Văn hóa – Di sản

Lý Ngọc Kiều – sư bà diệu nhân ni viện Hương Hải

Trần Thị Băng Thanh 25/10/2023 10:25

Vào một ngày xuân khoảng năm 1058, công chúa Lý Ngọc Kiều (1042 - 1113) được gả về châu Chân Đăng, một vùng đất thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay, làm phu nhân quan châu họ Lê.

buc-hoa-cong-chua-ly-ngoc-kieu.jpg
Bức họa công chúa Lý Ngọc Kiều. Ảnh: Bảo tàng lịch sử Quốc gia.

Thời Lý, việc gả các công chúa cho thủ lĩnh các châu là một chính sách quan trọng nhằm cố kết lòng người với vương triều. Nhiều công chúa đã được gả về các vùng biên trong hoàn cảnh như thế. Trước Lý Ngọc Kiều, theo sử sách đã có ba người. Đầu tiên là công chúa Bình Dương, được gả cho Châu mục châu Lạng là Thân Thiệu Thái năm 1029; sau đó năm 1036 có đến hai công chúa được gả đi các châu, công chúa Kim Thành (Đại Việt sử lược ghi là Khánh Thành) gả cho Châu mục châu Phong là Lê Tông Thận (Đại Việt sử ký toàn thư ghi là Thuận Tông), công chúa Trường Ninh gả cho Châu mục châu Thượng Oai là Hà Thiệu Lãm. Các vua nhà Lý tiếp tục chính sách ấy trong nhiều năm. Sau Ngọc Kiều, Lý Thánh Tông lại gả công chúa Thiên Thành cho Thân Đạo Nguyên, con trai công chúa Bình Dương và Thân Thiệu Thái năm 1066; Lý Nhân Tông gả công chúa Khâm Thánh cho Châu mục châu Vị Long Hà Di Khánh, mùa xuân năm 1082; gả công chúa Diên Bình cho thủ lĩnh Phú Lương là Dương Tự Minh năm 1127. Sử sách không ghi gì thêm về các cuộc hôn nhân ấy, không rõ số phận các công chúa ở vùng biên viễn ra sao? Có một lần sử ghi vào năm 1147: “Làm nhà cho công chúa Thụy Thiên ở châu Lạng”, và năm 1148: “Công chúa Thụy Thiên về châu Lạng”... Sử không nói rõ có phải Thụy Thiên cũng là một trường hợp được “hạ giá” như các công chúa trước đó? Nhưng theo Đại Việt sử lược thì năm 1180, Lý Cao Tông còn gả công chúa Hoa Dương cho thủ lĩnh châu Vị Long Hà Công Phụ. Có thể đoán các công chúa đã hoàn thành sứ mệnh với tông tộc, cũng là với đất nước. Họ là những tấm gương hy sinh thầm lặng không có tên trong bảng vàng, nhưng xã tắc thuở bấy giờ không thể thiếu họ vốn là những người mang sẵn trong thiên chức nữ giới của mình nghệ thuật “lạt mềm buộc chặt”. Các Châu mục làm rể vương triều không ai vướng vào một vụ “lộn xộn” nào, mặc dù dưới thời Lý các vùng biên giới chưa thật ổn định. Hơn thế, trong các chàng rể nhà Lý cũng có những vị thực sự có vai trò đáng nể trong nhiều công việc triều chính như Thân Thiệu Thái, hoặc cha con Thân Đạo Nguyên, Dương Tự Minh. Thân Thiệu Thái có nhiều công lao trong việc giữ yên vùng biên châu Lạng. Thân Đạo Nguyên là một trong trong những vị tướng có công đầu trong trận chống quân xâm lược Tống năm 1075, còn Dương Tự Minh thì năm 1143 được giao cai quản công việc các khe động dọc biên giới đường bộ. Điều đó chứng tỏ Lý Anh Tông rất tin tưởng ông và có thể ông đã hoàn thành tốt nhiệm vụ nên năm sau, 1144, vua Lý Anh Tông lại gả thêm công chúa Thiều Dung cho ông và lần này ông được phong Phò mã lang. Nếu trước đấy, khi lấy công chúa Diên Bình, Dương Tự Minh đã đóng vai trò “phên dậu” một cách xuất sắc, thì sau khi cưới Thiều Dung, ông càng góp những công tích lớn hơn. Năm 1145, ông được lệnh đi đánh Đàm Hữu Lượng, người nước Tống chạy sang nước ta xúi giục một số thủ lĩnh biên động gây rối vùng biên giới phía Bắc. Tự Minh đã dẹp yên vụ Đàm Hữu Lượng, lấy lại vùng đất ải Lũng Đổ, thuộc Cao Bằng ngày nay. Về sau Tự Minh còn tham gia vào kế hoạch diệt Đỗ Anh Vũ, việc không thành nên bị đày đi châu xa, tên tuổi các công chúa làm vợ ông cũng mai một...

Tuy vậy trường hợp Lý Ngọc Kiều dường như có chút khác biệt. Đại Việt sử ký toàn thư có lưu lại đôi ba chi tiết khi công chúa qua đời, là một tài liệu rất quý để suy đoán về bà: “Mùa hạ, tháng sáu (năm 1113), phu nhân của Châu mục Chân Đăng là công chúa họ Lý mất. (Phu nhân tên là Ngọc Kiều, con gái lớn của Phụng Càn Vương, được Thánh Tông nuôi ở trong cung, lớn lên phong làm Công chúa, gả cho Châu mục châu Chân Đăng là người họ Lê. Chồng chết, phu nhân tự thề ở góa, đi tu làm sư nữ, đến đây mất, thọ 72 tuổi. Thần Tông tôn làm ni sư” (Bản dịch, 1993). Như vậy, tính ra Ngọc Kiều sinh năm 1042.

Phụng Càn Vương là em liền kề thái tử Nhật Tôn, tên là Nhật Trung, một hoàng tử có đủ tài đức. Trong các hoàng tử của Lý Thái Tông chỉ có thái tử Nhật Tôn và ông được phong tước vương, còn các hoàng tử khác chỉ được phong tước hầu. Phụng Càn Vương cũng thường được giao những nhiệm vụ hệ trọng trong triều. Hai lần ông được vua cha giao cho lưu thủ kinh sư. Lần thứ nhất, vào năm 1035, Thái Tông đi đánh dẹp một vụ “làm phản” ở châu Ái, Phụng Càn Vương giữ kinh thành đã phát giác được âm mưu nổi loạn của nhóm đồ đệ tướng Nguyễn Khánh, trong đó có cả hai hoàng đệ Thắng Càn, Thái Phúc. Lần sau, vào năm 1037, Thái Tông thân đi đánh Lâm Tây (vùng đất thuộc hai tỉnh Sơn La, Lai Châu ngày nay), Khai Hoàng Vương Nhật Tôn làm Đại nguyên soái cầm quân, Phụng Càn Vương làm Đô thống soái đi đánh châu Văn. Lần này Phụng Càn Vương thắng trận, đem về dâng ngựa quý. Trong các hoàng tử của Lý Thái Tông, ngoài Nhật Tôn chỉ thấy sử ghi hoạt động của Phụng Càn Vương Nhật Trung. Có lẽ ông là người giúp anh được nhiều việc triều chính quan trọng, vì thế giữa hai anh em có tình thân thiết. Lý Thánh Tông được sử khen là một vị hoàng đế nhân ái, có lòng yêu thương con cháu, nhưng đối với Ngọc Kiều ông có sự chăm chút riêng có thể chính vì tình thân thiết anh em đó. Nhưng dù yêu thương, Ngọc Kiều vẫn phải được gả chồng. Chỉ có điều ngày nay ta không rõ Lê công là một nhân vật như thế nào? Cuộc hôn nhân ấy có đem lại cho công chúa hạnh phúc lứa đôi, hay nàng cũng chỉ như nhiều công chúa khác là người vâng lệnh triều đình đáp úng một nghĩa vụ? Và nguyên nhân nào khiến sau khi chồng chết, công chúa đã trở về Thăng Long nhưng nhất quyết không tái giá mà nương nhờ cửa Phật? Rất may sách Thiền uyển tập anh cũng bổ sung thêm một vài chỉ dẫn. Theo sách này thì Ngọc Kiều được gả về châu Chân Đăng khi nàng mới đến tuổi “cập kể”, nhiều nhất là mười sáu tuổi. Cũng không rõ cuộc hôn nhân giữa công chúa và Lê công được bao năm tháng, nhưng khi Thiền sư Chân Không mất, năm 1100, thì Ngọc Kiều đã đến viếng với tư cách là đệ tử. Chân Không mất năm ấy mới 55 tuổi đời và 36 tuổi hạ. Tính ra sư sinh năm 1046, kém Ngọc Kiều khoảng bốn, năm tuổi, xuất gia năm 18 tuổi (khoảng 1064). Và để có thể trở thành sư phụ của Ngọc Kiều, một người đã từng trải, hơn thế, chắc chắn ít nhiều có học vấn, Chân Không hẳn cũng cần chừng trên dưới mười tuổi hạ. Như vậy, có thể phỏng đoán Ngọc Kiều trở thành học trò của Chân Không khoảng sau năm 1070, nghĩa là sau khi công chúa lấy chồng chừng 15 năm và ở vào độ tuổi trên dưới 30. Dẫu sao khi bắt đầu cuộc đời tu hành công chúa cũng còn rất trẻ. Theo Thiền uyển tập anh, trước khi xuất gia Ngọc Kiều đã có nhiều trăn trở, công chúa từng than: “Ta xem thế gian, hết thảy các pháp cũng như mộng huyễn, huống gì bọn sang quý tạm bợ lại có thể nương dựa được sao!”. Có thể nàng cũng thật lòng thương quý Lê công, bởi vì có một điều chắc chắn là Lê công cũng như các vị Châu mục khác làm rể vương triều không thể là những kẻ hèn kém, thiếu bản lĩnh. Về một khía cạnh nào đó, họ cũng tương xứng với các Công chúa, song hôn nhân, dù bất cứ ở thời đại nào, cũng không thể hoàn hảo khi nó chỉ là đối tượng của sự sắp đặt, của các quy chuẩn và nhất là thuần túy mang tính mục đích. Vì vậy cuộc hôn nhân của Ngọc Kiều về châu Chân Đăng dẫu sao vẫn là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời nàng khiến người đời sau ngẫm nghĩ cứ thấy ngậm ngùi. Bởi lẽ từ nhỏ nàng đã được nuôi dưỡng ở trong cung, sống cuộc đời vương giả, được yêu chiều, có thể rất hồn nhiên vui vẻ, và trẻ thơ. Trở thành “phu nhân” của một thủ lĩnh ở nơi núi rừng xa lạ, công chúa đã phải nếm trải mọi nỗi sinh ly tử biệt, đủ để thấu hiểu những khổ đau mà chúng sinh phải gánh chịu trong cuộc đời. Sự trải nghiệm ấy đủ sức mạnh để công chúa có một thái độ dứt khoát: “Đem cho hết các đồ trang sức, xuất gia, đến thụ giới với Thiền sư Chân Không tại hương Phù Đổng, học hỏi tâm yếu”, được Thiền sư đặt đạo hiệu là Diệu Nhân và rồi “đạt được tam ma địa”, trở thành một bậc tôn túc trong hàng ni chúng.

Diệu Nhân đã là một bậc thầy, nhiệt thành đem tâm yếu Đại thừa chỉ dẫn cho những ai muốn cầu học. Sư bà thường giảng giải cho các đệ tử rằng: “Chỉ trở về nguồn tự tính thì dù phương pháp “đốn” hay “tiệm” đều có thể tùy đó mà thể nhập. Hãy luôn tĩnh lặng trong sạch, tránh xa thanh sắc, ngôn ngữ”. Diệu Nhân coi Kinh Kim cương là bộ kinh chủ yếu dắt dẫn quá trình tu tập của mình. Bà cũng từng bộc bạch điều ấy với học trò, khi có người hỏi về một câu trong Kinh Duy ma cật: “Tất cả chúng sinh bệnh nên ta cũng bệnh, vậy sao gọi là khi nào cũng tránh xa thanh sắc?”, sư bà đã giảng giải rằng nếu lấy sắc và thanh mà cầu Phật thì là theo “tà đạo”, bởi vì “Đạo vốn không lời”, người tu hành “xưa nay không đi”, phải ngồi tĩnh lặng suy tư.

Vào thời Lý, sau một ngàn năm Bắc thuộc, là một dân tộc mới giành lại chủ quyền, Đại Việt có rất nhiều yêu cầu đặt ra trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Khẳng định bản lĩnh văn hóa dân tộc cũng là một khâu trọng yếu trong đó. Người dân trong tâm thế chủ nhân và tự do khao khát tri thức, khao khát lý giải những vấn đề cơ bản của cuộc sống con người. Những câu hỏi về quan hệ giữa sắc và không, sống và chết; vị trí, ảnh hưởng, tác động qua lại giữa ba tông giáo Nho Phật Lão, vai trò giữa Phật và Thánh, kẻ xuất gia và người tại gia... thường được đưa ra và thảo luận sôi nổi trong các Thiền viện hoặc các buổi tham vấn của nhà vua với các bậc kỳ túc. Diệu Nhân là một Thiền gia uy tín đương thời, trước khi về cõi vĩnh hằng, bà đã để lại một chỉ dẫn về cách tu tập và cũng có thể xem là tuyên ngôn của bà về quan niệm sống chết:

Sinh, lão, bệnh, tử,

Tự cổ thường nhiên.

Dục cầu xuất ly,

Giải phược thiêm triền.

Mê chi cầu Phật,

Hoặc chi cầu thiền.

Thiền Phật bất cầu,

Uổng khẩu vô nghiên (ngôn).

(Sinh, lão, bệnh, tử,

Muôn thuở tự nhiên.

Muốn cầu siêu thoát,

Càng trói buộc thêm.

Mê thì cầu Phật,

Hoặc thì cầu Thiền.

Chẳng cầuThiền Phật,

Mím miệng ngồi yên)

(Nguyễn Đức Vân dịch)

Diệu Nhân tỏ ra chấp nhận quy luật tự nhiên khách quan đối với quá trình sinh học một đời người. Theo bà, người ta sinh ra, lớn lên, già rồi ốm chết, đó là “lẽ thường”, từ xưa vẫn thế. Bản thân bà đã đi gần hết bốn chặng và khó có thể nghĩ rằng đó là một hành trình dễ dàng. Một thân thế cành vàng lá ngọc như Công chúa Ngọc Kiều nhưng cuộc sống đâu đã thập phần như ý. Từ tuổi thanh xuân từ giã hoàng cung đi lấy chồng cho đến lúc rời bỏ cõi trần, gần sáu mươi năm nếm trải biết bao buồn vui mà chắc chắn buồn nhiều hơn vui, bản thân bà đã phải chống chọi với mọi nỗi đau tinh thần và sự tàn phá của thời gian, rốt cuộc đã giúp bà nhận ra cái sức ép khó cưỡng của quy luật. Người ta nói chung thường từ giã cõi đời trong tư thế thất bại nhưng sư bà Diệu Nhân với bản lĩnh sáng suốt đã giữ vững được tư thế chủ động. Bà hiểu nếu nhọc lòng cầu Phật, cầu Thiền, mong sự trợ giúp của một lực lượng siêu nhiên nào để thoát khỏi “vòng sinh tử” thì chỉ là mê muội, tự trói buộc mình. Không cần cầu Phật, cũng chẳng nên nhiều lời giảng giải điều gì, Thiền vốn vô ngôn! Điều chính yếu là mọi người phải phá bỏ mọi “chấp trước”, như thế sẽ đạt tới giác ngộ.

Bài thơ có tám câu bốn chữ, âm vận đều đều, bao gồm bốn ý như bốn quá trình chiêm nghiệm mà sự chiêm nghiệm cuối cùng là một lời tổng kết được nâng lên thành triết lý ở hai câu đầu, và cụ thể hóa trong cách ứng xử ở hai câu cuối. Hơn một thế kỷ sau, hoàng đế Trần Thái Tông sẽ trở lại vấn đề từng đặt ra với Lý Ngọc Kiều. Ông cũng giảng về bốn giai đoạn của một đời người, chỉ dẫn cho mọi người phương pháp vượt qua từng giai đoạn. Và chính ông đã sử dụng gần như nguyên vẹn bài kệ của Diệu Nhân làm “Kệ khuyến chúng”. Có điều nếu Diệu Nhân mạnh mẽ, quyết liệt, yêu cầu người học đạo phải đạt đến sự giác ngộ từ trong lý trí thì Trần Thái Tông chiếu cố nhiều hơn đến sự “mê hoặc” của chúng nhân. Ông giúp những người học đạo hiểu quy luật thường nhiên đó bằng nhận thức hình tượng, bằng sự tác động vào chỗ yếu lòng của họ. Thái Tông đặt ra những phương pháp tu trì, tụng kinh niệm Phật, sám hối, dâng hương dâng hoa... giúp họ làm phương tiện để sang bờ giác, cho đến thời điểm mà ánh sáng trí tuệ bừng mở khiến họ hiểu “Phật là không mà Tổ cũng là không”. Sự khác nhau giữa Diệu Nhân và Thái Tông góp phần làm nên một nét khu biệt giữa thiền học đời Lý và đời Trần.

Diệu Nhân là một nữ sĩ của buổi đầu lịch sử văn học nước nhà. Đối với những câu hỏi lớn mà các tín đồ đạo Phật thời nào và nước nào cũng bàn đến như sắc không, sinh tử, mê giác, thịnh suy,... cùng với cách nhìn có phần biện chứng của Nguyên phi Ỷ Lan, nụ cười tươi tắn của Mãn Giác, cách lý giải trữ tình sâu sắc của Viên Chiếu, sự trào tiếu của Trí Bảo.... Diệu Nhân đã góp thêm một cách nhìn sáng suốt, một thái độ điềm nhiên cứng cỏi, góp phần làm nên tinh thần trí tuệ của văn học Thiền đời Lý, một trong những đặc sắc riêng của thơ Thiền thời Lý - Trần mà văn học Thiền các giai đoạn sau khó đạt đến được. Chính vì vậy công chúa, nhà thơ Lý Ngọc Kiều, sư bà Diệu Nhân chùa Hương Hải xứng đáng có một vị trí trang trọng trong lịch sử đạo Thiền và lịch sử văn học nước nhà./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
  • Bánh cuốn Thanh Trì (phường Vĩnh Hưng - TP Hà Nội: Hương vị mộc mạc lưu giữ ký ức Hà thành
    Giữa sự thay đổi không ngừng của văn hoá ẩm thực Hà Nội, bánh cuốn Thanh Trì vẫn giữ được dấu ấn riêng bằng hương vị giản dị và kỹ thuật chế biến thủ công đặc trưng. Từ những gánh hàng rong xưa đến những cơ sở sản xuất ngày nay, món ăn làm từ hạt gạo quê này không chỉ phản ánh nét tinh tế trong văn hóa ẩm thực Thủ đô mà còn lưu giữ câu chuyện về một nghề truyền thống đã được duy trì qua nhiều thế hệ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Tản văn: Mùa hoa vông nem
    Mỗi lần xe bus dừng lại ngay con dốc để tôi rẽ vào xóm nhỏ, bao giờ cũng vậy tôi thường đi bộ thật chậm, bởi trong mỗi bước đi là cả một vùng trời ký ức. Tôi đi giữa hai hàng vông, đã chứng kiến bao sự đổi thay trên chính cuộc đời của chúng. Ban đầu chúng chỉ là những đoạn thân gỗ được vạt trụi lá rồi cắm dọc theo hai bên con đường nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, được làn mưa phùn tẩm ướt, từng chồi xanh bắt đầu nhú lên. Những chiếc lá kết chụm nhau tạo thành ché xanh mơn mởn.
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Văn học với sứ mệnh bồi đắp hệ giá trị văn hóa và con người Hà Nội
    Văn học không chỉ phản ánh hiện thực mà còn góp phần lưu giữ ký ức dân tộc, kiến tạo hệ giá trị văn hóa và bồi đắp nhân cách con người. Trong bối cảnh đất nước và Thủ đô Hà Nội bước vào giai đoạn phát triển mới, sứ mệnh ấy càng trở nên quan trọng, đòi hỏi văn học tiếp tục đồng hành cùng đời sống, phát huy sức mạnh mềm của văn hóa và góp phần xây dựng hình ảnh người Hà Nội thanh lịch, văn minh trên nền tảng truyền thống và tinh thần sáng tạo.
  • Xã Nội Bài: Điểm sáng trong công tác giáo dục Thủ đô
    Ngày 23/7, UBND xã Nội Bài tổ chức Hội nghị tổng kết năm học 2025-2026, triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026-2027.
  • Hà Nội triển khai đồng bộ các nhiệm vụ theo kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Công văn số 963-CV/TU ngày 22/7/2026 triển khai thực hiện Thông báo số 122-TB/VPTW của Văn phòng Trung ương Đảng về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Thành ủy Hà Nội. Công văn đặt ra yêu cầu tổ chức thực hiện đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ phát triển Thủ đô, tạo chuyển biến rõ nét trong những tháng cuối năm 2026 và chuẩn bị nền tảng cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
Đừng bỏ lỡ
  • Ca khúc “Hàng bia trắng”: Khi giai điệu hóa thành nén tâm nhang tri ân
    Kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7), nhạc sĩ Nguyễn Thành Trung vừa ra mắt ca khúc “Hàng bia trắng”. Tác phẩm vừa được giới thiệu trong chương trình nghệ thuật chính luận “Một thời hoa lửa” do Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với các đơn vị tổ chức tại Hà Nội tối 22/7. Qua chất giọng giàu nội lực và cảm xúc của Quán quân Sao Mai 2017 Thu Thủy cùng tiếng cello của nghệ sĩ Thiên Nga, tiếng guitar của nghệ sĩ Thanh Tùng, ca khúc đã góp phần lan tỏa thông điệp tri ân sâu sắc.
  • Khai mạc tuần phim kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
    Tối 21/7, tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia (Hà Nội), Bộ VHTTDL tổ chức Lễ khai mạc Tuần phim Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026). Tuần phim sẽ diễn ra từ ngày 21 – 28/7/2026 tại hơn 190 cụm rạp trên toàn quốc.
  • Đưa Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam trở thành biểu tượng hội tụ bản sắc văn hóa dân tộc
    Việc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam được chuyển giao về thành phố Hà Nội quản lý không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với thiết chế văn hóa đặc biệt này mà còn tạo thêm động lực để Thủ đô hiện thực hóa mục tiêu đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển. Đó là định hướng được nhấn mạnh trong Thông báo số 573-TB/TU ngày 16/7/2026 của Văn phòng Thành ủy về kết luận của đồng chí Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy tại buổi làm việc với Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.
  • Khởi động Cuộc thi sáng tác Ca khúc và Logo về phường Mường Thanh năm 2026
    Ban tổ chức mong muốn thu hút, khuyến khích đội ngũ nhạc sĩ, họa sĩ chuyên nghiệp lẫn không chuyên trên toàn quốc đóng góp tài năng, trí tuệ. Từ đó, địa phương sẽ lựa chọn được một biểu trưng chính thức cùng những ca khúc tiêu biểu mang tính khái quát cao, phản ánh chân thực bản sắc độc đáo và dòng chảy phát triển của phường.
  • Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam
    Các nhà khoa học, chuyên gia và nhà quản lý... trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm cùng các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại TP Huế.
  • Nhận diện di sản văn hóa vùng đất Huế
    Các chuyên gia đến từ các trường đại học, viện nghiên cứu, cơ quan quản lý... trong lĩnh vực lịch sử, văn hóa tham gia chia sẻ và thảo luận “Nhận diện di sản văn hóa tại vùng đất Huế”.
  • Bộ Tư lệnh Quân khu 4 (Bộ Quốc phòng) tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại Quảng Trị
    Bộ Tư lệnh Quân khu 4 (Bộ Quốc phòng) dâng hoa, thắp hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tổ chức các hoạt động tri ân, kiểm tra và chỉ đạo thực hiện Chiến dịch “500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, cất bốc và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” tại tỉnh Quảng Trị.
  • Hà Nội phát triển nhà ở xã hội, tạo đà tăng trưởng kinh tế "hai con số"
    Thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội đang được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của thành phố Hà Nội, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an sinh xã hội và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số".
  • Hà Nội: Tổ chức nhiều chương trình nghệ thuật kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
    Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026), tối 26/7, Hà Nội sẽ đồng loạt tổ chức 6 chương trình biểu diễn nghệ thuật tại một số địa phương, nhằm tưởng nhớ, tôn vinh các Anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng.
  • Phường Cửa Nam: Tập trung cao điểm hỗ trợ tận nhà, đảm bảo quyền lợi an sinh cho người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH
    Thực hiện các văn bản chỉ đạo của UBND TP.Hà Nội, đặc biệt là Kế hoạch 271/KH-UBND của UBND Thành phố về đợt cao điểm liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH không bị gián đoạn. Với tinh thần tiên phong phục vụ, ngay từ khi UBND TP. Hà Nội ban hành Kế hoạch, phường Cửa Nam đã tập trung lực lượng, phối hợp chặt chẽ cùng BHXH cơ sở Hoàn Kiếm, Chi nhánh số 3 Trung tâm Phục vụ hành chính công và Bưu điện Hoàn Kiếm rà soát, hỗ trợ tận nhà người dân hoàn thiện thủ tục ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp
Lý Ngọc Kiều – sư bà diệu nhân ni viện Hương Hải
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO