Văn hóa – Di sản

Lý Ngọc Kiều – sư bà diệu nhân ni viện Hương Hải

Trần Thị Băng Thanh 25/10/2023 10:25

Vào một ngày xuân khoảng năm 1058, công chúa Lý Ngọc Kiều (1042 - 1113) được gả về châu Chân Đăng, một vùng đất thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay, làm phu nhân quan châu họ Lê.

buc-hoa-cong-chua-ly-ngoc-kieu.jpg
Bức họa công chúa Lý Ngọc Kiều. Ảnh: Bảo tàng lịch sử Quốc gia.

Thời Lý, việc gả các công chúa cho thủ lĩnh các châu là một chính sách quan trọng nhằm cố kết lòng người với vương triều. Nhiều công chúa đã được gả về các vùng biên trong hoàn cảnh như thế. Trước Lý Ngọc Kiều, theo sử sách đã có ba người. Đầu tiên là công chúa Bình Dương, được gả cho Châu mục châu Lạng là Thân Thiệu Thái năm 1029; sau đó năm 1036 có đến hai công chúa được gả đi các châu, công chúa Kim Thành (Đại Việt sử lược ghi là Khánh Thành) gả cho Châu mục châu Phong là Lê Tông Thận (Đại Việt sử ký toàn thư ghi là Thuận Tông), công chúa Trường Ninh gả cho Châu mục châu Thượng Oai là Hà Thiệu Lãm. Các vua nhà Lý tiếp tục chính sách ấy trong nhiều năm. Sau Ngọc Kiều, Lý Thánh Tông lại gả công chúa Thiên Thành cho Thân Đạo Nguyên, con trai công chúa Bình Dương và Thân Thiệu Thái năm 1066; Lý Nhân Tông gả công chúa Khâm Thánh cho Châu mục châu Vị Long Hà Di Khánh, mùa xuân năm 1082; gả công chúa Diên Bình cho thủ lĩnh Phú Lương là Dương Tự Minh năm 1127. Sử sách không ghi gì thêm về các cuộc hôn nhân ấy, không rõ số phận các công chúa ở vùng biên viễn ra sao? Có một lần sử ghi vào năm 1147: “Làm nhà cho công chúa Thụy Thiên ở châu Lạng”, và năm 1148: “Công chúa Thụy Thiên về châu Lạng”... Sử không nói rõ có phải Thụy Thiên cũng là một trường hợp được “hạ giá” như các công chúa trước đó? Nhưng theo Đại Việt sử lược thì năm 1180, Lý Cao Tông còn gả công chúa Hoa Dương cho thủ lĩnh châu Vị Long Hà Công Phụ. Có thể đoán các công chúa đã hoàn thành sứ mệnh với tông tộc, cũng là với đất nước. Họ là những tấm gương hy sinh thầm lặng không có tên trong bảng vàng, nhưng xã tắc thuở bấy giờ không thể thiếu họ vốn là những người mang sẵn trong thiên chức nữ giới của mình nghệ thuật “lạt mềm buộc chặt”. Các Châu mục làm rể vương triều không ai vướng vào một vụ “lộn xộn” nào, mặc dù dưới thời Lý các vùng biên giới chưa thật ổn định. Hơn thế, trong các chàng rể nhà Lý cũng có những vị thực sự có vai trò đáng nể trong nhiều công việc triều chính như Thân Thiệu Thái, hoặc cha con Thân Đạo Nguyên, Dương Tự Minh. Thân Thiệu Thái có nhiều công lao trong việc giữ yên vùng biên châu Lạng. Thân Đạo Nguyên là một trong trong những vị tướng có công đầu trong trận chống quân xâm lược Tống năm 1075, còn Dương Tự Minh thì năm 1143 được giao cai quản công việc các khe động dọc biên giới đường bộ. Điều đó chứng tỏ Lý Anh Tông rất tin tưởng ông và có thể ông đã hoàn thành tốt nhiệm vụ nên năm sau, 1144, vua Lý Anh Tông lại gả thêm công chúa Thiều Dung cho ông và lần này ông được phong Phò mã lang. Nếu trước đấy, khi lấy công chúa Diên Bình, Dương Tự Minh đã đóng vai trò “phên dậu” một cách xuất sắc, thì sau khi cưới Thiều Dung, ông càng góp những công tích lớn hơn. Năm 1145, ông được lệnh đi đánh Đàm Hữu Lượng, người nước Tống chạy sang nước ta xúi giục một số thủ lĩnh biên động gây rối vùng biên giới phía Bắc. Tự Minh đã dẹp yên vụ Đàm Hữu Lượng, lấy lại vùng đất ải Lũng Đổ, thuộc Cao Bằng ngày nay. Về sau Tự Minh còn tham gia vào kế hoạch diệt Đỗ Anh Vũ, việc không thành nên bị đày đi châu xa, tên tuổi các công chúa làm vợ ông cũng mai một...

Tuy vậy trường hợp Lý Ngọc Kiều dường như có chút khác biệt. Đại Việt sử ký toàn thư có lưu lại đôi ba chi tiết khi công chúa qua đời, là một tài liệu rất quý để suy đoán về bà: “Mùa hạ, tháng sáu (năm 1113), phu nhân của Châu mục Chân Đăng là công chúa họ Lý mất. (Phu nhân tên là Ngọc Kiều, con gái lớn của Phụng Càn Vương, được Thánh Tông nuôi ở trong cung, lớn lên phong làm Công chúa, gả cho Châu mục châu Chân Đăng là người họ Lê. Chồng chết, phu nhân tự thề ở góa, đi tu làm sư nữ, đến đây mất, thọ 72 tuổi. Thần Tông tôn làm ni sư” (Bản dịch, 1993). Như vậy, tính ra Ngọc Kiều sinh năm 1042.

Phụng Càn Vương là em liền kề thái tử Nhật Tôn, tên là Nhật Trung, một hoàng tử có đủ tài đức. Trong các hoàng tử của Lý Thái Tông chỉ có thái tử Nhật Tôn và ông được phong tước vương, còn các hoàng tử khác chỉ được phong tước hầu. Phụng Càn Vương cũng thường được giao những nhiệm vụ hệ trọng trong triều. Hai lần ông được vua cha giao cho lưu thủ kinh sư. Lần thứ nhất, vào năm 1035, Thái Tông đi đánh dẹp một vụ “làm phản” ở châu Ái, Phụng Càn Vương giữ kinh thành đã phát giác được âm mưu nổi loạn của nhóm đồ đệ tướng Nguyễn Khánh, trong đó có cả hai hoàng đệ Thắng Càn, Thái Phúc. Lần sau, vào năm 1037, Thái Tông thân đi đánh Lâm Tây (vùng đất thuộc hai tỉnh Sơn La, Lai Châu ngày nay), Khai Hoàng Vương Nhật Tôn làm Đại nguyên soái cầm quân, Phụng Càn Vương làm Đô thống soái đi đánh châu Văn. Lần này Phụng Càn Vương thắng trận, đem về dâng ngựa quý. Trong các hoàng tử của Lý Thái Tông, ngoài Nhật Tôn chỉ thấy sử ghi hoạt động của Phụng Càn Vương Nhật Trung. Có lẽ ông là người giúp anh được nhiều việc triều chính quan trọng, vì thế giữa hai anh em có tình thân thiết. Lý Thánh Tông được sử khen là một vị hoàng đế nhân ái, có lòng yêu thương con cháu, nhưng đối với Ngọc Kiều ông có sự chăm chút riêng có thể chính vì tình thân thiết anh em đó. Nhưng dù yêu thương, Ngọc Kiều vẫn phải được gả chồng. Chỉ có điều ngày nay ta không rõ Lê công là một nhân vật như thế nào? Cuộc hôn nhân ấy có đem lại cho công chúa hạnh phúc lứa đôi, hay nàng cũng chỉ như nhiều công chúa khác là người vâng lệnh triều đình đáp úng một nghĩa vụ? Và nguyên nhân nào khiến sau khi chồng chết, công chúa đã trở về Thăng Long nhưng nhất quyết không tái giá mà nương nhờ cửa Phật? Rất may sách Thiền uyển tập anh cũng bổ sung thêm một vài chỉ dẫn. Theo sách này thì Ngọc Kiều được gả về châu Chân Đăng khi nàng mới đến tuổi “cập kể”, nhiều nhất là mười sáu tuổi. Cũng không rõ cuộc hôn nhân giữa công chúa và Lê công được bao năm tháng, nhưng khi Thiền sư Chân Không mất, năm 1100, thì Ngọc Kiều đã đến viếng với tư cách là đệ tử. Chân Không mất năm ấy mới 55 tuổi đời và 36 tuổi hạ. Tính ra sư sinh năm 1046, kém Ngọc Kiều khoảng bốn, năm tuổi, xuất gia năm 18 tuổi (khoảng 1064). Và để có thể trở thành sư phụ của Ngọc Kiều, một người đã từng trải, hơn thế, chắc chắn ít nhiều có học vấn, Chân Không hẳn cũng cần chừng trên dưới mười tuổi hạ. Như vậy, có thể phỏng đoán Ngọc Kiều trở thành học trò của Chân Không khoảng sau năm 1070, nghĩa là sau khi công chúa lấy chồng chừng 15 năm và ở vào độ tuổi trên dưới 30. Dẫu sao khi bắt đầu cuộc đời tu hành công chúa cũng còn rất trẻ. Theo Thiền uyển tập anh, trước khi xuất gia Ngọc Kiều đã có nhiều trăn trở, công chúa từng than: “Ta xem thế gian, hết thảy các pháp cũng như mộng huyễn, huống gì bọn sang quý tạm bợ lại có thể nương dựa được sao!”. Có thể nàng cũng thật lòng thương quý Lê công, bởi vì có một điều chắc chắn là Lê công cũng như các vị Châu mục khác làm rể vương triều không thể là những kẻ hèn kém, thiếu bản lĩnh. Về một khía cạnh nào đó, họ cũng tương xứng với các Công chúa, song hôn nhân, dù bất cứ ở thời đại nào, cũng không thể hoàn hảo khi nó chỉ là đối tượng của sự sắp đặt, của các quy chuẩn và nhất là thuần túy mang tính mục đích. Vì vậy cuộc hôn nhân của Ngọc Kiều về châu Chân Đăng dẫu sao vẫn là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời nàng khiến người đời sau ngẫm nghĩ cứ thấy ngậm ngùi. Bởi lẽ từ nhỏ nàng đã được nuôi dưỡng ở trong cung, sống cuộc đời vương giả, được yêu chiều, có thể rất hồn nhiên vui vẻ, và trẻ thơ. Trở thành “phu nhân” của một thủ lĩnh ở nơi núi rừng xa lạ, công chúa đã phải nếm trải mọi nỗi sinh ly tử biệt, đủ để thấu hiểu những khổ đau mà chúng sinh phải gánh chịu trong cuộc đời. Sự trải nghiệm ấy đủ sức mạnh để công chúa có một thái độ dứt khoát: “Đem cho hết các đồ trang sức, xuất gia, đến thụ giới với Thiền sư Chân Không tại hương Phù Đổng, học hỏi tâm yếu”, được Thiền sư đặt đạo hiệu là Diệu Nhân và rồi “đạt được tam ma địa”, trở thành một bậc tôn túc trong hàng ni chúng.

Diệu Nhân đã là một bậc thầy, nhiệt thành đem tâm yếu Đại thừa chỉ dẫn cho những ai muốn cầu học. Sư bà thường giảng giải cho các đệ tử rằng: “Chỉ trở về nguồn tự tính thì dù phương pháp “đốn” hay “tiệm” đều có thể tùy đó mà thể nhập. Hãy luôn tĩnh lặng trong sạch, tránh xa thanh sắc, ngôn ngữ”. Diệu Nhân coi Kinh Kim cương là bộ kinh chủ yếu dắt dẫn quá trình tu tập của mình. Bà cũng từng bộc bạch điều ấy với học trò, khi có người hỏi về một câu trong Kinh Duy ma cật: “Tất cả chúng sinh bệnh nên ta cũng bệnh, vậy sao gọi là khi nào cũng tránh xa thanh sắc?”, sư bà đã giảng giải rằng nếu lấy sắc và thanh mà cầu Phật thì là theo “tà đạo”, bởi vì “Đạo vốn không lời”, người tu hành “xưa nay không đi”, phải ngồi tĩnh lặng suy tư.

Vào thời Lý, sau một ngàn năm Bắc thuộc, là một dân tộc mới giành lại chủ quyền, Đại Việt có rất nhiều yêu cầu đặt ra trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Khẳng định bản lĩnh văn hóa dân tộc cũng là một khâu trọng yếu trong đó. Người dân trong tâm thế chủ nhân và tự do khao khát tri thức, khao khát lý giải những vấn đề cơ bản của cuộc sống con người. Những câu hỏi về quan hệ giữa sắc và không, sống và chết; vị trí, ảnh hưởng, tác động qua lại giữa ba tông giáo Nho Phật Lão, vai trò giữa Phật và Thánh, kẻ xuất gia và người tại gia... thường được đưa ra và thảo luận sôi nổi trong các Thiền viện hoặc các buổi tham vấn của nhà vua với các bậc kỳ túc. Diệu Nhân là một Thiền gia uy tín đương thời, trước khi về cõi vĩnh hằng, bà đã để lại một chỉ dẫn về cách tu tập và cũng có thể xem là tuyên ngôn của bà về quan niệm sống chết:

Sinh, lão, bệnh, tử,

Tự cổ thường nhiên.

Dục cầu xuất ly,

Giải phược thiêm triền.

Mê chi cầu Phật,

Hoặc chi cầu thiền.

Thiền Phật bất cầu,

Uổng khẩu vô nghiên (ngôn).

(Sinh, lão, bệnh, tử,

Muôn thuở tự nhiên.

Muốn cầu siêu thoát,

Càng trói buộc thêm.

Mê thì cầu Phật,

Hoặc thì cầu Thiền.

Chẳng cầuThiền Phật,

Mím miệng ngồi yên)

(Nguyễn Đức Vân dịch)

Diệu Nhân tỏ ra chấp nhận quy luật tự nhiên khách quan đối với quá trình sinh học một đời người. Theo bà, người ta sinh ra, lớn lên, già rồi ốm chết, đó là “lẽ thường”, từ xưa vẫn thế. Bản thân bà đã đi gần hết bốn chặng và khó có thể nghĩ rằng đó là một hành trình dễ dàng. Một thân thế cành vàng lá ngọc như Công chúa Ngọc Kiều nhưng cuộc sống đâu đã thập phần như ý. Từ tuổi thanh xuân từ giã hoàng cung đi lấy chồng cho đến lúc rời bỏ cõi trần, gần sáu mươi năm nếm trải biết bao buồn vui mà chắc chắn buồn nhiều hơn vui, bản thân bà đã phải chống chọi với mọi nỗi đau tinh thần và sự tàn phá của thời gian, rốt cuộc đã giúp bà nhận ra cái sức ép khó cưỡng của quy luật. Người ta nói chung thường từ giã cõi đời trong tư thế thất bại nhưng sư bà Diệu Nhân với bản lĩnh sáng suốt đã giữ vững được tư thế chủ động. Bà hiểu nếu nhọc lòng cầu Phật, cầu Thiền, mong sự trợ giúp của một lực lượng siêu nhiên nào để thoát khỏi “vòng sinh tử” thì chỉ là mê muội, tự trói buộc mình. Không cần cầu Phật, cũng chẳng nên nhiều lời giảng giải điều gì, Thiền vốn vô ngôn! Điều chính yếu là mọi người phải phá bỏ mọi “chấp trước”, như thế sẽ đạt tới giác ngộ.

Bài thơ có tám câu bốn chữ, âm vận đều đều, bao gồm bốn ý như bốn quá trình chiêm nghiệm mà sự chiêm nghiệm cuối cùng là một lời tổng kết được nâng lên thành triết lý ở hai câu đầu, và cụ thể hóa trong cách ứng xử ở hai câu cuối. Hơn một thế kỷ sau, hoàng đế Trần Thái Tông sẽ trở lại vấn đề từng đặt ra với Lý Ngọc Kiều. Ông cũng giảng về bốn giai đoạn của một đời người, chỉ dẫn cho mọi người phương pháp vượt qua từng giai đoạn. Và chính ông đã sử dụng gần như nguyên vẹn bài kệ của Diệu Nhân làm “Kệ khuyến chúng”. Có điều nếu Diệu Nhân mạnh mẽ, quyết liệt, yêu cầu người học đạo phải đạt đến sự giác ngộ từ trong lý trí thì Trần Thái Tông chiếu cố nhiều hơn đến sự “mê hoặc” của chúng nhân. Ông giúp những người học đạo hiểu quy luật thường nhiên đó bằng nhận thức hình tượng, bằng sự tác động vào chỗ yếu lòng của họ. Thái Tông đặt ra những phương pháp tu trì, tụng kinh niệm Phật, sám hối, dâng hương dâng hoa... giúp họ làm phương tiện để sang bờ giác, cho đến thời điểm mà ánh sáng trí tuệ bừng mở khiến họ hiểu “Phật là không mà Tổ cũng là không”. Sự khác nhau giữa Diệu Nhân và Thái Tông góp phần làm nên một nét khu biệt giữa thiền học đời Lý và đời Trần.

Diệu Nhân là một nữ sĩ của buổi đầu lịch sử văn học nước nhà. Đối với những câu hỏi lớn mà các tín đồ đạo Phật thời nào và nước nào cũng bàn đến như sắc không, sinh tử, mê giác, thịnh suy,... cùng với cách nhìn có phần biện chứng của Nguyên phi Ỷ Lan, nụ cười tươi tắn của Mãn Giác, cách lý giải trữ tình sâu sắc của Viên Chiếu, sự trào tiếu của Trí Bảo.... Diệu Nhân đã góp thêm một cách nhìn sáng suốt, một thái độ điềm nhiên cứng cỏi, góp phần làm nên tinh thần trí tuệ của văn học Thiền đời Lý, một trong những đặc sắc riêng của thơ Thiền thời Lý - Trần mà văn học Thiền các giai đoạn sau khó đạt đến được. Chính vì vậy công chúa, nhà thơ Lý Ngọc Kiều, sư bà Diệu Nhân chùa Hương Hải xứng đáng có một vị trí trang trọng trong lịch sử đạo Thiền và lịch sử văn học nước nhà./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Khám phá vẻ đẹp Văn Miếu-Quốc Tử Giám qua 120 tác phẩm nghệ thuật
    Chiều 8/8, tại Nhà Thái Học, Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu- Quốc Tử Giám, triển lãm tranh “Ngàn năm di sản” chính thức khai mạc. Đây là hoạt động văn hóa nghệ thuật do Câu lạc bộ Tôi Vẽ phối hợp cùng Trung tâm hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức, chào mừng 950 năm Quốc Tử Giám (1076-2026) và hướng tới kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • Festival Võ thuật Quốc tế Hà Nội 2026: Góp phần định hình một sản phẩm văn hóa mới của Thủ đô
    Tối 7/8, tại Hoàng thành Thăng Long - Di sản Văn hóa Thế giới, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ khai mạc Festival Võ thuật Quốc tế Hà Nội 2026 với chủ đề "Hào khí Thăng Long - Tinh hoa võ Việt". Lần đầu tiên được tổ chức, Festival đánh dấu bước đi mới của Thủ đô trong việc xây dựng một sự kiện văn hóa - thể thao mang tầm quốc tế, góp phần tôn vinh truyền thống thượng võ dân tộc, quảng bá hình ảnh Hà Nội và thúc đẩy giao lưu văn hóa, thể thao với bạn bè thế giới.
  • Phát triển kinh tế di sản: Thành tựu, động lực tăng trưởng của Việt Nam trong kỷ nguyên mới
    Một trong những điểm mới, thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đó là tiếp tục quan điểm “bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn kết với phát triển kinh tế - xã hội và du lịch”; đồng thời, nâng lên một tầm cao mới: “phát triển kinh tế di sản”.
  • Thể lệ Giải Báo chí toàn quốc “Vì sự nghiệp phát triển Văn hóa Việt Nam” lần thứ Tư năm 2026
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức ban hành Thể lệ Giải Báo chí toàn quốc “Vì sự nghiệp phát triển Văn hóa Việt Nam” lần thứ Tư. Đây là giải thưởng cấp quốc gia uy tín nhằm ghi nhận, tôn vinh những đóng góp xuất sắc của tập thể, cá nhân đội ngũ những người làm báo đối với sự nghiệp phát triển văn hóa nước nhà. Thông qua cuộc thi, Ban Tổ chức mong muốn giới thiệu những thành tựu nổi bật của các lĩnh vực văn hóa, thông tin, gia đình, thể thao và du lịch; đồng thời phát hiện, biểu dương các tấm gương điển hình tiên tiến, cổ vũ toàn ngành chung sức cống hiến và tạo diễn đàn trao đổi nghiệp vụ nâng cao chất lượng báo chí trong thời đại mới.
  • Quảng bá di sản du lịch qua chương trình “Long mạch Nà Hang - Huyền thoại trên mặt nước”
    Show thực cảnh “Long Mạch Na Hang - Huyền thoại trên mặt nước” là một sản phẩm văn hoá - du lịch mới tại Tuyên Quang, được phát triển theo hình thức Immersive Real- Scene Show với định hướng kết nối thiên nhiên, văn hóa, di sản, nghệ thuật và công nghệ để tạo nên một trải nghiệm mới cho du khách.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội phê duyệt Đề án Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa
    Đề án thực hiện nhận diện chi tiết 11 ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm của Hà Nội bao gồm Điện ảnh, Mỹ thuật - nhiếp ảnh - triển lãm, Nghệ thuật biểu diễn, Phần mềm và trò chơi giải trí, Quảng cáo, Thủ công mỹ nghệ, Du lịch văn hóa, Thiết kế sáng tạo, Truyền hình và phát thanh, Xuất bản, cùng lĩnh vực Ẩm thực mang nét đặc thù của Thủ đô.
  • Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
    Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những định hướng trọng tâm được Thành ủy Hà Nội xác định khi triển khai các chương trình hành động thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị về giáo dục - đào tạo, y tế và văn hóa. Theo kết luận của đồng chí Nguyễn Văn Phong, Phó Bí thư Thành ủy, nhiều nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ đã được đặt ra nhằm phát huy nguồn lực con người, khơi dậy sức mạnh văn hóa và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của Thủ đô.
  • Khi âm nhạc chạm vào trái tim “đánh thức” những miền ký ức
    Có những giai điệu chỉ cần cất lên đã gợi về một miền ký ức. Đó có thể là một con phố sau cơn mưa, là hàng cây lặng gió hay một khoảng trời mang theo nỗi nhớ của nhiều thế hệ. Chiều 9/8, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” sẽ mở ra một không gian như thế, nơi mỗi tác phẩm trở thành một lát cắt tinh tế về vẻ đẹp của con người và đời sống.
  • Dự án 7 cây cầu bắc qua sông Hồng: Định hình tương lai Hà Nội phát triển nhanh, bền vững
    Thành phố Hà Nội đã, đang triển khai cùng nhiều dự án hạ tầng giao thông, trong đó có 7 cây cầu mới bắc qua sông Hồng, gồm cầu: Tứ Liên, Trần Hưng Đạo, Thượng Cát, Ngọc Hồi, Hồng Hà, Mễ Sở và Vân Phúc. 7 cây cầu này vừa giải bài toán hạ tầng giao thông Thủ đô, vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược và cuộc cách mạng không gian để định hình tương lai phát triển bền vững Thủ đô trong kỷ nguyên mới.
  • Phường Phú Thượng: Sôi nổi hội thi văn nghệ thiếu nhi hè năm 2026
    Tối 7/8, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao phường Phú Thượng (Hà Nội) tổ chức Hội thi văn nghệ thiếu nhi hè năm 2026, với sự tham gia của các đội văn nghệ đến từ 16 tổ dân phố trên địa bàn.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Đối diện
    Cháu mang bài về, nghiên cứu kĩ rồi đem lại cho chú. Bài viết này chú thấy chưa hợp lí. Nếu như để công an điều tra vào cuộc, chú e… chúng ta phải làm nhiều bước nữa đấy. Sẵn sàng thì tiếp tục nhé! Chú Minh cầm tập bài viết đưa lại cho Thy. Cô ngại ngùng đỡ lấy. Đây là lần thứ ba, loạt bài phóng sự của mình bị Tổng biên tập kêu lên để trả lại...
  • Thực hiện Luật Thủ đô 2026, Hà Nội tăng cường quản lý nhà nước về dịch vụ lữ hành
    Triển khai Luật Thủ đô 2026 có hiệu lực từ ngày 1/7, các quy định của Luật Du lịch và văn bản hướng dẫn liên quan trong hoạt động kinh doanh du dịch; Sở Du lịch Hà Nội đề nghị các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành trên địa bàn thành phố thực hiện một số nội dung quan trọng. Qua đó góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển du lịch Hà Nội năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.
  • Ra mắt bộ sách "Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz" bằng tiếng Tây Ban Nha
    Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz (13/8/1926 - 13/8/2026) - nhà lãnh đạo kiệt xuất của Cách mạng Cuba, người bạn lớn, người đồng chí thủy chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, chiều 5/8, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Lễ giới thiệu bộ sách “Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz” gồm 24 tập bằng tiếng Tây Ban Nha.
  • Xây dựng Lễ hội Trung thu Thành cổ Sơn Tây thành sản phẩm văn hóa đặc trưng của Hà Nội
    Lễ hội “Trung thu Thành cổ - Sơn Tây xứ Đoài” năm 2026 do UBND phường Sơn Tây (TP Hà Nội) tổ chức sẽ diễn ra từ cuối tháng 8/2026. Hiện tại, công tác chuẩn bị Lễ hội đang được chính quyền phường Sơn Tây cùng các phòng, ban, ngành, đơn vị và 25 tổ dân phố khẩn trương triển khai, tạo khí thế sôi nổi, sẵn sàng mang đến cho Nhân dân và du khách một mùa Trung thu quy mô, đặc sắc và giàu bản sắc văn hóa xứ Đoài.
  • Phát động Cuộc thi trực tuyến “Thủ đô Hà Nội cùng dân tộc trong kỷ nguyên mới” trên ứng dụng iHanoi
    Không chỉ đơn thuần là một đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn, cuộc thi trực tuyến với tên gọi "Thủ đô Hà Nội cùng dân tộc trong kỷ nguyên mới" hướng đến việc biến những định hướng chiến lược trong Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị thành niềm tin, thành nhận thức chung của mỗi người dân.
Lý Ngọc Kiều – sư bà diệu nhân ni viện Hương Hải
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO