Văn hóa – Di sản

Lý Ngọc Kiều – sư bà diệu nhân ni viện Hương Hải

Trần Thị Băng Thanh 25/10/2023 10:25

Vào một ngày xuân khoảng năm 1058, công chúa Lý Ngọc Kiều (1042 - 1113) được gả về châu Chân Đăng, một vùng đất thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay, làm phu nhân quan châu họ Lê.

buc-hoa-cong-chua-ly-ngoc-kieu.jpg
Bức họa công chúa Lý Ngọc Kiều. Ảnh: Bảo tàng lịch sử Quốc gia.

Thời Lý, việc gả các công chúa cho thủ lĩnh các châu là một chính sách quan trọng nhằm cố kết lòng người với vương triều. Nhiều công chúa đã được gả về các vùng biên trong hoàn cảnh như thế. Trước Lý Ngọc Kiều, theo sử sách đã có ba người. Đầu tiên là công chúa Bình Dương, được gả cho Châu mục châu Lạng là Thân Thiệu Thái năm 1029; sau đó năm 1036 có đến hai công chúa được gả đi các châu, công chúa Kim Thành (Đại Việt sử lược ghi là Khánh Thành) gả cho Châu mục châu Phong là Lê Tông Thận (Đại Việt sử ký toàn thư ghi là Thuận Tông), công chúa Trường Ninh gả cho Châu mục châu Thượng Oai là Hà Thiệu Lãm. Các vua nhà Lý tiếp tục chính sách ấy trong nhiều năm. Sau Ngọc Kiều, Lý Thánh Tông lại gả công chúa Thiên Thành cho Thân Đạo Nguyên, con trai công chúa Bình Dương và Thân Thiệu Thái năm 1066; Lý Nhân Tông gả công chúa Khâm Thánh cho Châu mục châu Vị Long Hà Di Khánh, mùa xuân năm 1082; gả công chúa Diên Bình cho thủ lĩnh Phú Lương là Dương Tự Minh năm 1127. Sử sách không ghi gì thêm về các cuộc hôn nhân ấy, không rõ số phận các công chúa ở vùng biên viễn ra sao? Có một lần sử ghi vào năm 1147: “Làm nhà cho công chúa Thụy Thiên ở châu Lạng”, và năm 1148: “Công chúa Thụy Thiên về châu Lạng”... Sử không nói rõ có phải Thụy Thiên cũng là một trường hợp được “hạ giá” như các công chúa trước đó? Nhưng theo Đại Việt sử lược thì năm 1180, Lý Cao Tông còn gả công chúa Hoa Dương cho thủ lĩnh châu Vị Long Hà Công Phụ. Có thể đoán các công chúa đã hoàn thành sứ mệnh với tông tộc, cũng là với đất nước. Họ là những tấm gương hy sinh thầm lặng không có tên trong bảng vàng, nhưng xã tắc thuở bấy giờ không thể thiếu họ vốn là những người mang sẵn trong thiên chức nữ giới của mình nghệ thuật “lạt mềm buộc chặt”. Các Châu mục làm rể vương triều không ai vướng vào một vụ “lộn xộn” nào, mặc dù dưới thời Lý các vùng biên giới chưa thật ổn định. Hơn thế, trong các chàng rể nhà Lý cũng có những vị thực sự có vai trò đáng nể trong nhiều công việc triều chính như Thân Thiệu Thái, hoặc cha con Thân Đạo Nguyên, Dương Tự Minh. Thân Thiệu Thái có nhiều công lao trong việc giữ yên vùng biên châu Lạng. Thân Đạo Nguyên là một trong trong những vị tướng có công đầu trong trận chống quân xâm lược Tống năm 1075, còn Dương Tự Minh thì năm 1143 được giao cai quản công việc các khe động dọc biên giới đường bộ. Điều đó chứng tỏ Lý Anh Tông rất tin tưởng ông và có thể ông đã hoàn thành tốt nhiệm vụ nên năm sau, 1144, vua Lý Anh Tông lại gả thêm công chúa Thiều Dung cho ông và lần này ông được phong Phò mã lang. Nếu trước đấy, khi lấy công chúa Diên Bình, Dương Tự Minh đã đóng vai trò “phên dậu” một cách xuất sắc, thì sau khi cưới Thiều Dung, ông càng góp những công tích lớn hơn. Năm 1145, ông được lệnh đi đánh Đàm Hữu Lượng, người nước Tống chạy sang nước ta xúi giục một số thủ lĩnh biên động gây rối vùng biên giới phía Bắc. Tự Minh đã dẹp yên vụ Đàm Hữu Lượng, lấy lại vùng đất ải Lũng Đổ, thuộc Cao Bằng ngày nay. Về sau Tự Minh còn tham gia vào kế hoạch diệt Đỗ Anh Vũ, việc không thành nên bị đày đi châu xa, tên tuổi các công chúa làm vợ ông cũng mai một...

Tuy vậy trường hợp Lý Ngọc Kiều dường như có chút khác biệt. Đại Việt sử ký toàn thư có lưu lại đôi ba chi tiết khi công chúa qua đời, là một tài liệu rất quý để suy đoán về bà: “Mùa hạ, tháng sáu (năm 1113), phu nhân của Châu mục Chân Đăng là công chúa họ Lý mất. (Phu nhân tên là Ngọc Kiều, con gái lớn của Phụng Càn Vương, được Thánh Tông nuôi ở trong cung, lớn lên phong làm Công chúa, gả cho Châu mục châu Chân Đăng là người họ Lê. Chồng chết, phu nhân tự thề ở góa, đi tu làm sư nữ, đến đây mất, thọ 72 tuổi. Thần Tông tôn làm ni sư” (Bản dịch, 1993). Như vậy, tính ra Ngọc Kiều sinh năm 1042.

Phụng Càn Vương là em liền kề thái tử Nhật Tôn, tên là Nhật Trung, một hoàng tử có đủ tài đức. Trong các hoàng tử của Lý Thái Tông chỉ có thái tử Nhật Tôn và ông được phong tước vương, còn các hoàng tử khác chỉ được phong tước hầu. Phụng Càn Vương cũng thường được giao những nhiệm vụ hệ trọng trong triều. Hai lần ông được vua cha giao cho lưu thủ kinh sư. Lần thứ nhất, vào năm 1035, Thái Tông đi đánh dẹp một vụ “làm phản” ở châu Ái, Phụng Càn Vương giữ kinh thành đã phát giác được âm mưu nổi loạn của nhóm đồ đệ tướng Nguyễn Khánh, trong đó có cả hai hoàng đệ Thắng Càn, Thái Phúc. Lần sau, vào năm 1037, Thái Tông thân đi đánh Lâm Tây (vùng đất thuộc hai tỉnh Sơn La, Lai Châu ngày nay), Khai Hoàng Vương Nhật Tôn làm Đại nguyên soái cầm quân, Phụng Càn Vương làm Đô thống soái đi đánh châu Văn. Lần này Phụng Càn Vương thắng trận, đem về dâng ngựa quý. Trong các hoàng tử của Lý Thái Tông, ngoài Nhật Tôn chỉ thấy sử ghi hoạt động của Phụng Càn Vương Nhật Trung. Có lẽ ông là người giúp anh được nhiều việc triều chính quan trọng, vì thế giữa hai anh em có tình thân thiết. Lý Thánh Tông được sử khen là một vị hoàng đế nhân ái, có lòng yêu thương con cháu, nhưng đối với Ngọc Kiều ông có sự chăm chút riêng có thể chính vì tình thân thiết anh em đó. Nhưng dù yêu thương, Ngọc Kiều vẫn phải được gả chồng. Chỉ có điều ngày nay ta không rõ Lê công là một nhân vật như thế nào? Cuộc hôn nhân ấy có đem lại cho công chúa hạnh phúc lứa đôi, hay nàng cũng chỉ như nhiều công chúa khác là người vâng lệnh triều đình đáp úng một nghĩa vụ? Và nguyên nhân nào khiến sau khi chồng chết, công chúa đã trở về Thăng Long nhưng nhất quyết không tái giá mà nương nhờ cửa Phật? Rất may sách Thiền uyển tập anh cũng bổ sung thêm một vài chỉ dẫn. Theo sách này thì Ngọc Kiều được gả về châu Chân Đăng khi nàng mới đến tuổi “cập kể”, nhiều nhất là mười sáu tuổi. Cũng không rõ cuộc hôn nhân giữa công chúa và Lê công được bao năm tháng, nhưng khi Thiền sư Chân Không mất, năm 1100, thì Ngọc Kiều đã đến viếng với tư cách là đệ tử. Chân Không mất năm ấy mới 55 tuổi đời và 36 tuổi hạ. Tính ra sư sinh năm 1046, kém Ngọc Kiều khoảng bốn, năm tuổi, xuất gia năm 18 tuổi (khoảng 1064). Và để có thể trở thành sư phụ của Ngọc Kiều, một người đã từng trải, hơn thế, chắc chắn ít nhiều có học vấn, Chân Không hẳn cũng cần chừng trên dưới mười tuổi hạ. Như vậy, có thể phỏng đoán Ngọc Kiều trở thành học trò của Chân Không khoảng sau năm 1070, nghĩa là sau khi công chúa lấy chồng chừng 15 năm và ở vào độ tuổi trên dưới 30. Dẫu sao khi bắt đầu cuộc đời tu hành công chúa cũng còn rất trẻ. Theo Thiền uyển tập anh, trước khi xuất gia Ngọc Kiều đã có nhiều trăn trở, công chúa từng than: “Ta xem thế gian, hết thảy các pháp cũng như mộng huyễn, huống gì bọn sang quý tạm bợ lại có thể nương dựa được sao!”. Có thể nàng cũng thật lòng thương quý Lê công, bởi vì có một điều chắc chắn là Lê công cũng như các vị Châu mục khác làm rể vương triều không thể là những kẻ hèn kém, thiếu bản lĩnh. Về một khía cạnh nào đó, họ cũng tương xứng với các Công chúa, song hôn nhân, dù bất cứ ở thời đại nào, cũng không thể hoàn hảo khi nó chỉ là đối tượng của sự sắp đặt, của các quy chuẩn và nhất là thuần túy mang tính mục đích. Vì vậy cuộc hôn nhân của Ngọc Kiều về châu Chân Đăng dẫu sao vẫn là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời nàng khiến người đời sau ngẫm nghĩ cứ thấy ngậm ngùi. Bởi lẽ từ nhỏ nàng đã được nuôi dưỡng ở trong cung, sống cuộc đời vương giả, được yêu chiều, có thể rất hồn nhiên vui vẻ, và trẻ thơ. Trở thành “phu nhân” của một thủ lĩnh ở nơi núi rừng xa lạ, công chúa đã phải nếm trải mọi nỗi sinh ly tử biệt, đủ để thấu hiểu những khổ đau mà chúng sinh phải gánh chịu trong cuộc đời. Sự trải nghiệm ấy đủ sức mạnh để công chúa có một thái độ dứt khoát: “Đem cho hết các đồ trang sức, xuất gia, đến thụ giới với Thiền sư Chân Không tại hương Phù Đổng, học hỏi tâm yếu”, được Thiền sư đặt đạo hiệu là Diệu Nhân và rồi “đạt được tam ma địa”, trở thành một bậc tôn túc trong hàng ni chúng.

Diệu Nhân đã là một bậc thầy, nhiệt thành đem tâm yếu Đại thừa chỉ dẫn cho những ai muốn cầu học. Sư bà thường giảng giải cho các đệ tử rằng: “Chỉ trở về nguồn tự tính thì dù phương pháp “đốn” hay “tiệm” đều có thể tùy đó mà thể nhập. Hãy luôn tĩnh lặng trong sạch, tránh xa thanh sắc, ngôn ngữ”. Diệu Nhân coi Kinh Kim cương là bộ kinh chủ yếu dắt dẫn quá trình tu tập của mình. Bà cũng từng bộc bạch điều ấy với học trò, khi có người hỏi về một câu trong Kinh Duy ma cật: “Tất cả chúng sinh bệnh nên ta cũng bệnh, vậy sao gọi là khi nào cũng tránh xa thanh sắc?”, sư bà đã giảng giải rằng nếu lấy sắc và thanh mà cầu Phật thì là theo “tà đạo”, bởi vì “Đạo vốn không lời”, người tu hành “xưa nay không đi”, phải ngồi tĩnh lặng suy tư.

Vào thời Lý, sau một ngàn năm Bắc thuộc, là một dân tộc mới giành lại chủ quyền, Đại Việt có rất nhiều yêu cầu đặt ra trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Khẳng định bản lĩnh văn hóa dân tộc cũng là một khâu trọng yếu trong đó. Người dân trong tâm thế chủ nhân và tự do khao khát tri thức, khao khát lý giải những vấn đề cơ bản của cuộc sống con người. Những câu hỏi về quan hệ giữa sắc và không, sống và chết; vị trí, ảnh hưởng, tác động qua lại giữa ba tông giáo Nho Phật Lão, vai trò giữa Phật và Thánh, kẻ xuất gia và người tại gia... thường được đưa ra và thảo luận sôi nổi trong các Thiền viện hoặc các buổi tham vấn của nhà vua với các bậc kỳ túc. Diệu Nhân là một Thiền gia uy tín đương thời, trước khi về cõi vĩnh hằng, bà đã để lại một chỉ dẫn về cách tu tập và cũng có thể xem là tuyên ngôn của bà về quan niệm sống chết:

Sinh, lão, bệnh, tử,

Tự cổ thường nhiên.

Dục cầu xuất ly,

Giải phược thiêm triền.

Mê chi cầu Phật,

Hoặc chi cầu thiền.

Thiền Phật bất cầu,

Uổng khẩu vô nghiên (ngôn).

(Sinh, lão, bệnh, tử,

Muôn thuở tự nhiên.

Muốn cầu siêu thoát,

Càng trói buộc thêm.

Mê thì cầu Phật,

Hoặc thì cầu Thiền.

Chẳng cầuThiền Phật,

Mím miệng ngồi yên)

(Nguyễn Đức Vân dịch)

Diệu Nhân tỏ ra chấp nhận quy luật tự nhiên khách quan đối với quá trình sinh học một đời người. Theo bà, người ta sinh ra, lớn lên, già rồi ốm chết, đó là “lẽ thường”, từ xưa vẫn thế. Bản thân bà đã đi gần hết bốn chặng và khó có thể nghĩ rằng đó là một hành trình dễ dàng. Một thân thế cành vàng lá ngọc như Công chúa Ngọc Kiều nhưng cuộc sống đâu đã thập phần như ý. Từ tuổi thanh xuân từ giã hoàng cung đi lấy chồng cho đến lúc rời bỏ cõi trần, gần sáu mươi năm nếm trải biết bao buồn vui mà chắc chắn buồn nhiều hơn vui, bản thân bà đã phải chống chọi với mọi nỗi đau tinh thần và sự tàn phá của thời gian, rốt cuộc đã giúp bà nhận ra cái sức ép khó cưỡng của quy luật. Người ta nói chung thường từ giã cõi đời trong tư thế thất bại nhưng sư bà Diệu Nhân với bản lĩnh sáng suốt đã giữ vững được tư thế chủ động. Bà hiểu nếu nhọc lòng cầu Phật, cầu Thiền, mong sự trợ giúp của một lực lượng siêu nhiên nào để thoát khỏi “vòng sinh tử” thì chỉ là mê muội, tự trói buộc mình. Không cần cầu Phật, cũng chẳng nên nhiều lời giảng giải điều gì, Thiền vốn vô ngôn! Điều chính yếu là mọi người phải phá bỏ mọi “chấp trước”, như thế sẽ đạt tới giác ngộ.

Bài thơ có tám câu bốn chữ, âm vận đều đều, bao gồm bốn ý như bốn quá trình chiêm nghiệm mà sự chiêm nghiệm cuối cùng là một lời tổng kết được nâng lên thành triết lý ở hai câu đầu, và cụ thể hóa trong cách ứng xử ở hai câu cuối. Hơn một thế kỷ sau, hoàng đế Trần Thái Tông sẽ trở lại vấn đề từng đặt ra với Lý Ngọc Kiều. Ông cũng giảng về bốn giai đoạn của một đời người, chỉ dẫn cho mọi người phương pháp vượt qua từng giai đoạn. Và chính ông đã sử dụng gần như nguyên vẹn bài kệ của Diệu Nhân làm “Kệ khuyến chúng”. Có điều nếu Diệu Nhân mạnh mẽ, quyết liệt, yêu cầu người học đạo phải đạt đến sự giác ngộ từ trong lý trí thì Trần Thái Tông chiếu cố nhiều hơn đến sự “mê hoặc” của chúng nhân. Ông giúp những người học đạo hiểu quy luật thường nhiên đó bằng nhận thức hình tượng, bằng sự tác động vào chỗ yếu lòng của họ. Thái Tông đặt ra những phương pháp tu trì, tụng kinh niệm Phật, sám hối, dâng hương dâng hoa... giúp họ làm phương tiện để sang bờ giác, cho đến thời điểm mà ánh sáng trí tuệ bừng mở khiến họ hiểu “Phật là không mà Tổ cũng là không”. Sự khác nhau giữa Diệu Nhân và Thái Tông góp phần làm nên một nét khu biệt giữa thiền học đời Lý và đời Trần.

Diệu Nhân là một nữ sĩ của buổi đầu lịch sử văn học nước nhà. Đối với những câu hỏi lớn mà các tín đồ đạo Phật thời nào và nước nào cũng bàn đến như sắc không, sinh tử, mê giác, thịnh suy,... cùng với cách nhìn có phần biện chứng của Nguyên phi Ỷ Lan, nụ cười tươi tắn của Mãn Giác, cách lý giải trữ tình sâu sắc của Viên Chiếu, sự trào tiếu của Trí Bảo.... Diệu Nhân đã góp thêm một cách nhìn sáng suốt, một thái độ điềm nhiên cứng cỏi, góp phần làm nên tinh thần trí tuệ của văn học Thiền đời Lý, một trong những đặc sắc riêng của thơ Thiền thời Lý - Trần mà văn học Thiền các giai đoạn sau khó đạt đến được. Chính vì vậy công chúa, nhà thơ Lý Ngọc Kiều, sư bà Diệu Nhân chùa Hương Hải xứng đáng có một vị trí trang trọng trong lịch sử đạo Thiền và lịch sử văn học nước nhà./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • ​Bắc Ninh khai mạc Festival “Về miền Di sản Bắc Ninh 2026”
    Tối 27/3, tại Quảng trường 3/2, tỉnh Bắc Ninh tổ chức Lễ đón nhận Bằng của UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp; công bố Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc là Di sản Văn hóa Thế giới, đồng thời khai mạc Festival “Về miền Di sản Bắc Ninh 2026”.
  • “Đánh thức” những mạch ngầm di sản Hà Nội
    Song song với nhịp sống hiện đại của Hà Nội, nhiều giá trị di sản vẫn lặng lẽ ẩn mình sau những cổng, ngõ rêu phong, âm thầm gìn giữ lịch sử, niềm tin và bản sắc tinh thần của cộng đồng cư dân đô thị qua nhiều thế kỷ. Bằng sự kết hợp giữa công nghệ số và tâm huyết của những người làm văn hóa, các di sản ấy đang dần được kết nối và kể lại theo cách sinh động, gần gũi và giàu sức lan tỏa hơn trong đời sống đương đại.
  • Hội Kén rể Đường Yên là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
    Hội Kén rể Đường Yên là sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo, gắn với truyền thuyết về nữ tướng Lê Hoa - người theo Hai Bà Trưng đánh giặc, lập nhiều chiến công và được nhân dân tôn kính.
  • Làng tranh dân gian Đông Hồ được ghi danh di sản của UNESCO
    Lễ đón nhận bằng của UNESCO ghi danh di sản nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Chương trình sẽ được truyền hình trực tiếp trên VTV 1 vào lúc 20 giờ 10 ngày 27/3.
  • Lễ hội Tam giáp ở phường Ba Đình là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
    Đây là sự ghi nhận của Nhà nước đối với những giá trị tiêu biểu, đặc sắc của Lễ hội; đồng thời là niềm vinh dự, tự hào của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân phường Ba Đình nói chung, nhân dân Tam giáp nói riêng trong ngày kỷ niệm 1.000 năm ngày sinh Đức Thánh.
  • Lễ hội đền Và xuân Bính Ngọ: Gìn giữ di sản văn hóa, gắn kết Nhân dân đôi bờ sông Hồng
    Sáng 3/3 (tức 15 tháng Giêng năm Bính Ngọ) nghi lễ quan trọng nhất trong kỳ chính hội Đền Và (phường Sơn Tây, TP. Hà Nội) - lễ rước long ngai bài vị Tam vị Đức Thánh Tản sang Đền Ngự Dội (xã Vĩnh Phú, tỉnh Phú Thọ) được tổ chức long trọng với sự tham gia của nhân dân các làng: Vân Gia, Nghĩa Phủ, Mai Trai, Thanh Trì, Ái Mỗ, Phú Nhi, Phù Sa trước đây (nay là 7 tổ dân phố của phường Sơn Tây) cùng thôn Duy Bình, xã Vĩnh Phú, tỉnh Phú Thọ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Dự thảo Luật Thủ đô 2024 (sửa đổi): Đưa nền giáo dục và đào tạo Hà Nội vươn tầm cao mới
    Để hiện thực hóa khát vọng trở thành trung tâm giáo dục và đào tạo hàng đầu cả nước và châu lục, Điều 16 về “Phát triển giáo dục, đào tạo” trong Dự thảo Luật Thủ đô 2024 (sửa đổi) khẳng định sự đổi mới mới tư duy, trao quyền tự chủ và tạo bệ phóng để giáo dục, đào tạo Hà Nội thực sự vươn tầm.
  • Định vị “vũ khí tư tưởng” trong kỷ nguyên mới
    Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới” có thể xem là “kim chỉ nam” thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện của Đảng để mở đường cho ngành xuất bản Việt Nam bứt phá, trở thành một ngành công nghiệp văn hóa - công nghệ mũi nhọn trong kỷ nguyên số, vươn tầm khu vực và thế giới.
  • Không gian "Âm nhạc cuối tuần": Gọi ký ức về từ những mùa hoa
    Những ngày cuối tháng Ba, khi Hà Nội bước vào mùa loa kèn, Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ lại trở thành một điểm hẹn đặc biệt của công chúng. Không gian ấy trong khuôn khổ chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 29/3 không chỉ có âm nhạc, mà còn được bao phủ bởi sắc trắng tinh khôi của hàng nghìn bông hoa loa kèn, tạo nên một trải nghiệm văn hóa giàu cảm xúc – nơi thính giác và thị giác cùng thăng hoa. Mỗi mùa hoa Hà Nội chỉ kéo dài một đến hai tháng, nhưng cũng đủ để đánh thức hoài niệm trong mỗi người
  • Tiến sĩ Đặng Trần Hoàng và hành trình đưa xét nghiệm ADN trở thành “thước đo” sự thật phổ biến
    Từ niềm đam mê nghiên cứu về sinh học và di truyền khi còn là thiếu niên, Tiến sĩ Đặng Trần Hoàng đã trải qua hành trình nghiên cứu khoa học đầy thử thách nhưng cũng vô cùng ý nghĩa. Hiện nay, Tiến sĩ Đặng Trần Hoàng là Tổng Giám đốc công ty TNHH Công nghệ Di truyền NOVAGEN, anh đã chứng tỏ bản thân không chỉ là một nhà nghiên cứu về công nghệ sinh học xuất sắc mà còn là người “mang ánh sáng của sự thật và sức khỏe đến với mọi mái nhà Việt Nam”.
  • Du lịch Hà Nội đón gần 9 triệu lượt khách trong quý I/2026
    Quý I/2026, du lịch Thủ đô Hà Nội tiếp tục ghi nhận những tín hiệu khởi sắc với lượng khách và doanh thu tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Theo ước tính, Hà Nội ước đón 8,82 triệu lượt khách, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm 2025.
Đừng bỏ lỡ
Lý Ngọc Kiều – sư bà diệu nhân ni viện Hương Hải
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO