Văn hóa – Di sản

Phan Huy Chú - nhà bác học, nhà thơ lớn

Tạ Ngọc Liễn • 21/11/2023 10:07

Dòng họ Phan Huy vốn ở xã Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, tỉnh Nghệ An đến đời Phan Huy Cận (1722 - 1789) thân sinh ra Phan Huy Ích (1751 - 1822), dời tới xã Thụy Khê, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai, Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội), rồi nhập tịch ở đấy.

phan-huy-chu.jpg
Tranh minh họa danh nhân, nhà bác học Phan Huy Chú.

Phan Huy Chú là con trai thứ ba Phan Huy Ích và là cháu gọi Ngô Thì Nhậm bằng bác. Trong lịch sử nước ta, họ Ngô Thì ở Tả Thanh Oai và họ Phan Huy ở Quốc Oai (Sơn Tây) là hai dòng họ nổi tiếng có truyền thống khoa bảng và văn học, đã đóng góp cho đất nước nhiều tác giả, tác phẩm có giá trị.

Theo Phan tộc công phả, Phan Huy Chú có 6 anh em trai và 8 chị em gái. Người anh thứ hai là Phan Huy Thực (1779 - 1848) dưới triều Nguyễn từng làm tới Thương thư Bộ Lễ, đi sứ Trung Quốc năm 1817, có tập thơ Hoa thiều tạp vịnh và được ghi nhận là dịch giả bản dịch Nôm Tỳ bà hành quen thuộc lâu nay.

Phan Huy Chú tự là Lâm Khanh, hiệu Mai Phong, sinh vào mùa đông năm Nhâm Dần (1782), mất năm 1840, mộ chôn ở xã Thanh Mai, huyện Tiên Phong, Sơn Tây. Ông có 5 con trai và 1 con gái. Vợ Phan Huy Chú là bà Nguyễn Thị Vũ, con gái của tiến sĩ Nguyễn Thế Lịch (tức là Nguyễn Gia Phan), Thượng thư Bộ Lại triều Tây Sơn, người ở làng Yên Lũng, Từ Liêm (nay thuộc Hoài Đức, Hà Nội).

Phan Huy Chú sinh ra và lớn lên ở xã Thụy Khê, tục gọi là làng Thầy. Đây là một vùng quê phong cảnh đẹp, có thắng tích nổi tiếng là Sài Sơn. Dưới khung cảnh thiên nhiên núi cao chót vót, cây cỏ u nhã ấy, Phan Huy Chú đã sống trọn tuổi trẻ với những năm tháng say sưa học tập, nghiên cứu. Vốn thông minh, sớm có chí tìm tòi, học tập, lại được sự dạy dỗ, rèn luyện cẩn thận của gia đình nên Phan Huy Chú học rất giỏi, nổi tiếng cả vùng Quốc Oai, Sơn Tây. Đặc biệt sống giữa mênh mang sách vở của bao đời mà gia đình lưu trữ được, Phan Huy Chú có điều kiện đọc nhiều và hầu như ông đã thâu tóm được đầy đủ đầu mối điển chương, tinh hoa của mọi sách vở. Nhưng mặc dầu Phan Huy Chú đọc sách hạng “vạn quyển”, uyên bác như thế mà hai lần đi thi chỉ đỗ tú tài nên người đời tthường gọi là ông “Kép Thầy”.

Dẫu không đứng trong hàng “đại khoa” nhưng thực học, thực tài của Phan Huy Chú vẫn nổi tiếng xa gần. Minh Mệnh nghe biết, năm 1821 cho triệu Phan Huy Chú vào Huế giữ chức Hàn lâm biên tu. Năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), được sung vào sứ bộ sang Trung Quốc. Năm 1829 điều làm Hiệp trấn Quảng Nam. Sau đó bị giáng. Năm 1831, lại được cử sang sứ Trung Quốc lần thứ hai. Khi trở về do cả sứ bộ phạm tội “lộng quyền”, Phan Huy Chú bị cách chức. Năm sau, Phan Huy Chú bị Minh Mệnh bắt đi hiệu lực ở Giang Lưu Ba (thuộc Indonexia ngày nay). Sứ bộ này đi về chuyện buôn bán đường biển giữa nhà Nguyễn và Nam Dương. Xong nhiệm vụ trở về, Phan Huy Chú được khôi phục giữ chức Tư vụ Bộ Công. Nhưng chán cuộc đời làm quan, Phan Huy Chú lấy cớ đau yếu xin hưu trí, về dạy học ở Thanh Mai, rồi mất tại đó.

Nếu xét cuộc đời làm quan của Phan Huy Chú, có lẽ cũng không có gì đặc biệt ngoài chuyện mấy lần bị giáng chức, bị đẩy đi phục vụ một phái đoàn sang Indonexia. Đến khi chán cảnh quan trường thì xin về làng ẩn dật. Nhưng đứng về phương diện văn hóa, Phan Huy Chú có cống hiến rất lớn; ông đã để lại cho dân tộc một công trình khoa học đồ sộ, đó là bộ Lịch triều hiến chương loại chí. Ngoài công trình quan trọng này, Phan Huy Chú còn có một số tác phẩm khác. Theo Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác gia Việt Nam (Tập I, 1962), Phan Huy Chú còn có Hoàng Việt địa dư chí, Hoa thiều ngâm lục, Hoa thiều tục ngâm, Dương trình ký kiến (còn có tên Hải trình chí lược)...

Hoàng Việt địa dư chí là cuốn sách viết về địa lý nước ta ở thời Nguyễn. Năm Minh Mệnh thứ 14 (1833), sách này được in ở hai nơi: Hội văn đường và Quảng văn đường, đời Thành Thái thứ 9 (1897). Sau đó nhà Tụ văn đường in lại.

Hoa thiều ngâm lục là tập thơ do Phan Huy Chú làm lần đi sứ thứ nhất (1825) có 2 quyển. Quyển thượng gồm có 1 bài Tựa của tác giả; 161 bài thơ và 3 bài phú. Quyển hạ gồm 114 bài thơ, 1 bài phú và 8 bài từ.

Hoa trình tục ngâm là tập thơ do Phan Huy Chú làm lần đi sứ thứ hai gồm 127 bài.

Dương trình ký kiến là tập sách ghi chép những điều mắt thấy trong cuộc hành trình trên biển. Đây là cuốn sách Phan Huy Chú viết khi đi hiệu lực ở Indonexia. Cuốn Hải trình chi lược (ghi chép sơ lược trong cuộc hành trình trên biển) là một tên gọi khác của cuốn Dương trình ký kiến.

Ngoài ra Phan Huy Chú còn có 20 bài biểu, tấu, tựa... Trong số di cảo đó có 2 bài mang giá trị thông tin đặc biệt là Nam trình tạp ngâm tự tự và Tiến ngọc phủ biểu. Nam trình tạp ngâm tự tự là bài Tựa tự tác giả viết cho tập thơ Nam trình tạp ngâm làm năm 1821, trên đường ông từ Sơn Tây vào Huế để nhận chức theo chiếu gọi của Minh Mệnh. Phan Huy Chú viết: “Tôi chỉ là một gã thư sinh, đội ơn có chiếu chỉ của nhà vua gọi, không giám lấy cớ là một kẻ quê mùa đau yếu để từ chối. Vào cuối tháng đầu năm (tháng Giêng) tôi từ biệt núi cũ lên đường vào Kinh. Trên đường đi trải ngắm phong cảnh sông ngòi, đồng ruộng, núi, biển mênh mông, xúc cảm trước cảnh vật, đều có thơ ngâm vịnh... Nhân sắp xếp thơ đó lại được 36 bài, đặt tên là Nam trình tạp ngâm. Năm Tân Tị, tiết thanh minh, Hàn lâm viện Mai Phong chủ nhân, viết ở quán trọ bên sông Hương”.

Rất tiếc Nam trình tạp ngâm thất truyền từ lâu. Một thế kỷ rưỡi qua, đến cái tên của tập thơ cũng chưa được biết tới. Nhưng rồi cuối cùng chúng ta cũng tìm ra, không phải chỉ là một cái tên sách mà cả bài Tựa của tập thơ. Trên cơ sở này, chúng ta hy vọng trong tương lai, 36 bài thơ Nam trình tạp ngâm của Phan Huy Chú có thể sẽ được phát hiện.

Tiến ngọc phả biểu (Biểu dâng ngọc phả): Tờ biểu này Phan Huy Chú dâng lên Minh Mệnh khi ông và một vài người nữa làm xong cuốn Ngọc phả viết về dòng họ vua Nguyễn theo lệnh Minh Mạng. Mở đầu bài biểu

viết Tâu về việc cung kính tu soạn xong “Ngọc phả” biên chép đẩy đủ dâng lên nhà vua... Như vậy, Phan Huy Chú còn là tác giả sách Ngọc phả của nhà Nguyễn nữa.

Điểm qua các tác phẩm của Phan Huy Chú, chúng ta thấy Lịch triều hiến chương loại chí là công trình lớn nhất của ông. Có thể nói toàn bộ trí tuệ, tài năng, lòng say mê nghiên cứu, công sức lao động, nghị lực làm việc của Phan Huy Chú đã dồn hết vào công trình này. Sự nghiệp còn mãi của Phan Huy Chú cũng chính là ở công trình này.

Để hoàn thành bộ Lịch triều hiến chương loại chí, ông đã phải bỏ ra thời gian 10 năm, từ 1809 đến 1819; tức là bộ sách được khởi thảo lúc Phan Huy Chú 27 tuổi và tới khi ông 37 tuổi mới xong. Quả là phải có một lòng yêu tha thiết đối với lịch sử dân tộc, văn hóa dân tộc mới có được chí ấy.

Trong bài Tựa sách Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú viết: “Nước Việt ta từ đời Đinh, Lê, Lý, Trần, phong hội đã mở, đời nào cũng có chế độ của đời ấy. Đến nhà Lê kiến thiết kỹ càng, phép tắc đầy đủ, thanh danh của nước và văn hóa, nhân tài đều thịnh không kém gì Trung Hoa...

Duy điển lễ của các triều, từ trước chưa có sách sẵn. Trong quốc sử biên chép công việc hàng năm về điển lễ, còn sơ lược nhiều. Huống chi từ năm Bính Ngọ (1786) có việc binh đao đến giờ, sách cũ tan nát, chỉ còn được một ít của các cố gia thế tộc cất giấu đi. Các sách nát, còn lại biên chép lẫn lộn sai lầm chưa có đầu mối; có bàn về điển cố các triều thì lờ mờ không bằng cứ vào đâu. Vậy thì chép lấy những điều mắt thấy tại nghe, chia ra từng việc, từng loại để làm một quyển sách có khuôn phép há chẳng là nhiệm vụ của người học giả ư?...

Từ khi vào núi ở đến giờ mới đóng cửa tạ khách cố sức tìm nhặt, sau khi đọc sách được nhàn rỗi, thì lại tùy từng loại khảo xét và đính chính, có khi nghĩ được điều gì thì làm ra lời bàn. Ngày tháng góp lại đến nay đã trải qua 10 năm, biên chép đã xong, cộng có 10 chí: Dư địa, Nhân vật, Quan chức, Lễ nghi, Khoa mục, Quốc dụng, Hình luật, Binh chế, Văn tịch, Bang giao. Chí nào cũng có lời nói đầu để kể rõ đại ý. Mỗi chí lại chia ra tiết, mục, chép riêng từng tập, nối liền với nhau gọi là Lịch triều hiến chương loại chí, cộng 49 quyển”...

Năm 1821, lúc làm Hàn lâm biên tu, Phan Huy Chú dâng Lịch triều hiến chương loại chí lên Minh Mệnh, được Minh Mệnh thưởng cho 30 lạng bạc, một chiếc áo sa, 30 cái bút, 30 thoi mực.

Như Phan Huy Chú đã nói, Lịch triều hiến chương loại chí là bộ sách bao gồm 10 chí; tức là 10 sách ghi chép 10 bộ môn được phân loại, nghiên cứu một cách hệ thống theo trình tự:

Dư địa chí: Nghiên cứu sự thay đổi về bờ cõi qua các đời, sự khác nhau về phong thổ của các tỉnh.

Nhân vật chí: Nói về tiểu sử các vua chúa, những người có công lao xây dựng các triều đại; những tướng lĩnh có danh tiếng, những trí thức có đức nghiệp.

Quan chức chí: Khái quát việc đặt quan chức ở các đời, sự thay đổi tên các quan chức, chức vụ của các ti, chế độ ban cấp bổng lộc, chế độ bổ dụng quan lại.

Lễ nghi chí: Chế độ áo mũ, xe kiệu của vua chúa chế độ phẩm phục, võng kiệu của quan lại, lễ thờ cúng, tang ma, lễ sách phong, tế cáo...

Khoa mục chí: Đại cương về phép thi các đời, thể lệ của các kỳ thi...

Quốc dụng chí: Việc làm sổ hộ khẩu, phép thu thuế, đánh thuế, tiền tệ, chế độ ruộng đất...

Hình luật chí: Khái quát về việc định luật lệ các đời, luật các loại.

Binh chế chí: Nghiên cứu về việc đặt các ngạch quân, phép tuyển chọn quân lính, chế độ lương bổng, quân trang, quân dụng, phép thi võ.

Văn tịch chí: Nói về tình hình sách vở các đời.

Bang giao chí: Chép việc bang giao của các đời, nghi lễ đón tiếp sứ thần các nước.

Tóm tắt qua cấu tạo sách Lịch triều hiến chương loại chí chúng ta thấy dung lượng của nó rất lớn. Đây quả là một bộ lịch sử văn hiến đồ sộ, một pho bách khoa toàn thư của đất nước. Một nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam của Liên Xô, G.P. Mu-ra-sê-va đã đánh giá: “Lịch triều hiến chương loại chí là một bộ sách xứng đáng được gọi là bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống Việt Nam. Công trình này thực tế không có công trình nào sánh nổi về bề rộng của phạm vi các vấn đề trong khoa lịch sử sử học Việt Nam thời phong kiến” (Tiếng Nga, 1973).

Mười bộ môn trong công trình của Phan Huy Chú là mười lĩnh vực khoa học riêng, có quan hệ với nhau và là những vấn đề thiết yếu của quốc gia thời xưa. Lĩnh vực nào Phan Huy Chú cũng tỏ ra uyên bác và có những quan điểm sâu sắc. Hơn nữa, với sự phân loại, hệ thống hóa từng bộ môn như thế, Lịch triều hiến chương loại chí đánh dấu một bước phát triển cao của thành tựu khoa học nước nhà hồi đầu thế kỷ XIX.

Ngày nay đi sâu tìm hiểu Lịch triều hiến chương loại chí, chúng ta có thể nói được khá nhiều về giá trị khoa học của bộ sách, như về thể tài, tính hệ thống, tính chính xác, tính sáng tạo, phương pháp trình bày... Đặc biệt, bên cạnh giá trị khoa học, giá trị cung cấp sử liệu hết sức phong phú, toàn diện, Lịch triều hiến chương loại chí còn là một công trình học thuật chứa đựng nhiều tư tưởng tiến bộ của tác giả. Qua Lịch triều hiến chương loại chí, chúng ta thấy Phan Huy Chú là một nhà bác học có lòng yêu nước thiết tha và có một ý thức dân tộc sâu sắc. Lòng yêu nước ý thức dân tộc đó gắn quyện với nhau chặt chẽ, thể hiện qua cách suy nghĩ về toàn bộ lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, cũng như qua cách nhìn nhận, đánh giá từng vấn đề, từng sự kiện lịch sử mà ông nghiên cứu.

Trong công trình của mình, Phan Huy Chú đặt Dư địa chí lên đầu, rồi tới Nhân vật chí. Qua cách sắp xếp thứ tự và qua lời bàn ở mỗi chí, chúng ta thấy rõ quan điểm của Phan Huy Chú: đối với một quốc gia, vấn đề lớn nhất là đất nước và con người. Đất nước tức là hoàn cảnh địa lý; cương vực núi sông, đất đai, phong thổ, tài nguyên. Còn con người là gốc của nước, ông nói: “Nước lấy người làm gốc” (Nhân vật chí). Bàn về con người, Phan Huy Chú chưa có được nhận thức quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử. Ông mới chỉ nhìn thấy vai trò của những cá nhân, những nhân tài tuấn kiệt. Song bàn về bờ cõi núi sông, về công lao xây dựng, bảo vệ giang sơn và quyền làm chủ bờ cõi đất đai của tổ tiên, Phan Huy Chú có những suy nghĩ rất sâu sắc, chí lý. Ông luận rằng:“Từ khi có trời đất thì có núi sông. Đất nào thuộc phận sao nào đã chia sẵn. Bờ cõi mỗi nước đều phân biệt. Nước nào có địa phận nước ấy. Việc định giới hạn để ngăn cách là việc cần phải làm trước tiên khi mới dựng nước: “Của báu của một nước không gì quý bằng đất đai. Nhân dân và của cải đều do đấy mà sinh ra.... Nước Việt ta, từ đời Hùng Vương dựng nước, chia địa giới đặt kinh đô, núi sông nước Nam đã có giới hạn ở “sách trời”...

Ngọn bút của Phan Huy Chú khi chọn trích thơ văn, khi nhận xét, đánh giá các tác giả, các tác phẩm là ngọn bút của một nhà phê bình văn học tài năng, một nhà làm văn học sử sâu sắc. Có thể nói, phần Thi văn trong Văn tịch chí là một cuốn lịch sử văn học còn sơ giản bằng những trích dẫn tác phẩm có chọn lọc và hệ thống. Viết phần Thi văn, Phan Huy Chú đã làm việc tổng kết lịch sử văn học cổ nước nhà tuy chưa hoàn chỉnh nhưng cũng là một phác họa quý giá.

Thực ra, Phan Huy Chú không chỉ tổng kết riêng lịch sử văn học mà với Lịch triều hiến chương loại chí ông đã tổng kết toàn bộ lịch sử nghìn năm văn hiến của nước ta. Làm Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú có than: “Ôi! Công việc trước thuật người xưa vẫn phàn nàn là khó” và ông khiêm tốn nói rằng ông chỉ “tạm góp nhặt những điều mắt thấy tai nghe bổ khuyết vào chỗ thiếu sót” của sách vở thời trước. Nhưng thực tế Lịch triều hiến chương loại chí là bộ sách để người đọc một đời hiểu suốt các đời. Phan Huy Chú nói: “Cái thần diệu trong chế tác thể hiện ra ở điển lễ, hiến chương, cái hay trong tâm thuật ngụ vào văn chương, sách vở”. Đúng vậy, đọc Lịch triều hiến chương loại chí, chúng ta thấy rõ cái “thần diệu” của dân tộc Việt Nam trong việc sáng tạo ra nền văn hiến lâu đời giàu bản sắc, cũng như thấy cái hay, cái đẹp, cái cao sâu trong tâm thuật của nhà bác học Phan Huy Chú, đã được ông gửi gắm vào sách vở, văn chương.

Như đã nói ở phần đầu, Phan Huy Chú để lại hai tập thơ là Hoa trình ngâm lục và Hoa trình tục ngâm, gồm hơn 400 bài, được ông sáng tác trong hai lần đi sứ sang Trung Quốc. Lần thứ nhất từ 1824 đến 1826; lần thứ hai từ 1830 đến 1832, dưới triều vua Minh Mệnh.

Đọc thơ Phan Huy Chú, chúng ta thấy thơ ông quả là mang đậm nét “kỷ sự”, “miêu tả những điều mắt thấy”, song không phải không có sức rung cảm sâu sắc của một tâm hồn thi nhân - bác học.

Dưới đây là ba bài trích trong tập Hoa thiều ngâm lục, do nhà thơ Trần Lê Văn dịch thơ. Bài thứ nhất nhan đề Kỳ Lừa phố (Phố Kỳ Lừa):

Nhà ngói, người tụ hội,

Sọt xanh, hàng hóa đầy.

Ngược xuôi, đất qua lại,

Phong vị mỡ màu thay.

Bài thứ hai Chu trung ngẫu vịnh (Trong thuyền, ngẫu hứng làm thơ):

Muôn dặm hành trình lên nẻo Bắc,

Hãy đưa thuyền sứ vượt sông dài.

Dòng men sườn biếc, con đường thẳm,

Nước chẩy hoa đào, cữ tháng hai.

Bức vẽ núi phơi, bờ dựng sáng,

Cung đàn cây rộn, thác xa khơi.

Lòng vui nảy hứng đề thơ đó,

Tựa cửa thuyền, trông xế ánh trời.

Bài thứ ba Tân Lạc dạ hoài (Tân Lạc, đêm cảm hoài):

Quán khách đêm thu lạnh,

Bâng khuâng canh sắp tà.

Ải Bắc trăng sáng buốt,

Biển Nam mây khuất xa.

Cương ngựa mải dò hỏi,

Gian nguy từng trải qua.

Nghĩ mỏi không thành giấc,

Đâu mộng núi quê nhà.

Thơ Phan Huy Chú có một đặc điểm khá rõ là giàu chất “kỷ sự” (ghi việc). Mở đầu tập Hoa thiều ngâm lục, Phan Huy Chú viết: “Người xưa nói: Không đọc muôn quyển sách thì nên đi muôn dặm đường... Tôi trong hơn mười năm qua, đọc sách, nằm mà chu du mọi miền. Nay được đến tận nơi, tầm mắt mở rộng, tinh thần sảng khoái... Bất giác nẩy ra thơ, miêu tả những điều mắt thấy, cũng chỉ cốt gửi gấm tình hoài, ca ngợi cảnh vật, chưa từng dùng sức nắn nót câu chữ, gò gẫm âm điệu...”./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Trần Nhật Duật – võ tướng đa tài
    Trần Nhật Duật sinh năm Ất Mão (1255) tại kinh thành Thăng Long trong gia đình hoàng tộc nhà Trần. Ông là con thứ 16 của vua Trần Thái Tông và hoàng hậu Thuận Thiên, em trai vua Trần Thánh Tông và Thượng tướng thái sư Trần Quang Khải.
(0) Bình luận
  • Lễ hội Đả Ngư đền Và năm 2026: Hướng về nguồn cội, quảng bá các giá trị lịch sử, văn hóa Hà Nội
    Cụ thể hóa Chương trình hành động số 08-Ctr/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống, UBND phường Sơn Tây (TP Hà Nội) cho biết, đang tích cực triển khai các công tác chuẩn bị, sẵn sàng tổ chức Lễ hội Đả Ngư đền Và - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  • Cỗ gà lão làng Triều Đông
    Triều Đông là một trong năm làng của xã Tân Minh, huyện Thường Tín (nay thuộc xã Thượng Phúc, Thành phố Hà Nội), thờ ba vị thần Việt Hồng, Việt Tuấn và Việt Chân.
  • Huế khảo sát, định hướng phát huy giá trị các di sản và không gian văn hóa
    TP Huế khảo sát, định hướng kết nối giữa các điểm di tích, không gian văn hóa và cảnh quan sông nước để hình thành những sản phẩm văn hóa, du lịch đặc trưng và nâng cao chất lượng trải nghiệm của du khách.
  • Gìn giữ và phát huy giá trị Di sản văn hóa thế giới Hoàng Thành Thăng Long
    Điện Kính Thiên là cung điện quan trọng nhất nằm giữa trung tâm Cấm thành Thăng Long, nơi ngự trị của các Hoàng đế và là biểu tượng cho quyền lực tối cao của nước Đại Việt thời kỳ nhà Lê từ thế kỷ XV đến XVIII. Đây là nơi diễn ra các nghi thức quan trọng nhất của quốc gia như: lễ Đăng cơ (Hoàng đế lên ngôi), lễ Đại triều và lễ đón tiếp sứ thần các nước... Việc nghiên cứu phục dựng Chính điện Kính Thiên, góp phần phát huy giá trị di sản. Đây là một dấu mốc quan trọng trong hành trình bảo tồn và phát huy giá
  • “Thanh âm Gốm”- cách cảm nhận mới về di sản làng nghề
    Trong khuôn khổ Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026, tối 19/9, chương trình biểu diễn nghệ thuật “Thanh âm Gốm” diễn ra tại Làng gốm Bát Tràng đưa công chúng đến với một cách cảm nhận mới về di sản làng nghề, khi gốm không chỉ được nhìn ngắm qua hình dáng, màu men mà còn được lắng nghe qua âm thanh, chuyển động và nghệ thuật trình diễn đương đại.
  • Định vị Cổ Loa trong lịch sử khu vực và văn minh nhân loại
    Lưu giữ dấu tích của một kinh đô cổ cùng những truyền thuyết gắn với buổi đầu dựng nước, Cổ Loa đồng thời chứa đựng những giá trị có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một di sản quốc gia. Trên cơ sở nhận diện, làm rõ giá trị nổi bật toàn cầu, Hà Nội đang từng bước triển khai chuẩn bị hồ sơ đề cử Khu di tích Cổ Loa trình UNESCO xem xét ghi danh vào Danh mục Di sản thế giới, qua đó làm nổi bật vị thế của kinh đô Âu Lạc trong lịch sử Đông Nam Á và tiến trình hình thành các nền văn minh của nhân loại.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Vinh danh 34 tác phẩm báo chí về Phát triển Văn hóa và xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh năm 2026
    Sáng 15/10, tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô (Hà Nội), Thành ủy Hà Nội tổ chức Lễ trao Giải Báo chí về Phát triển văn hóa và xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh lần thứ IX - năm 2026. Sự kiện đánh dấu bước phát triển mới trong việc huy động sức mạnh truyền thông nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong thời kỳ đổi mới.
  • Hội tụ các giá trị sân khấu, lan tỏa sức sáng tạo nghệ thuật của Thủ đô
    Tối 14/10, tại Rạp Công Nhân (Hà Nội), Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng năm 2026 đã chính thức khai mạc với chủ đề "Hội tụ các giá trị sân khấu, lan tỏa sức sáng tạo nghệ thuật của Thủ đô". Liên hoan quy tụ 15 đơn vị nghệ thuật với 15 vở diễn thuộc nhiều loại hình sân khấu, tạo cơ hội giao lưu, trao đổi nghề nghiệp và thúc đẩy sáng tạo nghệ thuật.
  • Lễ trao Giải Báo chí lần thứ IX: Lan tỏa giá trị văn hóa Thăng Long – Hà Nội qua những tác phẩm báo chí chất lượng
    Ngày 15/10/2026, tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô, Thành ủy Hà Nội tổ chức Lễ trao Giải Báo chí về phát triển văn hóa và xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh lần thứ IX – năm 2026. Với 244 tác phẩm của 40 cơ quan, đơn vị báo chí tham dự, Giải tiếp tục ghi nhận những nỗ lực sáng tạo của đội ngũ người làm báo trong phản ánh chiều sâu văn hóa Thăng Long – Hà Nội, nhận diện những vấn đề đặt ra trong thực tiễn và lan tỏa các giá trị văn hóa, con người Thủ đô.
  • "Tiếng hát Hà Nội 2026”: Mở rộng cánh cửa cho những tài năng âm nhạc
    Không chỉ tìm kiếm những giọng ca xuất sắc, “Tiếng hát Hà Nội 2026” hướng tới xây dựng một môi trường phát triển nghệ thuật chuyên nghiệp, nơi tài năng trẻ được phát hiện, bản sắc âm nhạc được tôn vinh và những hành trình nghệ thuật có cơ hội tiếp nối sau cuộc thi. Với nhiều đổi mới trong tuyển chọn, phong cách dự thi và kết nối công chúng, mùa giải năm nay kỳ vọng góp phần tạo thêm động lực cho sự phát triển công nghiệp văn hóa của Thủ đô.
  • Phường Ngọc Hà tổ chức dạy học 2 buổi/ngày với cơ sở giáo dục phổ thông
    Thực hiện Chương trình hành động số 05-CTr/TU (khóa XVIII) của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ chính trị về đột phá phát triển giáo dục đào tạo; phường Ngọc Hà (TP Hà Nội) triển khai kế hoạch tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, năm học 2026 - 2027 đối với các cơ sở giáo dục phổ thông trên địa bàn. Qua đó nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, phát triển phẩm chất, năng lực học sinh và cụ thể hóa các mục tiêu phát triển nền giáo dục và đào tạo Thủ đô nói chung.
Đừng bỏ lỡ
  • Khi di sản văn hoá trở thành nguồn lực phát triển Thủ đô
    Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị xác định văn hóa là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng và động lực thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước. Từ thực tiễn các hoạt động văn hóa sôi động tại Hà Nội trong tháng 10/2026, có thể thấy việc kết nối di sản với du lịch và công nghiệp sáng tạo đang mở ra hướng đi mới, góp phần chuyển hóa những giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế.
  • Dự thảo Nghị định sửa đổi quy định về nghệ thuật biểu diễn có nhiều điểm mới
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến về Dự thảo Nghị định sửa đổi quy định về nghệ thuật biểu diễn đang thu hút sự chú ý khi đề xuất bãi bỏ hàng loạt thủ tục cấp phép. Thay vì phải chờ văn bản chấp thuận như trước, các đơn vị tổ chức biểu diễn, thi người đẹp hay liên hoan nghệ thuật sẽ chuyển sang cơ chế thông báo và chịu sự giám sát hậu kiểm từ chính quyền địa phương. Thay đổi này hứa hẹn cởi bỏ rào cản hành chính, mở ra không gian sáng tạo chuyên nghiệp hơn.
  • Phát động Cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật về thương binh, liệt sĩ và người có công
    Sáng ngày 15/10/2026, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chính thức phát động Cuộc thi sáng tác các tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng. Đây là sự kiện có ý nghĩa thiết thực hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027), đồng thời góp phần triển khai Kết luận số 57-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và đồng hành cùng chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ trên cả nước.
  • Lùi thời gian tổ chức Festival Thu Hà Nội 2026
    Theo kế hoạch dự kiến ban đầu, Festival Thu Hà Nội năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 16 tháng 10 đến ngày 18 tháng 10 năm 2026 tại không gian Công viên Thống Nhất, phường Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, do phát sinh một số lý do khách quan, Ban Tổ chức đã quyết định tạm hoãn và lùi thời điểm diễn ra sự kiện sang một khoảng thời gian khác phù hợp hơn.
  • “Chuyện tình Khau Vai” đưa huyền thoại tình yêu vùng cao lên màn ảnh rộng
    Lấy cảm hứng từ câu chuyện tình yêu dang dở gắn với phiên chợ tình Khau Vai nổi tiếng, bộ phim điện ảnh cùng tên tái hiện vẻ đẹp thiên nhiên, phong tục và đời sống văn hóa của đồng bào vùng cao. Tác phẩm dự kiến khởi chiếu tại các rạp trên toàn quốc từ tháng 11/2026.
  • [Podcast] Tản văn: Hà Nội ở Sài Gòn
    Chuyến bay tới Sài Gòn của tôi sẽ khởi hành sau hai giờ đồng hồ nữa, vậy mà tôi vẫn loay hoay với đống đồ cá nhân. Mãi một hồi lâu tôi mới ra được đường lớn để bắt taxi tới sân bay Nội Bài...
  • Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Tấn Phát: Hành trình sáng tạo, làm mới sơn mài truyền thống
    Từ những bức tranh sơn mài trên mặt phẳng đến các tác phẩm tạo hình, Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Tấn Phát (phường Sơn Tây, TP Hà Nội) đã lựa chọn một hướng đi riêng với chất liệu truyền thống. Quá trình học tập, thực hành và tìm tòi thiết kế, anh không chỉ khai thác những đặc trưng vốn có của sơn mài mà còn thử nghiệm cách làm mới, đưa chất liệu sơn mài đến gần hơn với không gian đương đại, bồi đắp hình ảnh sáng tạo của con người Thủ đô.
  • Tận dụng dữ liệu số, Hà Nội cắt giảm nhiều thủ tục trong lĩnh vực văn hóa và di sản
    Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân cũng như doanh nghiệp, Thành phố Hà Nội đã triển khai phương án cắt giảm, tối ưu hóa 5 quy trình xử lý thuộc các lĩnh vực Quảng cáo, nghệ thuật biểu diễn và di sản văn hóa...
  • Lễ hội Đả Ngư đền Và năm 2026: Hướng về nguồn cội, quảng bá các giá trị lịch sử, văn hóa Hà Nội
    Cụ thể hóa Chương trình hành động số 08-Ctr/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống, UBND phường Sơn Tây (TP Hà Nội) cho biết, đang tích cực triển khai các công tác chuẩn bị, sẵn sàng tổ chức Lễ hội Đả Ngư đền Và - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  • Hà Nội khơi thông “điểm nghẽn”, thúc đẩy công nghiệp văn hoá Thủ đô
    Cụ thể hóa Điều 27 Luật Thủ đô 2026, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã ban hành Nghị quyết quy định về phát triển kinh tế ban đêm trên địa bàn Thành phố (Nghị quyết số 34/2026/NQ-HĐND). Đây là văn bản pháp lý quan trọng, góp phần giải quyết các “điểm nghẽn” của phát triển kinh tế đêm, định hướng lại không gian phát triển, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng cường ứng dụng công nghệ và nâng cao hiệu quả quản trị đô thị ban đêm của Hà Nội trong thời kỳ mới.
Phan Huy Chú - nhà bác học, nhà thơ lớn
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO