Văn hóa – Di sản

Trịnh Doanh – văn võ song toàn

Hà Thanh Vân 29/11/2023 08:49

Trịnh Doanh (1720 - 1767) quê ở làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Ông là con trai thứ của chúa Án Đô Vương Trịnh Cương (1686 - 1730), em ruột chúa Uy Nam vương Trịnh Giang (1711 - 1761).

Năm 1736 giữ chức Thái úy, Tiết chế quân thủy bộ các xứ, tước An Quốc công, rồi được mở phủ Lượng quốc để nhiếp chính, thay Trịnh Giang mỗi tháng ba lần triệu kiến trăm quan ở Trạch các, nghe tâu trình công việc.

Trịnh Giang, hiệu Uy Nam vương, làm chúa “xa xỉ và hung ác”, giết hại vua và công thần, bắt phu phen tạp dịch, thuế khóa nặng nề, xây dựng nhiều cung quán chùa chiền nguy nga, tốn kém, nông dân mất cơ nghiệp, khởi nghĩa khắp nơi. Sau khi Trịnh Giang trao quyền nhiếp chính cho Trịnh Doanh, Hoàng Công Phụ đem lòng ganh ghét Doanh vì Doanh có tài văn võ, lại được lòng các quan trong ngoài. Hoàng Công Phụ tìm cách muốn tâu bày hạn chế quyền lực của Doanh, ông hạ lệnh cho triều quan việc gì với Doanh, không được dùng chữ “bẩm” mà phải dùng chữ “thân” (trình). Biết Hoàng Công Phụ muốn hại mình, Doanh khôn khéo giữ gìn kín đáo và nín nhịn. Năm Canh Thân (1740), Trịnh Doanh thay Trịnh Giang nối nghiệp chúa, lấy hiệu là Minh Đô Vương, tôn Trịnh Giang làm Thái thượng vương. Trịnh Giang ở cung Thưởng Trì thêm 20 năm nữa mới mất, thọ 51 tuổi, được truy tôn là Thuận vương, hiệu Dụ Tổ.

minh-do-vuong.jpg
Mộ Minh Đô Vương Trịnh Doanh sau ngày xây dựng ( nhìn từ phía sau).

Trịnh Doanh là vị chúa thứ bảy dưới thời vua Lê chúa Trịnh. Phò giúp ông lên ngôi chúa có công lớn của Trịnh thái phi họ Vũ, các đại thần Nguyễn Quý Cảnh, Nguyễn Công Thái, Trịnh Đạc, Vũ Tất Thận, Nguyễn Đình Hoàn... Ở ngôi chúa, Trịnh Doanh ép Lê Ý Tông nhường ngôi cho Lê Hiển Tông (Thái tử của vua Thuần Tông), tôn Lê Ý Tông làm Thái thượng hoàng ở điện Càn Thọ. Tờ chiếu nhường ngôi của vua Ý Tông có đoạn viết: “Nghĩ phương xa có nhiều kẻ mạnh, lòng càn rỡ, muốn cho trong ngoài bờ cõi được yên vui, thì chính là theo lễ nên tôn dòng con trưởng, để trọng tôn thống, mà thu phục lòng người”. Lê Hiển Tông là ông vua trị vì lâu nhất lịch sử phong kiến nước ta.

Lúc Trịnh Doanh cầm quyền, trong nước nhiều biến loạn, ông đã phải sắp xếp lại mọi việc để ổn định tình hình chính trị: chấn chỉnh bộ máy quan lại, cho đặt ống đồng trước cửa phủ để dân chúng có thể bỏ thư tố giác quan lại sai trái, bãi bỏ nhiều chiếu chỉ đã được ban thời Trịnh Giang, thực hiện nhiều sắc chỉ được ban hành dưới thời Trịnh Cương (đã bị Trịnh Giang bỏ), cho giảm bớt việc xây dựng chùa chiền, trả lại ruộng đất cho nông dân, ưu đãi các tướng sĩ; trấn áp và đánh bại nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng ngoài; trọng dụng các danh sĩ như Ngô Thì Sĩ, Lê Quý Đôn, Hoàng Nghĩa Bá, Nguyễn Quý Cảnh, Nguyễn Quang Nhuận, Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Công Thái, phong lại quan tước và truy tặng Thái bảo cho danh sĩ Lê Anh Tuấn... Các biện pháp của Trịnh Doanh giúp đất nước ổn định phần nào. Phan Huy Chú khen thời Trịnh Doanh ở ngôi là thời thịnh trị. Tuy nhiên, sử sách cũng lên án nhiều sai lầm nghiêm trọng của Trịnh Doanh như mới lên ngôi chúa ông đã hạ lệnh đốt hết sổ sách thư từ, để dẹp được loạn ông cho thu nhặt hết chuông khánh trong các chùa để đúc binh khí và quá tin dùng quân Thanh Nghệ để sau này nảy sinh họa kiêu binh. Chính chúa sau Trịnh Doanh đã phải hứng chịu hậu quả ấy.

Theo Trần Thái Bình, năm 1746 Trịnh Doanh ra 7 điều lệnh cho quan Đề lĩnh thi hành: Cấm trong nhà dung túng cho bọn gian tế trú ngụ, cấm lính tuần hành trong thành làm sự càn bậy nhốn nháo, gây mất trật tự trị an, khách buôn bán không được ngủ đêm trong thành, 8 cửa thành khi mở khi đóng phải đúng giờ giấc. Để bảo vệ cho kinh đô Thăng Long, năm 1749 chúa Trịnh Doanh ra lệnh điều động dân phu đắp lại vòng thành ngoài, dựa theo thành Đại La cũ, gọi là thành Đại Đô. 16 cửa ô của thành mới là: ô Cầu Giấy, ô Bưởi, ô Thạch Khối, ô Đông Hà, ô Trường Thanh, ô Mỹ Lộc, ô Tây Long, ô Thanh Lãng (Đống Mác), ô Đông Hà (sau này gọi là ô Quan Chưởng) ở phía Đông và phía Bắc; ô Thanh Bảo (hay Vạn Bảo - nay ở cuối phố Kim Mã), ở phía Tây; ô Yên Thọ (Cầu Dền), ô Kim Hoa (Kim Liên, Đồng Lầm), ô Thịnh Quang (Chợ Dừa) ở phía Nam” (http://thanglong.chinhphu.vn).

Năm 1740, Trịnh Doanh trực tiếp cầm quân đánh nghĩa quân Vũ Đình Dung, Đoàn Danh Chấn, Tú Cao ở Nam Trực, Nam Định, xóa tên xã Ngân Già - quê hương của Vũ Đình Dung, đổi tên thành xã Lai Cách. Năm 1743, Trịnh Doanh sai Hoàng Ngũ Phúc, Phạm Đình Trọng đem binh đến đánh bại Hữu Cầu ở Xương Giang. Năm 1746, quận He xin hàng, Trịnh Doanh thuận cho và lại phong cho làm Hướng Nghĩa hầu. Nói chung, thời Trịnh Doanh cầm quyền, các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Dương Hưng... đều bị đánh tan. Năm 1751, Trịnh Doanh hạ lệnh miễn thuế đánh cá cho dân biển, cứu tế những nơi mất mùa, đặt quan khuyến nông ở các trấn nhằm đôn đốc việc khai khẩn đất hoang, chăm lo đê điều, có chính sách ưu đãi quân lính, cho lập Võ miếu để khích lệ tinh thần thượng võ...

Năm 1755, Trịnh Doanh được vua Lê gia phong Thượng sư Thượng phụ anh đoán văn trị võ công Minh Vương; ông còn muốn thiên đô sang Gia Lâm, nên hạ lệnh sửa sang xây dựng cung miếu ở Cổ Bi. Tháng Giêng năm Đinh Hợi (1767), Trịnh Doanh mất, thọ 48 tuổi, ở ngôi chúa 27 năm. Sau khi qua đời, Trịnh Doanh được tôn là Nghị Tổ Ân Vương.

Trịnh Doanh gồm tài văn võ, sáng tác nhiều thơ Nôm. Tác phẩm gồm có: Càn Nguyên ngự chế thi tập, Minh Đô Vương thi tập, Bình Tây thực lục...

Minh Đô Vương thi tập do Trịnh Sâm và Thị thư Viện Hàn lâm biên tập lại và đề tựa, sách gồm hơn 100 bài thơ. Càn Nguyên ngự chế thi tập (Tập thơ chế ở ngự cung Càn Nguyên) do Trịnh Doanh soạn, Trịnh Sâm đặt tên, Phan Lê Phiên biên soạn và viết lời tựa. Sách này chia làm 4 quyển, gồm 263 bài, trong đó có 241 bài thơ Nôm, 22 bài chữ Hán. Tập thơ có đề tài phong phú. Quyền 1 gồm 84 bài mừng tặng, chỉ bảo, khuyên răn người thân trong gia đình, các bề tôi hầu cận. Quyển 2 gồm 51 bài khích lệ các tướng sĩ ra trận hoặc trấn nhậm các nơi xa. Quyền 3 gồm 52 bài ban khen các thần tử, sứ thần. Quyển 4 gồm 76 bài đề vịnh cảnh vật. Thị thư Viện Hàn lâm, Tư nghiệp Quốc tử giám Phan Lê Phiên có bài khải sau: “Cúi nghĩ, ý chúa dựng nghiệp lâu dài, chế tác văn chương để lại như thiên Đại Nhã noi theo thánh giáo, biên tập để rạng vẻ trùng quan, sáng đến kho sách, đẹp cả rừng nho. Thần trộm nghĩ: điều thơ muốn nói không phải gì khác là gốc ở tính tình mà bao gồm vật lí. Thơ để dạy là để hiếu kính mà đầy đủ nhân luận. Từ khi ba trăm thiên (Kinh thi) đã liệt vào hạng lục kinh, thì thơ ngũ ngôn, thất ngôn đều được các đời ưa chuộng. Ngẫm nghĩ, quốc triều ta dựng nước, sẵn có đường lối văn hiến, các bậc thánh thần truyền nối, đều tôn trọng đạo “tinh nhất chấp trung”. Công việc dọc đất ngang trời, dựng nghiệp đế vương, mở nền bình trị, anh hoa phát ra lời thơ, tốt đẹp còn mãi trong sử sách, cho nên thánh vương trước nối ngôi, nhờ được di minh của thánh tổ, chuộng việc văn, kính theo mưu trước, trọng việc học xét lời dạy xưa. Để sửa sang đạo hóa thì tìm rõ đầu mối ở chính kinh; để nung đúc tính linh thì thường thấm nhuần lục nghĩa (phong, nhã, tụng, phú, tỷ, hứng trong Kinh thi); lòng chan chứa lý thú, tình dào dạt văn thơ, răn các tướng, khuyên các quân, theo lối cũ của thơ Thái Dĩ, thơ Xa Công; nhớ người đi sứ, khen người nhiều tuổi, rõ là phong thái của Hoàng Hoa, thơ Hàng Vĩ; tỏ lòng thành kính như thơ Vân Hán; ngụ hứng vui chơi như thơ Quyền A; trong cung cấm thì bảo nghiêm chỉnh, nêu phép thường như thơ Tư Trai; ngoài triều đình thì hỏi han khuyên răn, theo mưu hay như thơ Phỏng Lạc... Ở ngôi chúa 28 năm, làm thơ được hơn 200 bài, việc việc đều tu tề trị bình, theo nếp tốt của thời Tam đại; lời lời đều hòa nhã trọng hậu, dựng nên tiêu chuẩn cho bách vương. Sang sáng như tiếng cung tiếng vũ chen nhau, lóng lánh như sao Khuê, sao Lâu cùng sáng. Thực là văn chương rực rỡ đáng theo, nên cơ nghiệp tổ tiên được thịnh... việc in khắc thần chỉ là người để sai khiến, phần xếp đặt thì nhờ ở chúa bảo ban” (Trần Văn Giáp. Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Tập II). Phan Huy Chú đánh giá: “Xét ra tám đời chúa Trịnh, trước chưa đời nào ham thích thơ văn. Đến Trịnh Cương, Trịnh Giang tuy có ưa chuộng văn nghệ, nhưng cũng chưa lưu ý đến thú ngâm vịnh. Đến Ân Vương Trịnh Doanh dụng công về việc làm thơ, làm đến mấy trăm bài, cũng đáng gọi là một vị chúa hiền thích thơ văn” (Lịch triều hiến chương loại chí). Có điều, do Trịnh Doanh chỉ được tôn làm chúa, mà lại dùng từ Càn Nguyên đặt tên cho thi tập nên Phan Huy Chú còn phê bình: “Các thần tử bấy giờ biên chép, lại tôn sùng rất mực, coi như thực là thiên tử rồi, sự thế bây giờ như thế, có gì lạ đâu”.

Trịnh Doanh thưởng phạt công minh, coi trọng thực tài, là người đầu tiên đặt ra quy định: bất cứ ai, trước khi được Bộ Lại bổ dụng cất nhắc, phải dẫn vào phủ đường yết kiến để chúa trực tiếp hỏi về việc làm, ai có khả năng mới trao cho chức quyền.

Ông có bốn bài thơ bàn sâu sắc, trực tiếp về vấn đề tài đức:

Đức thời là cội, ngọn là tài,

Tài đức gồm hai mới đáng tài.

Đức thắng, hãy gìn quân tử đức,

Tài ưu, bao sá tiểu nhân tài.

Tài là hoa gấm, phô nền đức,

Đức có thơm danh ỏa chữ tài.

(Luận tài đức)

Tài trong quan niệm của Trịnh Doanh có ý nghĩa rộng, tài gắn liền với đức, đức là gốc của tài, đức được phô diễn qua tài, tài năng được cụ thể hóa thành năng lực chuyên môn. Trịnh Doanh quan tâm nhiều hơn đến tài cầm binh của người chỉ huy quân sự (Sức quản binh quan huấn tề, Sức quản binh quan thao luyện...). Ông còn dùng thơ chế giễu trò chơi chọi gà không hợp thức, dùng thơ phê bình kẻ gian nịnh, uốn nắn những sai sót về chuyên môn của cấp dưới (Trào đấu kê bất hợp thức, Ố gian nịnh, Trào quản binh quan bất năng huấn tề, Trào binh phiên quan phát hiệu, Trào khảo xạ bất trúng...).

Trịnh Doanh phần nhiều làm thơ Đường luật. Thơ của ông chủ yếu thể hiện tiếng nói trữ tình ngôn chí, miêu tả con người chức năng, bộc lộ quan niệm của ông về tu thân, tề gia, trị quốc. Trịnh Doanh dùng thơ Nôm để đôn đốc, chỉ đạo, nhắc nhở từ việc lớn đến việc nhỏ. Ông quan tâm đến những người trực tiếp thực thi nhiệm vụ, từ các đại thần văn võ đến các bề tôi cấp thấp, chủ trương sử dụng thơ Nôm và các thể thơ dân tộc.

Trước Trịnh Doanh, ở thời Trần (XIII), Hàn Thuyên đã sáng tác nhiều bài thơ luật Đường bằng chữ Nôm, sau đó có Nguyễn Sĩ Cố cũng giỏi thơ quốc âm, Chu An có Quốc ngữ thi tập. Sang thế kỉ XV, XVII, nói đến thơ Nôm có thể kể đến những Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), Hồng Châu quốc ngữ thi tập (Lương Như Hộc), Hồng Đức quốc âm thi tập (Lê Thánh Tông và các tác giả thời Hồng Đức), Bạch Vân quốc ngữ thi tập (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Ngự đề Thiên hoà doanh bách vịnh (Trịnh Căn)... Càn Nguyên ngự chế thi tập của Trịnh Doanh có tới 241 bài thơ Nôm. Nếu nói về số lượng thơ Nôm trong thi tập này có lẽ Trịnh Doanh chỉ đứng sau Nguyễn Trãi. Trịnh Doanh là một “vị chúa hiền thích thơ văn”, sáng tác thơ văn dồi dào. Càn Nguyên ngự chế thi tập rõ ràng là một đóng góp tích cực của ông đối với sự trau dồi và phát triển ngôn ngữ văn học dân tộc./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Hai Bàn thờ Phật bằng đá ở xã Dương Hòa được công nhận Bảo vật Quốc gia
    Lễ công bố Quyết định và đón Bằng công nhận Bảo vật Quốc gia đối với Bàn thờ Phật bằng đá tại chùa Hương Trai và chùa Đại Bi diễn ra tại sân Ải Cả, xã Dương Hòa (Hà Nội) vào ngày 17/4/2026. Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Thu Hà đã tới dự.
  • Văn hóa dân gian cần được xem như một nguồn lực phát triển đất nước
    Từ thực tế di sản văn hóa truyền thống của dân tộc, GS.TS Lê Hồng Lý – Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam cho rằng, chúng ta cần xem xét văn hóa dân gian như một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc, đúng với định hướng phát triển văn hóa Việt Nam mà Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra.
  • “Chìa khóa” phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
    PGS.TS. Nguyễn Thị Anh Quyên (Trưởng bộ môn Chính sách văn hóa và Quản lý nghệ thuật, Khoa Quản lý Văn hóa Nghệ thuật, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) nhấn mạnh, sự ra đời của Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định rõ vai trò của công nghiệp văn hóa trong chiến lược phát triển quốc gia, mở ra những cơ hội mới về thể chế và thị trường.
  • Hà Nội có hai làng nghề trở thành thành viên Mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới
    “Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ, xã Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng, xã Sơn Đồng là thành viên của mạng lưới các Thành phố thủ công sáng tạo thế giới gắn với trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề” dự kiến tổ chức từ ngày 08/5/2026 - 10/5/2026 tại Hoàng Thành Thăng Long Hà Nội.
  • Khảo sát di chỉ khảo cổ Vườn Chuối – hướng tới công viên di sản Thủ đô
    Qua 11 đợt khai quật, hàng nghìn hiện vật quý đã được phát hiện, góp phần làm sáng tỏ lịch sử cư dân Việt cổ vùng châu thổ sông Hồng. Di chỉ đã được xếp hạng di tích cấp Thành phố (6/2025) và đang được định hướng xây dựng thành "Công viên di sản khảo cổ Vườn Chuối".
  • Đình Vạn Xuân
    Đình Vạn Xuân nay thuộc làng Hạ Mỗ, xã Ô Diên là ngôi đình cổ hiện còn khá nguyên vẹn. Đây là nơi thờ Lý Bát Lang - con trai thứ tám của Hậu Nam Đế Lý Phật Tử (thời Tiền Lý), quê huyện Thái Bình (cũng là quê hương của Tiền Lý Nam Đế Lý Bí ở trang Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên).
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Nhìn lại ngày 30/4 qua những ký ức đa chiều và góc nhìn lịch sử
    Nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, NXB Chính trị quốc gia Sự thật ra mắt bạn đọc cuốn sách “30.4.1975: Sài Gòn không còn trận tuyến - Những ký ức về một ngày trọng đại”. Đây là ấn phẩm tập hợp tư liệu, hồi ức và ghi chép lịch sử được tuyển chọn từ Tạp chí Xưa & Nay. Qua lăng kính đa chiều của những người trong cuộc, cuốn sách tái hiện sinh động thời khắc đất nước liền một dải, đồng thời gửi gắm thông điệp sâu sắc về giá trị của hòa bình và thống nhất tới thế hệ hôm nay.
  • Tái định vị giáo dục văn hóa: Nền tảng để văn hóa trở thành động lực nội sinh, phát triển bền vững của đất nước
    Trong bối cảnh Việt Nam triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa, việc tái định vị giáo dục văn hóa trở thành một yêu cầu cấp thiết. Từ đó, TS. Trần Thị Tuyết Sương – Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đề xuất các hàm ý chính sách nhằm định vị giáo dục văn hóa như một trục phát triển, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển văn hóa Việt Nam bền vững trong kỷ nguyên mới.
  • Phố và phường qua những ngôi đình thờ tổ nghề trong phố cổ Hà Nội
    Hà Nội, trong lịch sử dài lâu của mình, được tạo nên bởi “phố” và “phường”. “Phố” và “phường” Hà Nội không chỉ là đơn vị hành chính mà còn hàm chứa những thăng trầm của lịch sử, những đổi thay của xã hội và những giá trị được kiến tạo bởi các cộng đồng dân cư Thăng Long - Hà Nội. Một trong những điểm nổi bật của quá trình kiến tạo này là sự gắn bó mật thiết giữa “phường” với tư cách là đơn vị hành chính đô thị và “phường” với tư cách là một tổ chức nghề nghiệp và “phố” là nơi buôn bán của cư dân đô thị. Trải qua thời gian, dấu ấn đậm nét của những phường nghề Thăng Long xưa vẫn được lưu lại ở các ngôi đình thờ tổ nghề ngay trong vùng lõi của Thủ đô, được gọi là khu phố cổ.
  • Bình Đà rộn ràng mùa hội Quốc Tổ
    Lễ hội Bình Đà 2026 diễn ra tại xã Bình Minh, Hà Nội, tái hiện không gian văn hóa truyền thống đặc sắc, góp phần tôn vinh Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân và lan tỏa giá trị di sản văn hóa của Thủ đô.
  • AI thúc đẩy tái cấu trúc hạ tầng Data Center và Cloud
    Hội nghị thường niên về trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây (Data Center & Cloud Infrastructure Summit (DCCI Summit) 2026 đã được Viettel IDC tổ chức ngày 20/4, tại Hà Nội.
Đừng bỏ lỡ
  • 11 phim được chiếu trong Đợt phim kỷ niệm các ngày lễ lớn năm 2026
    Đợt phim kỷ niệm các ngày lễ lớn 30/4, 1/5, 7/5, 19/5 năm 2026 và Tuần phim Quảng Ninh chào hè do Cục Điện ảnh chủ trì, phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức sẽ diễn ra trên phạm vi cả nước từ ngày 25/4 đến 23/5/2026. Theo đó, sẽ có 11 bộ phim thuộc các thể loại: phim truyện, tài liệu và hoạt hình được chọn chiếu phục vụ khán giả.
  • Triển vọng hợp tác múa Việt Nam - Hàn Quốc
    Trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc đang phát triển mạnh mẽ theo hướng đối tác chiến lược toàn diện, các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật ngày càng đóng vai trò quan trọng như một kênh kết nối mềm giữa hai quốc gia. Trong dòng chảy đó, chuyến thăm và biểu diễn của Trường Đại học Nghệ thuật Quốc gia Hàn Quốc (K-ARTS) tại Hà Nội trong tháng 4 vừa qua không chỉ là một sự kiện giao lưu nghệ thuật, mà còn gợi mở những hướng tiếp cận mới trong hợp tác đào tạo, sáng tạo và phát triển nghệ thuật biểu diễn giữa hai quốc gia.
  • Phường Đông Ngạc không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động thiết chế văn hóa, thể thao
    Đồng chí Nguyễn Thị Hương, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Chủ tịch UBND phường Đông Ngạc (TP. Hà Nội) cho biết, việc tổ chức và hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao trên địa bàn phường thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và sức khỏe cho các tầng lớp nhân dân, cụ thể hóa mục tiêu phát triển Thủ đô “Văn hiến – Văn minh – Hiện đại – Hạnh phúc” mà Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ Thành phố Hà Nội đặt ra.
  • Hội sách Nhã Nam chào hè 2026: Đa dạng hoạt động văn hóa, học thuật, khuyến đọc
    Chào mừng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 2026, Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, học thuật và khuyến đọc tại Hà Nội, Hải Phòng và Nha Trang.
  • “Bài ca môi trường” được chọn làm ca khúc truyền thống của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam
    Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam vừa chính thức công bố tiếp nhận ca khúc “Bài ca môi trường” của tác giả Ngọc Lê Ninh làm ca khúc truyền thống của Hội. Đây được xem là dấu mốc có ý nghĩa đối với hoạt động tuyên truyền, lan tỏa thông điệp bảo vệ môi trường trong cộng đồng.
  • Khi âm nhạc chạm vào ký ức, góp phần xây dựng đời sống văn hóa
    Trong không gian Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” ngày 19/4 không chỉ mang đến những giai điệu Jazz giàu cảm xúc, mà còn gợi mở một cách tiếp cận sâu sắc về vai trò của âm nhạc trong việc kiến tạo và lan tỏa các giá trị văn hóa. Nổi bật trong dòng chảy ấy là ca khúc “Hà Nội ngày trở về” của nhạc sĩ Phú Quang, vang lên như một điểm lắng giàu tính biểu tượng, nơi âm nhạc góp phần khắc họa hình ảnh Thủ đô trong đời sống đương đại.
  • Gần 100 nghệ sĩ Belarus mang opera và ballet biểu diễn tại Nhà hát Hồ Gươm
    Gần 100 nghệ sĩ xuất sắc của Nhà hát Opera và ballet quốc gia Belarus (Bolshoi Theatre of Belarus) sẽ trở lại Hà Nội diễn trong hai đêm Bella Belarus: Những kiệt tác opera và ballet vào ngày 7 và 8-5 tại Nhà hát Hồ Gươm.
  • Nhiếp ảnh gia Trần Thế Phong ra mắt sách ảnh về nghị lực của học sinh khiếm thị
    Sách gồm 100 tác phẩm được chọn lọc từ hàng nghìn bức ảnh ghi lại đời sống, học tập của học sinh Trường phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu trong năm học 2024-2025. Đây là thành quả của hơn 15 năm tác giả gắn bó với môi trường giáo dục đặc biệt này.
  • Sôi nổi Liên hoan Tiếng hát dân ca Người cao tuổi phường Tây Hồ năm 2026
    Trong không khí thi đua sôi nổi hướng tới kỷ niệm 85 năm Ngày truyền thống Người cao tuổi Việt Nam (6/6/1941 – 6/6/2026), Hội Người cao tuổi phường Tây Hồ vừa long trọng tổ chức “Liên hoan Tiếng hát dân ca Người cao tuổi phường Tây Hồ năm 2026”. Chương trình không chỉ là sân chơi văn hóa – nghệ thuật ý nghĩa mà còn là dịp để tôn vinh, gìn giữ và lan tỏa những giá trị dân ca truyền thống trong đời sống cộng đồng.
  • Hai Bàn thờ Phật bằng đá ở xã Dương Hòa được công nhận Bảo vật Quốc gia
    Lễ công bố Quyết định và đón Bằng công nhận Bảo vật Quốc gia đối với Bàn thờ Phật bằng đá tại chùa Hương Trai và chùa Đại Bi diễn ra tại sân Ải Cả, xã Dương Hòa (Hà Nội) vào ngày 17/4/2026. Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Thu Hà đã tới dự.
Trịnh Doanh – văn võ song toàn
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO