Từ đường Thiên lý đến hệ thống đường bộ Việt Nam thời thuộc Pháp

KTĐT| 26/02/2022 17:42

Đến năm 1930, Việt Nam có khoảng 15.000km đường bộ, trong đó có 2.000km rải nhựa. Đó là kết quả của chương trình xây dựng hệ thống đường thuộc địa ở Đông Dương của người Pháp.

Cùng với hệ thống đường sắt, đường thủy, đường không, đường bộ không chỉ giúp cho chương trình khai thác thuộc địa của người Pháp mà còn đặt nền tảng cho phát triển hạ tầng của Việt Nam trong tương lai.

Từ con đường Thiên lý

Lịch sử hệ thống đường bộ Việt Nam có thể tính từ thời Lý, khi bắt đầu có các cung đường gắn với các trạm nghỉ chân nối liền các địa phương chủ yếu để chạy công văn phục vụ cho việc cai trị của nhà nước phong kiến. Đến cuối đời Trần đã có đường Thiên lý, còn gọi là cái quan, nối dài từ Thăng Long đến Tây Đô và sang nhà Hồ thì kéo dài đến Hóa Châu (Bình - Trị - Thiên ngày nay).

Đường Thiên lý đoạn qua Đèo Cả năm 1898.
Đường Thiên lý đoạn qua Đèo Cả năm 1898.

Đến thời Hậu Lê đường Thiên lý kéo dài theo các vùng lãnh thổ mới được thôn tính, đến tận Đồ Bàn (Bình Định). Thời chúa Nguyễn (Phúc Khoát), khoảng năm 1757, đường kéo dài đến Hà Tiên. Nhà Nguyễn, vua Gia Long và vua kế nghiệp là Minh Mạng đã rất nỗ lực kéo dài, mở rộng, gia cố đường Thiên lý. Lúc này, đường thiên lý, còn gọi là đường sứ, nối dài sang tận Nam Vang.

Đường Thiên lý trước đây chỉ là những con đường đất nhỏ, đi qua các làng mạc và những vùng hoang vắng, hiểm trở, rất nhiều thú dữ rình rập nên cách khoảng 15 - 20km lại lập một nhà trạm để là chỗ dừng chân, nghỉ ngơi.

Tuy còn nhỏ hẹp nhưng đường Thiên lý là con đường mở cõi, con đường thống nhất quốc gia, con đường mở mang cho đất nước phát triển. Đó là nền móng đầu tiên cho hệ thống đường bộ Việt Nam sẽ được hình thành dưới thời Pháp thuộc và phát triển cho đến hôm nay

Đến con đường đầu tiên ở Nam Kỳ

Nếu nói đến vai trò của người Pháp với việc hình thành hệ thống đường bộ ở Việt Nam thì trước tiên là việc xây dựng những con đường ở Nam Kỳ từ những thập niên cuối thế kỷ XIX vì đây là vùng thuộc địa đầu tiên của họ ở Đông Dương.

Trước cả yêu cầu khai thác kinh tế, với họ, đầu tiên là nhằm cho việc cơ động di chuyển quân để đối phó với các cuộc nổi dậy. De Bascher, Tỉnh trưởng Chợ Lớn đã gọi “các con lộ nối các đồn trại của quân Pháp đóng trong tỉnh là những con đường chiến lược (routes stratégiques) của địa phương”.

Ngày 24/4/1863, Soái phủ Nam Kỳ ban hành lệnh tái lập đường trạm Sài Gòn - Mỹ Tho, qua các hạt thanh tra Chợ Lớn, Phước Lộc, Mỹ Tho. Con đường bộ được khảo sát và xây dựng sớm nhất từ Sài Gòn về các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long là đoạn về Mỹ Tho được khởi công từ năm 1866, hoàn thành năm 1880. Đoạn đường này tuy thẳng hơn nhưng được thiết lập gần như trùng với đường Thiên lý cũ của nhà Nguyễn, trở thành con đường huyết mạch của Mỹ Tho và cả Nam Kỳ. Ban đầu mặt đường còn hẹp, vừa đủ cho hai ô tô tránh nhau, rải đá xanh, về sau mới tráng nhựa.

Năm 1895, đường Mỹ Tho - Gò Công qua Chợ Gạo, theo quan lộ thời Nguyễn, và cầu Quay bắc qua kênh Bảo Định được xây dựng.

Và sự hình thành hệ thống đường thuộc địa

Nhằm cai trị và thực hiện chương trình khai thác thuộc địa, nâng cấp, xây dựng hệ thống giao thông là đòi hỏi bức thiết đối với người Pháp.

Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (nhiệm kỳ 1897 - 1902) là người thiết kế và đi đầu trong việc thực hiện chương trình khai thác thuộc địa trong đó có việc xây dựng hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ và đường thủy ở Việt Nam.

Ngày 22/3/1897, “Chương trình hành động” - chương trình khai thác thuộc địa đã được chính quyền thực dân Pháp chính thức khởi động với 7 điều khoản, trong đó, Điều khoản 3 là xây dựng thiết bị to lớn cho Đông Dương, như xây dựng hệ thống đường sắt, đường bộ, sông đào, bến cảng… để phục vụ cho việc khai thác thuộc địa và được xem là một trong những điều kiện cần thiết và căn bản, giúp giao thông, vận tải đường bộ Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung có điều kiện phát triển.

Năm 1912, toàn quyền Albert Sarraut (1872 - 1962) ký quyết định xây dựng mạng lưới đường bộ toàn Đông Dương.

Ngày 18/6/1918, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut, trong nhiệm kỳ thứ hai (1/1917 - 5/1919), tiếp tục ra Nghị định xếp loại các tuyến đường bộ chính Đông Dương và gọi tên lần lượt là đường thuộc địa, đường hàng xứ (riêng đối với Nam Kỳ thành đường hàng tỉnh) và đường thâm nhập. Ngoài ra còn có các con đường ở nông thôn được gọi tên là đường hàng xã.

Đã có một Hội đồng tư vấn cho Toàn quyền quyết định việc xếp hạng này. Pouyanne trong cuốn Các công trình giao thông công chính Đông Dương khẳng định: Đường thuộc địa tương ứng với đường quốc gia bên Pháp có tác động trực tiếp tới kinh tế, chính trị, chiến lược phát triển trên toàn cõi Đông Dương. Đường thuộc địa trở thành trục chính của hệ thống đường bộ Việt Nam nói riêng, Đông Dương nói chung. Việc xây dựng và bảo trì do ngân sách Đông Dương đài thọ.

Theo Nghị định ngày 18/6/1918, toàn Đông Dương có 18 đường thuộc địa, gồm:

1. Đường số 1: Con đường quan trọng nhất, chạy dài từ biên giới Trung Hoa đến biên giới Thái Lan, nối thủ phủ các xứ thuộc Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Cao Miên. Đường thuộc địa số 1 còn được gọi tên là Đường cái quan (Mandarine).

2. Đường số 2 dài 328km chạy từ Hà Nội đi Hà Giang, qua Phủ Lỗ, Vĩnh Yên, Việt Trì, Phủ Đoan, Tuyên Quang.

3. Đường số 3 dài 231km chạy từ Hà Nội đi Cao Bằng, qua Phủ Lỗ, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Nguyên Bình.

4. Đường số 4 dài 1.500km, chạy từ Móng Cái đi Viêng Chăn, qua Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Luông Phabang.

5. Đường số 5 dài 100km chạy từ Hà Nội đi Hải Phòng qua Hải Dương.

6. Đường số 6 dài 514 km chạy từ Hà Nội đi Viêng Chăn, qua Hòa Bình, Suối Rút, Sầm Nưa.

7. Đường số 7 dài 515 km, chạy từ Luông Phabang đi Vinh, qua Xiêng Khoảng, Mường Xén, Cửa Rào.

8. Đường số 8 (272km) chạy từ Viêng Chăn đi Vinh.

9. Đường số 9 chạy từ Viêng Chăn đi qua Huế, qua Đông Hà.

10. Đường số 10 dài 38km từ Parkxê đi Ubôn (Thái Lan).

11. Đường số 11 dài 107km, từ Tháp Chàm đi Đà Lạt.

12. Đường số 12 dài 178km, từ Phan Thiết đi Đà Lạt.

13. Đường số 13 dài 504km từ Sài Gòn đi Viêng Chăn, qua Lộc Ninh, Kratiê Stung Treng.

14. Đường số 14 dài 646km, từ Sài Gòn đi miền biển Trung Kỳ, qua Lộc Ninh, Đắk Lắk.

15. Đường số 15 dài 97,8km từ Sài Gòn đi Ô Cấp 9, nay là Vũng Tàu.

16. Đường số 16 dài 342km từ Sài Gòn đi Cà Mau, qua Cần Thơ, Sóc Trăng.

17. Đường số 17 chạy từ Phnompenh đến Kampot và Hà Tiên nối thủ đô Cao Miên với biển. Đường số 1 đi vòng về phía Bắc vùng Biển Hồ và dẫn đến khu di tích Angkor.

18. Đường số 1B dài 383km, tiếp nối đường số 1 từ Phnôm Pênh đi Xiêm Riệp, Xixôphôn, qua Ăngco.

(Theo Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử, NXB Giáo dục, 2003, trang 380).

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, để đẩy mạnh quá trình khai thác thuộc địa, đặc biệt là các vùng đất giàu tiềm năng phát triển cây công nghiệp ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, người Pháp đã nâng cấp 4 tuyến đường bộ thành đường thuộc địa, đó là:

- Đường số 19: Quy Nhơn - Pleiku, Bù Đốp với đường nhánh 19 bis (đường 19 kéo dài) đi Kon Tum.

- Đường số 20: Di Linh - Xuân Lộc.

- Đường số 21: Ban Tua - Biên Hòa.

- Đường số 22: Kompong Cham - Gò Dầu Hạ.

Sau khi xếp hạng và khẳng định vai trò là hệ thống đường bộ quan trọng nhất, các tuyến đường thuộc địa liên tục được tu bổ, nâng cấp. Mỗi năm ngân sách đầu tư từ 600.000 đồng đến 1 triệu đồng Đông Dương để tiến hành việc cải tạo, sửa chữa (1 đồng Đông Dương tương đương 2,5 francs - Pháp, năm 1913).

Hệ thống đường thuộc địa Việt Nam thời Pháp thuộc đã được xây dựng hoàn chỉnh trong những năm đầu sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Trong hệ thống giao thông đường bộ thời kỳ này, đường thuộc địa là loại đường có quy mô lớn nhất, dài nhất và là tuyến đường vận tải chính kết nối các tỉnh, các xứ. Hệ thống đường thuộc địa có sự kế thừa các tuyến đường bộ đã có từ trước, được chỉnh sửa, xây dựng thêm và do người Pháp thiết kế, chỉ đạo thi công.

Hệ thống đường thuộc địa đã ảnh hưởng quan trọng đối với kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội thời Pháp thuộc và nó chính là tiền đề cần thiết và căn bản để trở thành các tuyến đường quốc lộ ngày nay. Từ đường Thiên lý đến đường thuộc địa là hành trình ngàn năm đầy khát vọng, kiêu hãnh nhưng cũng đầy máu và nước mắt của người dân Việt Nam. Nhưng, trước - sau đó vẫn là con đường phát triển của dân tộc Việt Nam.

(0) Bình luận
  • Gỗ óc chó và xu hướng Quiet Luxury trong thiết kế nội thất 2026
    Năm 2026, gỗ óc chó tiếp tục dẫn dắt xu hướng biệt thự: sang trọng thầm lặng, tối giản, bền vững và cá nhân hóa.
  • Phê duyệt Quy hoạch tổng mặt bằng tỷ lệ 1/500 Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội
    Giám đốc Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội Nguyễn Trọng Kỳ Anh đã ký ban hành Quyết định về việc phê duyệt Quy hoạch tổng mặt bằng tỷ lệ 1/500 Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội (phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng) nhằm cụ thể hóa định hướng Quy hoạch phát triển hệ thống y tế Thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Quy hoạch phân khu đô thị H1-4 tỷ lệ 1/2000 được phê duyệt.
  • Tọa đàm về vẻ đẹp kiến trúc Hà Nội thời bao cấp
    Chiều ngày 11/10, tại không gian Caphé Trung Nguyên 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội đã diễn ra tọa đàm "Ký ức Hà Nội thời bao cấp qua di sản kiến trúc".
  • Kiến trúc sư Nguyễn Tiến Thuận và những công trình “lưu dấu” Điện Biên
    Kiến trúc sư Nguyễn Tiến Thuận nói rằng ông “không có một chút ngỡ ngàng nào về lịch sử Điện Biên”, bởi từ thuở bé, ông đã tìm hiểu lịch sử dân tộc mình. Bắt tay vào thiết kế bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ cũng là lần đầu tiên ông bắt đầu suy nghĩ một cách nghiêm túc, làm thế nào để chuyển hóa những tình cảm của mình về Điện Biên trong công việc sáng tạo. Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ, khu Trung tâm hành lễ và nhà tưởng niệm nghĩa trang liệt sĩ đồi A1 là hai công trình đầu tiên khẳng định ông có duyên với mảnh đất này.
  • Góc nhìn di sản về những công trình kiến trúc Pháp tại Hà Nội
    Nhân kỷ niệm 50 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Pháp, sáng ngày 22/7, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I (Hà Nội) phối hợp với Công ty Cổ phần sách Omega Việt Nam (Omega Plus) và Viện Pháp tại Việt Nam tổ chức tọa đàm "Kiến trúc Pháp - Đông Dương - từ góc nhìn di sản". Tọa đàm giúp độc giả hiểu hơn về những di sản, giá trị văn hóa, lịch sử thông qua những câu chuyện về công trình kiến trúc Pháp - Đông Dương nổi tiếng tại Hà Nội.
  • CONSTREXIM - HOD: Dấu ấn trên hành trình vươn ra biển lớn
    Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển nhà Constrexim (Constrexim - Hod) ra đời năm 2007 trong niềm phấn khởi và kỳ vọng của người “thuyền trưởng” Nguyễn Đức Cây cùng các thành viên Công ty. Trải qua chặng đường 15 năm hình thành và phát triển Constrexim - Hod đã từng bước khẳng định được vị thế trong “làng” kinh doanh bất động sản Việt Nam.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • “Mã văn hóa” điều chỉnh hành vi xã hội, định hình căn tính con người Việt Nam trong thời kỳ mới
    Mục tiêu tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển; các giá trị văn hóa giữ vai trò nền tảng, chuẩn mực và được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội...
  • [Podcast] Truyện ngắn: Hơn cả tình yêu
    Hè năm thứ nhất, đang là sinh viên Đại học Xây dựng, theo lời rủ rê của hai cô bạn thân, Hằng đi Sầm Sơn cùng với họ. Vào đến Sầm Sơn, lúc thuê khách sạn, Hằng mới vỡ lẽ, hai cô bạn kia đã có đôi, họ âm thầm sắp đặt sẵn kế hoạch từ trước. Họ gán ghép Hằng với Bắc, một bạn nam cùng lớp vào ở chung phòng. Đêm ấy, Hằng lang thang trên bờ biển, vừa giận bạn, vừa định bụng sẽ không về khách sạn ngủ...
  • Tuần phim kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
    Từ ngày 21-28/7, Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) sẽ chủ trì tổ chức Tuần phim kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026) trên phạm vi toàn quốc. Danh sách các phim được chiếu gồm: "Đừng đốt", "Mùi cỏ cháy", "Những người viết huyền thoại", "Đường xuyên rừng", "Truyền thuyết về Quán Tiên" và "Bình minh đỏ".
  • Từ quyết tâm chính trị đến động lực phát triển mới của Hà Nội
    Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều kết quả tích cực, đồng thời cũng đặt ra không ít yêu cầu mới đối với sự phát triển của Hà Nội. Kết luận của đồng chí Bí thư Thành ủy tại Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm không chỉ xác định các nhiệm vụ trọng tâm của thành phố trong thời gian tới mà còn truyền đi thông điệp xuyên suốt về tinh thần đổi mới, trách nhiệm, hành động và khát vọng phát triển. Đó là yêu cầu tiếp tục phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của Nhân dân để tạo dựng nền tảng vững chắc cho chặng đường phát triển mới của Thủ đô.
  • Đánh thức nguồn lực văn hóa từ chương trình “Âm nhạc cuối tuần”
    Giữa những bản jazz kinh điển của thế giới, các ca khúc như “Em ơi Hà Nội phố”, “Bây giờ tháng mấy” và “Nhớ về Hậu Giang” đã đưa công chúng qua nhiều miền cảm xúc trong chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 12/7 tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ. Từ một sân khấu mở bên hồ Hoàn Kiếm, đời sống văn hóa Thủ đô thêm phong phú, cho thấy cách Hà Nội đưa nghệ thuật đến gần công chúng và từng bước xây dựng môi trường văn hóa đô thị văn minh, hiện đại.
Đừng bỏ lỡ
  • Xây dựng Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam thành tổ hợp du lịch đẳng cấp quốc tế
    Sau khi chính thức được chuyển giao về UBND thành phố Hà Nội quản lý vào tháng 6/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn. Từ một điểm đến phụ thuộc vào ngân sách, nơi đây được định hướng trở thành tổ hợp văn hóa, du lịch và giải trí mang tầm vóc quốc tế, đóng vai trò hạt nhân trong cực tăng trưởng phía Tây của Thủ đô. Chiều ngày 10/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã chủ trì buổi làm việc để định hình dòng chảy phát triển mới cho quần thể di sản này.
  • Ra mắt không gian nghệ thuật quy tụ 3 loại hình di sản xẩm, ca trù và múa rối nước
    Không gian văn hóa CADAO Collective chính thức ra mắt tại số 66 Tô Ngọc Vân (phường Tây Hồ, Hà Nội) với chương trình nghệ thuật đặc biệt quy tụ 3 loại hình di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội gồm xẩm, ca trù và múa rối nước.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII: Tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ
    Sáng 10/7, tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA) đã diễn ra Lễ khai mạc Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII - năm 2026. Sự kiện góp phần tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ, đồng thời phản ánh những xu hướng mới của mỹ thuật đương đại Việt Nam.
  • Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số
    Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 269/2026/NĐ-CP ngày 1/7/2026 quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Nghị định nhằm cụ thể hóa Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, Nghị định quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đã mở ra một hành lang pháp lý toàn diện.
  • Festival Thu Hà Nội năm 2026 :“Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc”
    Festival Thu Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc” được tổ chức để tôn vinh và lan tỏa những giá trị độc đáo của di sản văn hóa, danh thắng, làng nghề và tinh hoa ẩm thực ngàn năm văn hiến của Thủ đô. Sự kiện là đòn bẩy hiệu quả giúp kích cầu du lịch, thu hút du khách, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu, từ đó thúc đẩy ngành du lịch tăng trưởng mạnh mẽ...
  • [Podcast] Tản văn: Bài thánh ca đó còn nhớ không em?
    Đêm đã phủ lên thế gian thứ bóng tối bất tận vô minh. Màu sắc, thanh âm, hình hài của vạn vật vẫn cựa quậy sinh sôi trong những đôi mắt tâm hồn. Chỉ có tâm hồn mới làm cho biết bao thứ ẩn dật trong bóng tối vô minh kia tồn tại và thao thức. Cũng như đêm đang đẩy xuống đời ta thứ thanh âm của Chúa. Những hồi chuông xứ đạo vẫn bay lên trên bầu trời ngan ngát hương hoa. Ở nơi đó em còn nhớ không em, dẫu chỉ là một thánh ca buồn?
  • Triển lãm và trình diễn “Tri thức may, mặc áo dài Huế”, tôn vinh Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia
    Triển lãm và trình diễn “Tri thức may, mặc áo dài Huế” giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của áo dài Huế gắn liền với lịch sử, văn hóa và đời sống của người dân Cố đô, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh Huế - Kinh đô Áo dài Việt Nam.
  • Triển khai đồng bộ các hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới
    Nhằm kịp thời thể chế hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về phát triển văn hóa Việt Nam, thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đã ký Quyết định số 1189/QĐ-TTg ngày 2/7/2026. Quyết định này đi kèm kế hoạch hành động nhằm triển khai đồng bộ, toàn diện bốn hệ giá trị cốt lõi: hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trên phạm vi cả nước, tạo hành lang pháp lý vững chắc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền văn hóa của dân tộc.
  • Phát động Cuộc thi ảnh "Nghệ thuật Xiếc Việt Nam" lần thứ 2
    Cuộc thi ảnh "Nghệ thuật toàn quốc về Nghệ thuật Xiếc Việt Nam" năm 2026 được tổ chức nhằm tôn vinh vẻ đẹp và những giá trị đặc sắc của nghệ thuật xiếc Việt Nam; tạo sân chơi sáng tạo cho các nhiếp ảnh gia chuyên và không chuyên, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh nghệ thuật xiếc đến đông đảo công chúng trong nước và quốc tế.
Từ đường Thiên lý đến hệ thống đường bộ Việt Nam thời thuộc Pháp
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO