Lý luận - phê bình

70 năm văn học Thủ đô nhìn từ thế hệ và thành tựu

Nhà văn Bùi Việt Thắng 19:55 13/10/2024

Hội Nhà văn Hà Nội hiện nay có gần 700 hội viên thuộc các ngành sáng tác thơ, văn, lý luận phê bình, dịch thuật và khảo cứu. Chưa có một thống kê cụ thể và đầy đủ số lượng các nhà văn chuyên môn hóa sáng tác khi lựa chọn thể loại văn học nhưng ước tính thì số người làm thơ và viết văn xuôi là không bên nào áp đảo bên nào. Nói hình ảnh thì thơ và văn xuôi là hai dòng chủ lưu thao thiết chảy tạo nên diện mạo cũng như khí sắc văn học Thủ đô trong vòng bảy thập kỷ qua (1954-2024). Đặc điểm của đội ngũ nhà văn Hà Nội thường là “2 trong 1” (vừa là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà văn Hà Nội). Cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi Hà Nội là Thủ đô với ưu thế tập trung tinh hoa, hội tụ và lan tỏa các giá trị văn hóa, văn học nghệ thuật của cả nước. Tạo tác nên thành tựu văn học Thủ đô qua các chặng đường văn từ 1954 - 2024 là sự nỗ lực của các thế hệ nhà văn, theo quy luật tre già măng mọc.

Trong bài viết nhỏ, chúng tôi chỉ giới hạn bàn luận về những đặc điểm cơ bản trong lĩnh vực sáng tác văn xuôi Thủ đô trên tiến trình sử văn 70 năm nhìn từ thế hệ và thành tựu chính. Văn xuôi trên chặng đường 70 năm (1954-2024) đã tạo nên “mặt tiền” của văn học Thủ đô, vùng địa linh nhân kiệt có truyền thống lịch sử hơn một ngàn năm.

Bảy mươi năm văn học Thủ đô - nhìn từ thế hệ

Thế hệ tiền chiến: Sau Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954) các nhà văn thế hệ trước 1945 như Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân, Bùi Hiển, Tô Hoài, Thanh Châu,... vẫn đang ở độ tuổi tráng niên trong nghề chữ. Ngay cây đại thụ Nguyễn Công Hoan (sinh 1903) thời điểm lịch sử này đã vào độ tuổi ngũ thập tri thiên mệnh nhưng vẫn rèn bút không nghỉ để viết một công trình có tính nghề nghiệp viết văn súc tích và thâm hậu “Đời viết văn của tôi” (hồi ức, 1970). Nó như một tập đại thành về nghề chữ, hay nói cách khác là một kiểu bảo bối, cẩm nang “lao động nhà văn”.

z5891043566773_fd61b6e42bbd54865c1689ee11bc1a01.jpg

Trong lớp nhà văn tiền bối này có hai cây bút tượng trưng cho hai cực đầy và vơi là Tô Hoài và Kim Lân. Nhưng dẫu đầy hay vơi thì tác phẩm của họ cũng vẫn trở thành mẫu mực của lao động chữ nghĩa lúc nào cũng uy nghiêm và trang trọng. Vẫn là những trước tác cho học sinh cấp THPT đọc để tri nhận vẻ đẹp của đời sống và con người Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đáng ghi nhớ nhất (“Vợ nhặt” của Kim Lân, “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài đều đứng chân trong SGK Ngữ văn 12). Riêng Tô Hoài, một trưởng lão làng văn Thủ đô khi đã qua tuổi 80 vẫn ra tiểu thuyết thuộc loại best-seller “Ba người khác” (2005), chưa tính đến “Cát bụi chân ai” và “Chiều chiều”, những tập hồi ký “hot” được tái bản nhiều lần với số lượng lớn, như là biểu trưng cho nỗi mong mỏi của nhà văn thời nay viết sách vừa hay - vừa bán chạy.

z5891043524716_866c59611dff704b12c351194cf03b0f.jpg

Nguyễn Tuân tài hoa và độc đáo trong “Sông Đà” (1960), “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” (1972), hai tập ký được viết ở ngưỡng tuổi 50 - 60 chứng tỏ không phải chỉ “vang bóng một thời”, mà thời nào cũng vang bóng. Bùi Hiển sau 1954 vẫn miệt mài sáng tác truyện ngắn và ký, ông viết và đóng góp trong lặng lẽ. Tập truyện ngắn “Tâm tưởng” (1985) ra mắt lúc nhà văn 66 tuổi ghi dấu sức nghĩ, sức viết theo tinh thần đổi mới văn học.

Thế hệ chống Pháp và Mỹ: Đông đảo và hùng hậu hơn cả là những nhà văn trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Đó là những cây bút chủ lực trên văn đàn và ngày càng trở nên quen thuộc với độc giả như Lê Minh, Hồ Phương, Vũ Tú Nam, Từ Bích Hoàng, Phù Thăng, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều, Xuân Sách, Dũng Hà, Nguyễn Trọng Oánh, Hữu Mai, Hà Minh Tuân, Nguyễn Xuân Khánh, Sao Mai, Lê Bầu, Hà Ân, Nguyễn Dậu, Xuân Cang, Vũ Thị Thường, Vũ Bão, Lê Văn Ba, Ông Văn Tùng, Ma Văn Kháng, Hoàng Quốc Hải, Hoàng Ngọc Hà, Nguyễn Văn Toại, Nguyễn Bắc Sơn, Lê Lựu, Hà Phạm Phú, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Nguyễn Khắc Trường, Chu Lai, Đào Thắng, Phạm Ngọc Chiểu, Nguyễn Đắc Như, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Đình Chính, Khuất Quang Thụy, Trần Huy Quang, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Trọng Tân, Nguyễn Bảo, Lê Minh Khuê, Bảo Ninh, Lê Hoài Nam, Phạm Ngọc Tiến, Đoàn Tuấn, Nguyễn Trọng Văn, Thế Đức, Bùi Thanh Minh, Trung Sỹ,... Đây là những cây bút trải qua lửa đỏ và nước lạnh, sống qua cả hai thời chiến tranh và hòa bình. Hơn ai hết, viết văn với họ trước sau tuân theo nguyên tắc văn hóa - đạo đức - thẩm mỹ “Viết để chống lại sự lãng quên lịch sử và con người”.

z5891043562580_3453d9e7c0ecbd5e62b39a927416ab74.jpg

Thế hệ hậu chiến và đổi mới: Là sự bổ sung lực lượng sáng tác Thủ đô với những tên tuổi mới và đóng góp mới của Vũ Ngọc Tiến, Phạm Lưu Vũ, Bùi Việt Sỹ, Hoàng Minh Tường, Nguyễn Hiếu, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Thị Trường, Lê Phương Liên, Trần Chiến, Phạm Hoa, Xuân Ba, Sương Nguyệt Minh, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Y Ban, Thùy Dương, Võ Thị Xuân Hà, Vũ Minh Nguyệt, Nguyễn Thị Thu Huệ, Thùy Linh, Phan Đình Minh, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Phấn, Lê Anh Hoài, Hà Nguyên Huyến, Trần Thanh Cảnh, Nguyễn Bình Phương,... Đặc điểm của thế hệ hậu chiến là nhờ được hưởng ân huệ của thời gian và lịch sử trong Đổi mới nên tinh thần tự do sáng tác cởi mở, nhiều tiền đề thuận lợi cho khích lệ, cổ vũ những tìm tòi cá nhân, trình diện cao độ cái tôi nghệ sĩ. Giải thưởng thường niên năm 2021 của Hội Nhà văn Việt Nam trao cho Một ví dụ xoàng (tiểu thuyết) của Nguyễn Bình Phương là một ví dụ điển hình về sự dũng cảm của tác giả và sự cởi mở của Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam trong tư duy mới về văn học.

Thế hệ F (7X, 8X, 9X...): Đang là niềm hy vọng của xã hội vào những bước tiến ngoạn mục của văn học Thủ đô và nước nhà. Tên tuổi và tác phẩm của họ đang chiếm lĩnh cảm tình của độc giả, sách của họ bán chạy. Tiếp nối trước sau là Đào Bá Đoàn, Phong Điệp, Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa, Uông Triều, Nguyễn Thế Hùng, Đỗ Tiến Thụy, Như Bình, Nguyễn Phương Liên, Kiều Bích Hậu, Lưu Sơn Minh, Di Li, Nguyễn Văn Học, Nguyễn Vĩnh Huỳnh, Nguyệt Chu, Đinh Phương, Nhật Phi,... Khi người ta trẻ thì suy nghĩ, cảm xúc và viết khác với các thế hệ trước là chuyện bình thường. Với họ, cái mới là cái khác lạ, là sự trình hiện cao độ cái tôi nghệ sĩ, là tìm tòi và bứt phá. Nguyễn Đình Tú nay say mê fantasy trong hình hài “Bãi săn” - đang là sách bán chạy (best - seller). Phạm Duy Nghĩa phóng khoáng đến tận cùng với “Người bay trong gió xanh” đang kiến tạo cho mình một dòng chảy văn học xanh. Lưu Sơn Minh, Uông Triều, Đinh Phương say sưa với lịch sử, làm sống lại dĩ vãng theo tinh thần “ôn cố tri tân”. Như Bình mê mài với “Bùa yêu”. Vẽ, viết văn, làm thơ rõ là một nghệ sĩ đang lên đồng sáng tác. Nhật Phi còn rất trẻ ở độ tuổi “tam thập nhi lập”. Một cây bút văn xuôi giàu nội lực và triển vọng. Kiều Bích Hậu đang ôm ấp giấc mơ công dân toàn cầu cả trong văn và trong đời. “Nắng Thổ Tang” (tiểu thuyết lịch sử) của Đinh Phương giành Giải thưởng Tác giả trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2021, là những ví dụ củng cố niềm tin của độc giả vào thế hệ F.

70 năm văn học Thủ đô - Nhìn từ thành tựu thể loại và phong cách nghệ thuật

Xem xét, đánh giá thành tựu thể loại là một phương pháp tiếp cận lịch sử văn học vì thể loại luôn được coi là “nhân vật chính” của mọi nền văn học. Ai đó nói thuyết phục rằng, thể loại chọn nhà văn chứ nhà văn không chọn thể loại (!?).

Trong các thể loại văn học thì tiểu thuyết luôn được coi là “cỗ máy cái” của một nền văn học trưởng thành. Tiểu thuyết lịch sử là mảng sáng tác văn xuôi thành công nhất của văn học Thủ đô (1954 - 2024) với sự đóng góp của các nhà văn Hà Ân (Quận He khởi nghĩa), Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly), Hoàng Quốc Hải (Bão táp triều Trần), Bùi Việt Sỹ (Chim bằng và nghé hoa), Nguyễn Trọng Tân (Thiên mệnh), Lê Hoài Nam (Mỹ nhân nơi đồng cỏ), Trần Thanh Cảnh (Đức Thánh Trần), Lưu Sơn Minh (Trần Quốc Toản), Uông Triều (Sương mù tháng Giêng),... Tiểu thuyết lịch sử giúp con người hiện tại tìm câu trả lời cho những vấn đề nóng hổi và cấp thiết của đời sống hôm nay.

Tiểu thuyết chiến tranh của Xuân Thiều (Thôn ven đường), Nguyễn Minh Châu (Miền cháy), Nguyễn Trọng Oánh (Đất trắng), Trần Huy Quang (Nước mắt đỏ), Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến tranh), Chu Lai (Ăn mày dĩ vãng), Khuất Quang Thụy (Đỉnh cao hoang vắng), Trung Trung Đỉnh (Lạc rừng), Nguyễn Trọng Tân (Thư về quá khứ), Đoàn Tuấn (Lời nguyện cầu cho những linh hồn phiêu dạt), Vũ Minh Nguyệt (Khi cuộc chiến đi qua),... đã chứng minh nhận định của Chu Lai hoàn toàn đúng “Chiến tranh là một siêu đề tài, người lính là một siêu nhân vật”. Cùng với tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết chiến tranh hợp thành bức tranh toàn cảnh (panorama) về xã hội Việt Nam trong một thời kỳ lịch sử nhiều biến động đáng ghi nhớ nhất trong thế kỷ XX.

Tiểu thuyết thế sự - đời tư của Tô Hoài (Ba người khác), Hà Minh Tuân (Vào đời), Ma Văn Kháng (Đám cưới không có giấy giá thú), Nguyễn Bắc Sơn (Lửa đắng), Hoàng Minh Tường (Thủy hỏa đạo tặc), Bùi Việt Sỹ (Người đưa đường thọt chân), Nguyễn Đình Chính (Đêm thánh nhân), Nguyễn Hiếu (Vàng dưới đáy sâu), Trung Trung Đỉnh (Ngõ lỗ thủng), Dạ Ngân (Gia đình bé mọn), Trần Chiến (Đèn vàng), Tạ Duy Anh (Lão khổ), Nguyễn Bình Phương (Một ví dụ xoàng), Y Ban (Xuân Từ Chiều), Thùy Dương (Chân trần), Võ Thị Xuân Hà (Tường thành), Nguyễn Việt Hà (Khải huyền muộn), Trần Thị Trường (Phố Hoài), Đỗ Bích Thúy (Cửa hiệu giặt là),... đã tạo nên bức tranh rộng và sâu về những bể dâu đời người, những số phận chìm nổi, những nước mắt và nụ cười, những vinh quang và cay đắng của kiếp người.

Truyện ngắn là thể loại văn học đang lên ngôi, ở thế thượng phong tạo nên “chân tủy” của văn học Thủ đô thời hiện đại. Các tác giả truyện ngắn tiêu biểu như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Văn Thọ, Lê Minh Khuê, Sương Nguyệt Minh, Hồ Anh Thái, Võ Thị Xuân Hà, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phạm Duy Nghĩa,... đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển bền vững văn học. Mỗi tác giả đều viết từ 100 đến 200 truyện ngắn. Tất nhiên trong nghệ thuật quy luật “quý hồ tinh bất quý hồ đa” là bất di bất dịch. Ở đây người đọc nhận thấy số lượng và chất lượng cân đối, hài hòa. Và công lao của các nhà văn chính là ở chỗ góp phần “kê cao” nền truyện ngắn dân tộc vốn có truyền thống lâu đời từ trong văn học trung đại.

Ký của Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Băng Sơn, Nguyễn Mạnh Tiến, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Phấn, Hồ Anh Thái,... được độc giả tiếp nhận nồng nhiệt. Đọc ký của các tác giả này chúng ta cảm nhận được dòng đời ào ạt tuôn chảy, ròng ròng sự sống và nhân tâm thời đại hiển hiện trên từng con chữ. Ký văn học đã đem đến những thông tin thẩm mỹ chắt lọc và bổ ích trong quá trình nhận thức thực tại ngày càng trở nên phong phú và phức tạp hơn trước. Ký vượt thoát con số và sự kiện, vượt thoát tính chất cập thời vũ góp phần bồi bổ và nâng cao mỹ cảm của độc giả. Một số trường hợp ký như thể là những bài ca lao động bằng chữ về vẻ đẹp của tạo hóa và đời sống của con người trong hăng say cống hiến. Tiêu biểu là “Sông Đà” của Nguyễn Tuân.

Phong cách nghệ thuật đa dạng là dấu chỉ ghi nhận sự giàu có của một nền văn học phát triển bền vững. Có thể nói đến phong cách cổ điển trong sáng tác của các nhà văn Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Bùi Hiển, Thanh Châu, Kim Lân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Xuân Khánh, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu,... Lại có thể bàn luận về phong cách hiện đại mang dấu ấn thời đại của Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái khi xem xét chúng trong bối cảnh đổi mới văn học và xu thế toàn cầu hóa với quy luật hội nhập ngày càng sâu rộng khi văn học Việt Nam dần dần có vị trí xứng đáng trên bản đồ văn học thế giới./.

Vĩ thanh

Cảm hứng tương lai mới thực sự là giá đỡ cho mọi thành công. Nhưng ôn cố tri tân là động thái tinh thần tích cực cần thiết để tích lũy kinh nghiệm lịch sử cho các hoạt động của con người, trong đó có văn học nghệ thuật. Văn học Thủ đô nói chung, văn xuôi nói riêng trên hành trình bảy mươi năm đã đơm hoa kết trái dâng tặng nhiều quả ngọt bốn mùa. Bất luận là người Hà Nội gốc hay người yêu Hà Nội chân chính đều có thể tâm niệm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội với mỗi người là một trái tim hồng.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
  • Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
    Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Dấu son trang sử hào hùng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
    Trong hai năm 1970 – 1971, những thắng lợi của chiến tranh cách mạng ba nước Đông Dương gồm Việt Nam – Lào – Campuchia đã tạo thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống đế quốc, cứu nước của Nhân dân ta đi đến ngày toàn thắng: miền Nam được giải phóng, non sông nối liền một dải.
  • Hà Nội đẹp dịu dàng mùa hoa giáng hương
    Khi những chùm hoa bằng lăng tím bắt đầu nhuộm sắc phố phường, khi nắng đầu hạ trở nên vàng hơn và ve khe khẽ gọi mùa, Hà Nội lại bước vào thời khắc chuyển mình quen thuộc. Giữa bản giao hưởng của muôn loài hoa báo hiệu mùa hè tới, giáng hương nở rộ mang theo hương thơm dịu dàng, khiến người đi đường không khỏi vấn vương.
  • Nghề nặn tò he làng Xuân La qua trang viết của nhà giáo Cao Xuân Quế
    Sau nhiều năm ấp ủ, nghiên cứu và tìm tòi, nhà giáo Cao Xuân Quế (hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội) đã cho ra mắt cuốn sách “Độc đáo nghề nặn tò he làng Xuân La” (NXB Lao động, 2026). Với dung lượng 152 trang, cuốn sách phác họa tương đối đầy đủ diện mạo nghề nặn tò he của làng Xuân La, từ nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển, qua đó góp phần lưu giữ những giá trị đặc sắc của một nghề truyền thống trên mảnh đất Kinh kỳ.
  • [Podcast] Tản văn: Họa mi vương vấn
    Chọn cho mình một góc quán cà phê ngoài trời, tôi nhìn dọc theo Phố sách Hà Nội. Vài ba người có lẽ là khách du lịch đang thích thú chụp ảnh và lựa sách, thi thoảng so vai, sửa lại khăn choàng khi có cơn gió ngang qua.
  • Những người Hà Nội tôi gặp khi đã quen áp lực
    Khi đã đi làm vài năm, tôi không còn nhìn con người bằng ánh mắt háo hức như thời còn đi học. Những va chạm trong công việc, những áp lực về thời gian, trách nhiệm và hiệu quả khiến tôi trở nên dè dặt hơn trong cách quan sát và đánh giá người khác. Tôi quen với việc giữ khoảng cách, quen với những mối quan hệ vừa đủ, không thân quá cũng không xa quá.
Đừng bỏ lỡ
  • Triển lãm “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi”: Bồi đắp, lan tỏa Hà Nội - Thành phố Sáng tạo
    Chiều 29/4, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với Câu lạc bộ Họa sĩ màu nước Hà Nội (HWA), Ban vận động mỹ thuật và ngoại giao văn hóa tổ chức triển lãm mỹ thuật “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi” tại tầng 1 - tòa nhà 47 Hàng Dầu ( Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội).
  • Trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”
    Chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026) và 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2026), Trung tâm Văn hóa và Thư viện Hà Nội giới thiệu không gian trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”.
  • Lên chuyến tàu đoàn viên mừng 51 năm ngày thống nhất đất nước
    Khác với những chuyến tàu thông thường, xuất phát từ ga Hà Nội, chuyến tàu đoàn viên diễn ra từ 27/4 tới hết 3/5, đưa người dân và du khách trở về với những dấu mốc thiêng liêng của toàn thể dân tộc giữa lòng Thủ đô.
  • Lan tỏa niềm tự hào, kết nối giá trị văn hóa và khát vọng Việt Nam
    Tối 28/4, tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình, chương trình nghệ thuật đặc biệt “Âm vang Tổ quốc” đã diễn ra quy mô lớn, thu hút khoảng 40.000 khán giả trực tiếp cùng hàng triệu người theo dõi qua truyền hình và các nền tảng số.
  • Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 24/4/2026 về tổ chức các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026). Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu tuyên truyền sâu rộng ý nghĩa lịch sử trọng đại của sự kiện, giáo dục truyền thống yêu nước, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực xây dựng và phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Hà Nội rực rỡ cờ hoa vào những ngày tháng Tư lịch sử
    Những ngày cuối tháng 4, Hà Nội khoác lên mình diện mạo mới với cờ hoa, pano, áp phích khổ lớn, chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026). Các tuyến phố trung tâm như Tràng Tiền, Lê Duẩn, Hai Bà Trưng, đặc biệt khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm, đã được trang trí nổi bật với các biểu tượng lịch sử, khẩu hiệu lớn, mang thông điệp về một mốc son quan trọng trong lịch sử dân tộc.
  • Hà Nội phê duyệt Phương án Tái cấu trúc thủ tục hành chính lĩnh vực Văn hóa và Nghệ thuật
    UBND Thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định 530/QĐ-TTPVHCC phê duyệt phương án tái cấu trúc thủ tục hành chính trong lĩnh vực Mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm và Nghệ thuật biểu diễn thuộc phạm vi quản lý của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội. Quyết định này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc số hóa và cải thiện hiệu quả hoạt động của các thủ tục hành chính trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật tại Hà Nội.
  • Chương trình nghệ thuật “Âm vang Tổ quốc” thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa
    Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Thành phố Hà Nội trở thành điểm hẹn của những chương trình nghệ thuật đặc sắc, được đầu tư công phu, bài bản và sáng tạo bám sát tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
  • Những bài thơ bất yên
    Đi qua ba tập thơ trong thời gian ngắn, nhà thơ Đinh Minh Thiện như không bằng lòng với những gì đã có, để phải cất lên một tập thơ mới. Ở đó, tác giả gửi gắm nhiều suy niệm về cuộc sống, mơ vọng về nơi an trú, ngẫm ngợi những tỉnh thức, hoài niệm với quê nhà, với mẹ và những niềm thân thiết thôn dã, mùa màng…
  • Cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa từ không gian cộng đồng
    Chiều 26/4, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục diễn ra, thu hút đông đảo người dân và du khách dừng chân thưởng thức trong suốt hơn một giờ đồng hồ với chất lượng nghệ thuật cao mà vẫn gần gũi.
70 năm văn học Thủ đô nhìn từ thế hệ và thành tựu
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO