc Việt Nam.
  • Thưởng thức những giai điệu jazz giữa không gian di sản Nhà Bát Giác
    Vào 17h00 ngày 2/8, Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ tiếp tục chào đón công chúng đến với chương trình "Âm nhạc cuối tuần", nơi những thanh âm của jazz trở thành chiếc cầu nối đưa nhiều nền văn hóa gặp gỡ trong không gian di sản giữa lòng Thủ đô. Từ những tác phẩm kinh điển của thế giới đến những giai điệu Việt Nam đậm chất tự sự, chương trình mở ra một hành trình thưởng thức âm nhạc đa tầng cảm xúc, góp phần bồi đắp diện mạo văn hóa của Hà Nội - Thành phố sáng tạo.
Đừng bỏ lỡ
  • Chùm thơ của tác giả Nguyễn Thanh Kim
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Nguyễn Thanh Kim.
  • Âm nhạc cuối tuần: “Chất men” văn hóa giữa lòng Hà Nội
    Chiều cuối tuần tại Nhà Bát Giác, những thanh âm đầu tiên của "Hà Nội - Niềm tin và hy vọng" vang lên như một lời chào quen thuộc dành cho người dân và du khách. Tiếp sau đó, những giai điệu jazz kinh điển của thế giới lần lượt cất lên qua phần biểu diễn của NSƯT Quyền Văn Minh và các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club, mở ra một không gian âm nhạc giàu cảm xúc ngay giữa trung tâm Thủ đô.
  • Đưa nghệ thuật truyền thống đến gần công chúng, bồi đắp tình yêu lịch sử qua “Âm nhạc cộng đồng”
    Tối 2/8, tại Nhà Bát Giác, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện đã mang đến cho đông đảo người dân và du khách một không gian nghệ thuật đa sắc, nơi những làn điệu cải lương, ca cổ, tân cổ và các tiết mục múa hòa quyện trong không gian của phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Đặc biệt, chương trình có sự giao lưu của các nghệ sĩ đến từ phương Nam, góp phần tạo nên cuộc gặp gỡ nghệ thuật giàu cảm xúc.
  • “Chuyện Hà Nội - Một ngày rất Hà Nội”: Kích cầu du lịch văn hóa, kinh tế đêm Thủ đô
    “Chuyện Hà Nội - Một ngày rất Hà Nội” - chương trình nghệ thuật do Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long thực hiện, đã ra mắt công chúng vào tối 30/7 tại Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long (số 31 - 33 phố Lương Văn Can, phường Hoàn Kiếm).
  • [Podcast] Tản văn: Một ly tỉnh và nhớ
    Người ta có muôn vàn cách để quên một điều gì đó nhưng để nhớ về kỷ niệm thì lại chẳng có nhiều. Tôi hay chọn buổi sáng thứ Bảy trong tuần để được thư thả về phố núi quê hương, ngồi đợi giọt đắng của đất đai, mưa nắng điểm từng nhịp xuống chiếc ly sứ như đợi thời gian mở cánh cửa diệu kì của mình.
  • Phường Bồ Đề ra mắt mô hình "Không gian văn hoá công đoàn": Kết nối tri thức, lan toả văn hoá đọc
    Chào mừng kỷ niệm 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 – 28/7/2026), vừa qua, Công đoàn phường Bồ Đề phối hợp với Công đoàn Trường THCS Ngọc Thụy và Công đoàn Trường Tiểu học Ái Mộ B tổ chức Lễ ra mắt Mô hình “Không gian văn hóa công đoàn”.
  • Triển khai xây dựng, quảng bá thương hiệu Quốc gia “Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam”
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND TP Huế triển khai Đề án xây dựng, quảng bá thương hiệu Quốc gia "Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam".
  • [Podcast] Canh dải khoai - Đặc sản trứ danh xứ Đoài
    Trải qua thăng trầm thời gian, người Hà Nội vẫn luôn biết gìn giữ những món ăn truyền thống từ công thức gia truyền, đồng thời họ còn nâng niu những giá trị văn hóa được gửi gắm trong từng món ăn, từ cách chọn nguyên liệu, chế biến đến cách thưởng thức. Và canh dải khoai là một món ăn như thế.
  • Kiệt tác opera “La Traviata” của Ý chuẩn bị công chiếu tại Hà Nội
    Trong hai đêm 30 và 31/7/2026, Nhà hát Hồ Gươm, khán giả yêu nghệ thuật hàn lâm tại Hà Nội sẽ được hòa mình vào không gian âm nhạc đỉnh cao với sự xuất hiện của vở opera kinh điển “La Traviata”.
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
Cây cầu, hồn quê gây thương nhớ xứ Đoài
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO