Văn hóa – Di sản

Lý Ngọc Kiều – sư bà diệu nhân ni viện Hương Hải

Trần Thị Băng Thanh 25/10/2023 10:25

Vào một ngày xuân khoảng năm 1058, công chúa Lý Ngọc Kiều (1042 - 1113) được gả về châu Chân Đăng, một vùng đất thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay, làm phu nhân quan châu họ Lê.

buc-hoa-cong-chua-ly-ngoc-kieu.jpg
Bức họa công chúa Lý Ngọc Kiều. Ảnh: Bảo tàng lịch sử Quốc gia.

Thời Lý, việc gả các công chúa cho thủ lĩnh các châu là một chính sách quan trọng nhằm cố kết lòng người với vương triều. Nhiều công chúa đã được gả về các vùng biên trong hoàn cảnh như thế. Trước Lý Ngọc Kiều, theo sử sách đã có ba người. Đầu tiên là công chúa Bình Dương, được gả cho Châu mục châu Lạng là Thân Thiệu Thái năm 1029; sau đó năm 1036 có đến hai công chúa được gả đi các châu, công chúa Kim Thành (Đại Việt sử lược ghi là Khánh Thành) gả cho Châu mục châu Phong là Lê Tông Thận (Đại Việt sử ký toàn thư ghi là Thuận Tông), công chúa Trường Ninh gả cho Châu mục châu Thượng Oai là Hà Thiệu Lãm. Các vua nhà Lý tiếp tục chính sách ấy trong nhiều năm. Sau Ngọc Kiều, Lý Thánh Tông lại gả công chúa Thiên Thành cho Thân Đạo Nguyên, con trai công chúa Bình Dương và Thân Thiệu Thái năm 1066; Lý Nhân Tông gả công chúa Khâm Thánh cho Châu mục châu Vị Long Hà Di Khánh, mùa xuân năm 1082; gả công chúa Diên Bình cho thủ lĩnh Phú Lương là Dương Tự Minh năm 1127. Sử sách không ghi gì thêm về các cuộc hôn nhân ấy, không rõ số phận các công chúa ở vùng biên viễn ra sao? Có một lần sử ghi vào năm 1147: “Làm nhà cho công chúa Thụy Thiên ở châu Lạng”, và năm 1148: “Công chúa Thụy Thiên về châu Lạng”... Sử không nói rõ có phải Thụy Thiên cũng là một trường hợp được “hạ giá” như các công chúa trước đó? Nhưng theo Đại Việt sử lược thì năm 1180, Lý Cao Tông còn gả công chúa Hoa Dương cho thủ lĩnh châu Vị Long Hà Công Phụ. Có thể đoán các công chúa đã hoàn thành sứ mệnh với tông tộc, cũng là với đất nước. Họ là những tấm gương hy sinh thầm lặng không có tên trong bảng vàng, nhưng xã tắc thuở bấy giờ không thể thiếu họ vốn là những người mang sẵn trong thiên chức nữ giới của mình nghệ thuật “lạt mềm buộc chặt”. Các Châu mục làm rể vương triều không ai vướng vào một vụ “lộn xộn” nào, mặc dù dưới thời Lý các vùng biên giới chưa thật ổn định. Hơn thế, trong các chàng rể nhà Lý cũng có những vị thực sự có vai trò đáng nể trong nhiều công việc triều chính như Thân Thiệu Thái, hoặc cha con Thân Đạo Nguyên, Dương Tự Minh. Thân Thiệu Thái có nhiều công lao trong việc giữ yên vùng biên châu Lạng. Thân Đạo Nguyên là một trong trong những vị tướng có công đầu trong trận chống quân xâm lược Tống năm 1075, còn Dương Tự Minh thì năm 1143 được giao cai quản công việc các khe động dọc biên giới đường bộ. Điều đó chứng tỏ Lý Anh Tông rất tin tưởng ông và có thể ông đã hoàn thành tốt nhiệm vụ nên năm sau, 1144, vua Lý Anh Tông lại gả thêm công chúa Thiều Dung cho ông và lần này ông được phong Phò mã lang. Nếu trước đấy, khi lấy công chúa Diên Bình, Dương Tự Minh đã đóng vai trò “phên dậu” một cách xuất sắc, thì sau khi cưới Thiều Dung, ông càng góp những công tích lớn hơn. Năm 1145, ông được lệnh đi đánh Đàm Hữu Lượng, người nước Tống chạy sang nước ta xúi giục một số thủ lĩnh biên động gây rối vùng biên giới phía Bắc. Tự Minh đã dẹp yên vụ Đàm Hữu Lượng, lấy lại vùng đất ải Lũng Đổ, thuộc Cao Bằng ngày nay. Về sau Tự Minh còn tham gia vào kế hoạch diệt Đỗ Anh Vũ, việc không thành nên bị đày đi châu xa, tên tuổi các công chúa làm vợ ông cũng mai một...

Tuy vậy trường hợp Lý Ngọc Kiều dường như có chút khác biệt. Đại Việt sử ký toàn thư có lưu lại đôi ba chi tiết khi công chúa qua đời, là một tài liệu rất quý để suy đoán về bà: “Mùa hạ, tháng sáu (năm 1113), phu nhân của Châu mục Chân Đăng là công chúa họ Lý mất. (Phu nhân tên là Ngọc Kiều, con gái lớn của Phụng Càn Vương, được Thánh Tông nuôi ở trong cung, lớn lên phong làm Công chúa, gả cho Châu mục châu Chân Đăng là người họ Lê. Chồng chết, phu nhân tự thề ở góa, đi tu làm sư nữ, đến đây mất, thọ 72 tuổi. Thần Tông tôn làm ni sư” (Bản dịch, 1993). Như vậy, tính ra Ngọc Kiều sinh năm 1042.

Phụng Càn Vương là em liền kề thái tử Nhật Tôn, tên là Nhật Trung, một hoàng tử có đủ tài đức. Trong các hoàng tử của Lý Thái Tông chỉ có thái tử Nhật Tôn và ông được phong tước vương, còn các hoàng tử khác chỉ được phong tước hầu. Phụng Càn Vương cũng thường được giao những nhiệm vụ hệ trọng trong triều. Hai lần ông được vua cha giao cho lưu thủ kinh sư. Lần thứ nhất, vào năm 1035, Thái Tông đi đánh dẹp một vụ “làm phản” ở châu Ái, Phụng Càn Vương giữ kinh thành đã phát giác được âm mưu nổi loạn của nhóm đồ đệ tướng Nguyễn Khánh, trong đó có cả hai hoàng đệ Thắng Càn, Thái Phúc. Lần sau, vào năm 1037, Thái Tông thân đi đánh Lâm Tây (vùng đất thuộc hai tỉnh Sơn La, Lai Châu ngày nay), Khai Hoàng Vương Nhật Tôn làm Đại nguyên soái cầm quân, Phụng Càn Vương làm Đô thống soái đi đánh châu Văn. Lần này Phụng Càn Vương thắng trận, đem về dâng ngựa quý. Trong các hoàng tử của Lý Thái Tông, ngoài Nhật Tôn chỉ thấy sử ghi hoạt động của Phụng Càn Vương Nhật Trung. Có lẽ ông là người giúp anh được nhiều việc triều chính quan trọng, vì thế giữa hai anh em có tình thân thiết. Lý Thánh Tông được sử khen là một vị hoàng đế nhân ái, có lòng yêu thương con cháu, nhưng đối với Ngọc Kiều ông có sự chăm chút riêng có thể chính vì tình thân thiết anh em đó. Nhưng dù yêu thương, Ngọc Kiều vẫn phải được gả chồng. Chỉ có điều ngày nay ta không rõ Lê công là một nhân vật như thế nào? Cuộc hôn nhân ấy có đem lại cho công chúa hạnh phúc lứa đôi, hay nàng cũng chỉ như nhiều công chúa khác là người vâng lệnh triều đình đáp úng một nghĩa vụ? Và nguyên nhân nào khiến sau khi chồng chết, công chúa đã trở về Thăng Long nhưng nhất quyết không tái giá mà nương nhờ cửa Phật? Rất may sách Thiền uyển tập anh cũng bổ sung thêm một vài chỉ dẫn. Theo sách này thì Ngọc Kiều được gả về châu Chân Đăng khi nàng mới đến tuổi “cập kể”, nhiều nhất là mười sáu tuổi. Cũng không rõ cuộc hôn nhân giữa công chúa và Lê công được bao năm tháng, nhưng khi Thiền sư Chân Không mất, năm 1100, thì Ngọc Kiều đã đến viếng với tư cách là đệ tử. Chân Không mất năm ấy mới 55 tuổi đời và 36 tuổi hạ. Tính ra sư sinh năm 1046, kém Ngọc Kiều khoảng bốn, năm tuổi, xuất gia năm 18 tuổi (khoảng 1064). Và để có thể trở thành sư phụ của Ngọc Kiều, một người đã từng trải, hơn thế, chắc chắn ít nhiều có học vấn, Chân Không hẳn cũng cần chừng trên dưới mười tuổi hạ. Như vậy, có thể phỏng đoán Ngọc Kiều trở thành học trò của Chân Không khoảng sau năm 1070, nghĩa là sau khi công chúa lấy chồng chừng 15 năm và ở vào độ tuổi trên dưới 30. Dẫu sao khi bắt đầu cuộc đời tu hành công chúa cũng còn rất trẻ. Theo Thiền uyển tập anh, trước khi xuất gia Ngọc Kiều đã có nhiều trăn trở, công chúa từng than: “Ta xem thế gian, hết thảy các pháp cũng như mộng huyễn, huống gì bọn sang quý tạm bợ lại có thể nương dựa được sao!”. Có thể nàng cũng thật lòng thương quý Lê công, bởi vì có một điều chắc chắn là Lê công cũng như các vị Châu mục khác làm rể vương triều không thể là những kẻ hèn kém, thiếu bản lĩnh. Về một khía cạnh nào đó, họ cũng tương xứng với các Công chúa, song hôn nhân, dù bất cứ ở thời đại nào, cũng không thể hoàn hảo khi nó chỉ là đối tượng của sự sắp đặt, của các quy chuẩn và nhất là thuần túy mang tính mục đích. Vì vậy cuộc hôn nhân của Ngọc Kiều về châu Chân Đăng dẫu sao vẫn là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời nàng khiến người đời sau ngẫm nghĩ cứ thấy ngậm ngùi. Bởi lẽ từ nhỏ nàng đã được nuôi dưỡng ở trong cung, sống cuộc đời vương giả, được yêu chiều, có thể rất hồn nhiên vui vẻ, và trẻ thơ. Trở thành “phu nhân” của một thủ lĩnh ở nơi núi rừng xa lạ, công chúa đã phải nếm trải mọi nỗi sinh ly tử biệt, đủ để thấu hiểu những khổ đau mà chúng sinh phải gánh chịu trong cuộc đời. Sự trải nghiệm ấy đủ sức mạnh để công chúa có một thái độ dứt khoát: “Đem cho hết các đồ trang sức, xuất gia, đến thụ giới với Thiền sư Chân Không tại hương Phù Đổng, học hỏi tâm yếu”, được Thiền sư đặt đạo hiệu là Diệu Nhân và rồi “đạt được tam ma địa”, trở thành một bậc tôn túc trong hàng ni chúng.

Diệu Nhân đã là một bậc thầy, nhiệt thành đem tâm yếu Đại thừa chỉ dẫn cho những ai muốn cầu học. Sư bà thường giảng giải cho các đệ tử rằng: “Chỉ trở về nguồn tự tính thì dù phương pháp “đốn” hay “tiệm” đều có thể tùy đó mà thể nhập. Hãy luôn tĩnh lặng trong sạch, tránh xa thanh sắc, ngôn ngữ”. Diệu Nhân coi Kinh Kim cương là bộ kinh chủ yếu dắt dẫn quá trình tu tập của mình. Bà cũng từng bộc bạch điều ấy với học trò, khi có người hỏi về một câu trong Kinh Duy ma cật: “Tất cả chúng sinh bệnh nên ta cũng bệnh, vậy sao gọi là khi nào cũng tránh xa thanh sắc?”, sư bà đã giảng giải rằng nếu lấy sắc và thanh mà cầu Phật thì là theo “tà đạo”, bởi vì “Đạo vốn không lời”, người tu hành “xưa nay không đi”, phải ngồi tĩnh lặng suy tư.

Vào thời Lý, sau một ngàn năm Bắc thuộc, là một dân tộc mới giành lại chủ quyền, Đại Việt có rất nhiều yêu cầu đặt ra trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Khẳng định bản lĩnh văn hóa dân tộc cũng là một khâu trọng yếu trong đó. Người dân trong tâm thế chủ nhân và tự do khao khát tri thức, khao khát lý giải những vấn đề cơ bản của cuộc sống con người. Những câu hỏi về quan hệ giữa sắc và không, sống và chết; vị trí, ảnh hưởng, tác động qua lại giữa ba tông giáo Nho Phật Lão, vai trò giữa Phật và Thánh, kẻ xuất gia và người tại gia... thường được đưa ra và thảo luận sôi nổi trong các Thiền viện hoặc các buổi tham vấn của nhà vua với các bậc kỳ túc. Diệu Nhân là một Thiền gia uy tín đương thời, trước khi về cõi vĩnh hằng, bà đã để lại một chỉ dẫn về cách tu tập và cũng có thể xem là tuyên ngôn của bà về quan niệm sống chết:

Sinh, lão, bệnh, tử,

Tự cổ thường nhiên.

Dục cầu xuất ly,

Giải phược thiêm triền.

Mê chi cầu Phật,

Hoặc chi cầu thiền.

Thiền Phật bất cầu,

Uổng khẩu vô nghiên (ngôn).

(Sinh, lão, bệnh, tử,

Muôn thuở tự nhiên.

Muốn cầu siêu thoát,

Càng trói buộc thêm.

Mê thì cầu Phật,

Hoặc thì cầu Thiền.

Chẳng cầuThiền Phật,

Mím miệng ngồi yên)

(Nguyễn Đức Vân dịch)

Diệu Nhân tỏ ra chấp nhận quy luật tự nhiên khách quan đối với quá trình sinh học một đời người. Theo bà, người ta sinh ra, lớn lên, già rồi ốm chết, đó là “lẽ thường”, từ xưa vẫn thế. Bản thân bà đã đi gần hết bốn chặng và khó có thể nghĩ rằng đó là một hành trình dễ dàng. Một thân thế cành vàng lá ngọc như Công chúa Ngọc Kiều nhưng cuộc sống đâu đã thập phần như ý. Từ tuổi thanh xuân từ giã hoàng cung đi lấy chồng cho đến lúc rời bỏ cõi trần, gần sáu mươi năm nếm trải biết bao buồn vui mà chắc chắn buồn nhiều hơn vui, bản thân bà đã phải chống chọi với mọi nỗi đau tinh thần và sự tàn phá của thời gian, rốt cuộc đã giúp bà nhận ra cái sức ép khó cưỡng của quy luật. Người ta nói chung thường từ giã cõi đời trong tư thế thất bại nhưng sư bà Diệu Nhân với bản lĩnh sáng suốt đã giữ vững được tư thế chủ động. Bà hiểu nếu nhọc lòng cầu Phật, cầu Thiền, mong sự trợ giúp của một lực lượng siêu nhiên nào để thoát khỏi “vòng sinh tử” thì chỉ là mê muội, tự trói buộc mình. Không cần cầu Phật, cũng chẳng nên nhiều lời giảng giải điều gì, Thiền vốn vô ngôn! Điều chính yếu là mọi người phải phá bỏ mọi “chấp trước”, như thế sẽ đạt tới giác ngộ.

Bài thơ có tám câu bốn chữ, âm vận đều đều, bao gồm bốn ý như bốn quá trình chiêm nghiệm mà sự chiêm nghiệm cuối cùng là một lời tổng kết được nâng lên thành triết lý ở hai câu đầu, và cụ thể hóa trong cách ứng xử ở hai câu cuối. Hơn một thế kỷ sau, hoàng đế Trần Thái Tông sẽ trở lại vấn đề từng đặt ra với Lý Ngọc Kiều. Ông cũng giảng về bốn giai đoạn của một đời người, chỉ dẫn cho mọi người phương pháp vượt qua từng giai đoạn. Và chính ông đã sử dụng gần như nguyên vẹn bài kệ của Diệu Nhân làm “Kệ khuyến chúng”. Có điều nếu Diệu Nhân mạnh mẽ, quyết liệt, yêu cầu người học đạo phải đạt đến sự giác ngộ từ trong lý trí thì Trần Thái Tông chiếu cố nhiều hơn đến sự “mê hoặc” của chúng nhân. Ông giúp những người học đạo hiểu quy luật thường nhiên đó bằng nhận thức hình tượng, bằng sự tác động vào chỗ yếu lòng của họ. Thái Tông đặt ra những phương pháp tu trì, tụng kinh niệm Phật, sám hối, dâng hương dâng hoa... giúp họ làm phương tiện để sang bờ giác, cho đến thời điểm mà ánh sáng trí tuệ bừng mở khiến họ hiểu “Phật là không mà Tổ cũng là không”. Sự khác nhau giữa Diệu Nhân và Thái Tông góp phần làm nên một nét khu biệt giữa thiền học đời Lý và đời Trần.

Diệu Nhân là một nữ sĩ của buổi đầu lịch sử văn học nước nhà. Đối với những câu hỏi lớn mà các tín đồ đạo Phật thời nào và nước nào cũng bàn đến như sắc không, sinh tử, mê giác, thịnh suy,... cùng với cách nhìn có phần biện chứng của Nguyên phi Ỷ Lan, nụ cười tươi tắn của Mãn Giác, cách lý giải trữ tình sâu sắc của Viên Chiếu, sự trào tiếu của Trí Bảo.... Diệu Nhân đã góp thêm một cách nhìn sáng suốt, một thái độ điềm nhiên cứng cỏi, góp phần làm nên tinh thần trí tuệ của văn học Thiền đời Lý, một trong những đặc sắc riêng của thơ Thiền thời Lý - Trần mà văn học Thiền các giai đoạn sau khó đạt đến được. Chính vì vậy công chúa, nhà thơ Lý Ngọc Kiều, sư bà Diệu Nhân chùa Hương Hải xứng đáng có một vị trí trang trọng trong lịch sử đạo Thiền và lịch sử văn học nước nhà./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Di sản văn hóa Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân TP Huế
    Nhân kỷ niệm 45 năm thành lập, Bảo tàng Hồ Chí Minh Thành phố Huế tổ chức Hội thảo “Di sản văn hóa Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân Thành phố Huế”.
  • Công nhận 12 cây cổ thụ tại Bắc Ninh là cây di sản Việt Nam
    Sự kiện công nhận quần thể 11 cây duối và 1 cây gòn có tuổi đời từ 200-500 năm là Cây Di sản Việt Nam không chỉ ghi nhận giá trị lịch sử, văn hóa, môi trường mà còn là trách nhiệm của chính quyền và nhân dân trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị quý báu này.
  • Cỗ tam sinh làng Đông Trạch
    Con sông Hồng trước đây chảy qua đất làng Khuyến Lương, phường Trần Phú, quận Hoàng Mai (nay thuộc xã Nam Phù, TP. Hà Nội) xuống đến đầu làng Đông Trạch, xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì (nay thuộc phường Khuyến Lương, TP. Hà Nội) thì phình to như một quả bóng.
  • Nền tảng vững chắc để di sản văn hóa dân tộc trường tồn
    Hơn 4.000 năm lịch sử, Việt Nam có kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú và đa dạng. Để di sản văn hóa của dân tộc trường tồn, phát huy các giá trị trong đời sống đương đại, trong mọi thời kỳ và nhất là những năm gần đây, chúng ta đã có một hệ thống văn bản các chính sách, pháp luật về di sản văn hóa ngày càng hoàn thiện hơn.
  • Chảy mãi mạch nguồn gìn giữ, phát triển di sản văn hóa Việt Nam
    Suốt quá trình xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng, quan tâm và xác định di sản văn hóa là bản sắc của văn hóa dân tộc, là cơ sở để xây dựng nền văn hóa mới, con người mới, là một nguồn lực để xây dựng và phát triển đất nước.
  • Giao lưu, trình diễn nghi lễ và trò chơi kéo co tại đền Trấn Vũ
    Trong khuôn khổ Festival Thăng Long - Hà Nội 2025, sáng 16/11, tại đền Trấn Vũ (phường Long Biên, thành phố Hà Nội) đã diễn ra chương trình giao lưu, trình diễn nghi lễ và trò chơi kéo co. Chương trình do Sở Văn hóa và Thể thao TP Hà Nội phối hợp với UBND phường Long Biên và Hội Di sản Văn hóa Việt Nam tổ chức, nhân dịp kỷ niệm 10 năm nghi lễ và trò chơi kéo co được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Hành trình để di sản văn hoá thành tài sản trong phát triển công nghiệp văn hoá
    Sáng nay 29/11, tại Bảo tàng Hà Nội đã diễn ra Toạ đàm quốc tế "Hành trình để di sản văn hoá thành tài sản trong phát triển công nghiệp văn hoá".
  • Hà Nội tăng mức chi để khuyến khích đội ngũ văn nghệ sỹ Thủ đô tiếp tục cống hiến, sáng tạo nghệ thuật
    Thực hiện khoản 5 và 6 Điều 21 của Luật Thủ đô 2024, tại kỳ họp thứ 28, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết Quy định một số nội dung, mức chi trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật của thành phố Hà Nội. Nghị quyết sẽ tạo động lực để văn nghệ sỹ Thủ đô góp sức để phát triển văn hóa, nghệ thuật và công nghiệp văn hóa của Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên vươn mình.
  • “Giấc cỏ” - nỗi niềm chung cõi nhân gian
    Nhắc đến Giang Đăng, nhiều người thường nghĩ ngay đến một giọng thơ tình giàu cảm xúc. Tôi cũng đôi lần nghe nhắc tên chị trong Câu lạc bộ Thơ Đất Việt hay bắt gặp trên pano Ngày thơ Nguyên tiêu. Nhưng chỉ đến khi cầm trên tay “Nhặt mùa” và “Gỡ từ ngực cỏ”, tôi mới nhận ra: vẻ đẹp của thơ Giang Đăng không chỉ nằm ở sự mượt mà của ngôn từ mà còn ở chiều sâu triết luận, ở tâm thế, cảm xúc và những trải nghiệm đa tầng trước đời sống.
  • Hà Nội quy định mức học phí năm học 2025-2026
    HĐND thành phố Hà Nội đã thông qua Nghị quyết quy định mức học phí đối với các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập chất lượng cao năm học 2025 - 2026.
  • Thành phố Hà Nội thông qua tổng số biên chế công chức hành chính năm 2026
    Tổng biên chế viên chức hưởng lương ngân sách nhà nước trong các cơ quan, đơn vị của thành phố Hà Nội năm 2026 gồm 117.555 biên chế, trong đó chỉ tiêu biên chế phân bổ 117.061 chỉ tiêu; chỉ tiêu biên chế dự phòng 494 chỉ tiêu.
Đừng bỏ lỡ
  • Khẩn trương phục hồi di sản bị hư hại sau mưa lũ
    Để khẩn trương khắc phục hậu quả thiên tai, bảo vệ di sản văn hoá trên địa bàn 04 tỉnh, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hoà, Lâm Đồng tổ chức kiểm tra, rà soát hiện trạng kỹ thuật, đánh giá mức độ hư hại của các công trình di tích, bảo tàng trên địa bàn tỉnh.
  • Khai mạc Festival quốc tế Âm nhạc mới năm 2025 tại Hà Nội
    Diễn ra từ ngày 27/11 đến 1/12/2025 tại Hà Nội, Festival Quốc tế Âm nhạc mới lần thứ IV quy tụ sự tham gia của gần 30 nhạc sĩ, nghệ sĩ quốc tế đến từ: Liên bang Nga, Tatarstan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Cộng hòa Adygea, Đan Mạch, Bỉ, Đức, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia, Lào.
  • “Lửa cháy Phiên Ngung” và “Chìm trong vòng xoáy” đoạt Huy chương vàng tại Liên hoan Tuồng và Dân ca kịch toàn quốc 2025
    Ban tổ chức trao 2 huy chương vàng cho vở diễn "Lửa cháy Phiên Ngung" của Nhà hát Sân khấu truyền thống Quốc gia Việt Nam và kịch hát dân ca "Chìm trong vòng xoáy" của Trung tâm Nghệ thuật truyền thống Nghệ An.
  • Nhà thơ Hữu Loan và nhà văn Tô Hoài qua bút ký của Lê Xuân Sơn
    Ngày 9/10/2025, nhà báo Lê Xuân Sơn (từng là biên tập viên Báo Người Hà Nội, Tổng Biên tập Báo Tiền Phong) ra mắt ba tập sách mới, gồm hai tập bút ký và một tập thơ. Đọc tập bút ký “Mây trắng còn bay” (Nxb Hội Nhà văn, 2025), có thể nhận ra ở anh tình yêu văn chương mê đắm, phong cách riêng và bản lĩnh của một cây bút ký giàu trải nghiệm. Là một nhà báo kỳ cựu, chăm đi, chăm viết, đồng thời cũng là người có nền tảng văn chương vững vàng, Lê Xuân Sơn đã có điều kiện tiếp xúc với nhiều văn nghệ sĩ đương đại.
  • Càng sống đời càng đầy đặn yêu thương
    “Trước hoàng hôn” (Nxb Hội Nhà văn, 2025) là tập thơ thứ 19 của Quang Hoài. Tập thơ ra đời vào thời điểm đặc biệt: nhà thơ - đại tá của chúng ta vừa bước sang tuổi 80 và đang chiến đấu với trọng bệnh. Nhưng như chưa hề biết đến tuổi già và như để quên đi sự thách đố nghiệt ngã của số phận, nhà thơ Quang Hoài vẫn bình thản yêu và sống, bình thản yêu và làm thơ một cách bản lĩnh, đầy nhân bản.
  • Triển lãm “Con đường Cách mạng - Đồng chí Hồ Chí Minh tại Trung Quốc”
    Tiếp nhận tư liệu, hiện vật và triển lãm “Con đường Cách mạng - Đồng chí Hồ Chí Minh tại Trung Quốc” nhân kỷ niệm 45 năm thành lập Bảo tàng Hồ Chí Minh Thành phố Huế.
  • Di sản văn hóa Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân TP Huế
    Nhân kỷ niệm 45 năm thành lập, Bảo tàng Hồ Chí Minh Thành phố Huế tổ chức Hội thảo “Di sản văn hóa Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân Thành phố Huế”.
  • Hà Nội tổ chức nhiều động văn hóa – nghệ thuật chào mừng Đại hội XIV và Tết Nguyên đán
    Hà Nội yêu cầu xây dựng chuỗi hoạt động phụ trợ cho Chương trình Countdown 2026 đảm bảo nội dung phong phú, hấp dẫn, hiện đại đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của Nhân dân và du khách trong thời khắc đón chào năm mới...
  • “Người giữ hồn di sản” giành Bông sen Vàng cho phim tài liệu xuất sắc
    Tại Liên hoan Phim Việt Nam 2025, bộ phim tài liệu “Người giữ hồn di sản” do đạo diễn Lê Thanh Lịch và Đặng Minh Hùng (Trung tâm Điện ảnh Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam) thực hiện đã xuất sắc giành giải Bông sen vàng - hạng mục Phim tài liệu.
  • "Giai điệu tự hào" trở lại với chủ đề “Vang mãi bài ca người lính”
    Chương trình “Giai điệu Tự hào” sẽ trở lại lúc 20h10 ngày 7/12/2025 trên VTV1 với chủ đề “Vang mãi Bài ca người lính”, nhân kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12.
Lý Ngọc Kiều – sư bà diệu nhân ni viện Hương Hải
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO