Văn hóa – Di sản

Di tích thành Cổ Loa: Huyền thoại và lịch sử

PGS.TS Nguyễn Quang Miên 22/10/2023 07:53

Khu di tích Cổ Loa, thuộc huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội là một trong số những vùng đất hội tụ nhiều tinh anh văn hóa. Từ truyền thuyết về một thời kỳ dựng nước sơ khai đến những bằng chứng vật chất về một tòa thành độc đáo, cổ nhất Việt Nam và vùng Đông Nam Á hay cả câu chuyện tình bi ai của đôi trai gái và nỗi niềm day dứt không nguôi của bao bậc hiền minh khi suy tư về phép đối nhân xử thế giữa con người với con người, giữa quốc gia với với quốc gia. Cho đến tận bây giờ, chúng ta vẫn ngỡ ngàng khi tình cờ bắt gặp những di vật khảo cổ học độc đáo hay lắng nghe những truyền thuyết ly kỳ, huyền ảo và đẹp đẽ về thần Kim Quy, đức vua An Dương Vương và nàng công chúa Mỵ Châu.

anh-4-khu-di-tich-co-loa-dong-anh-ha-noi.-anh-tu-lieu.jpg
Khu di tích Cổ Loa.

Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, vào năm 257 TCN, sau khi hợp nhất Văn Lang và Tây Âu thành nước Âu Lạc, vua An Dương Vương sai đắp thành ở Cổ Loa - một tòa thành vừa là nơi ở của vua và triều đình, vừa là nơi dân cư tập trung sinh sống, vừa đảm bảo quân giặc không thể đánh phá, đó cũng chính là kinh đô của nước Âu Lạc. Truyền thuyết dân gian kể rằng, thành này cứ khi vừa xây xong thì lại bị đổ sụp. Vua lấy làm lo, liền trai giới lập đàn khấn trời đất và thần linh sông núi phù hộ. Theo lời khẩn cầu của nhà vua, mùa xuân, tháng 3, chợt có một thần nhân đến trước cửa thành báo với nhà vua là “Cứ đợi giang sứ đến”. Sáng hôm sau, vua ra cửa thành, quả thấy có con rùa vàng bơi trên sông từ phía đông đến, xưng là giang sứ, nói được tiếng người, bàn được tương lai”. Vua hỏi về nguyên do thành sụp, rùa vàng đáp: “Đó là do tinh khí núi sông vùng này bị con vua trước phụ vào để báo thù trước…”. Rùa vàng (thần Kim Quy) đã giúp vua diệt trừ yêu ma và đắp thành. Thành đắp xong, rộng tới ngàn trượng vừa dày vừa cao xoáy vòng như hình con ốc, nên gọi là Loa thành. Vậy, Loa thành ấy ở đâu và đã được xây dựng như thế nào?

Đã có một số thư tịch cổ ghi chép về nơi đóng đô của vua An Dương Vương, song nhìn chung đều khá mơ hồ và không rõ ràng. Và tất cả đều giống nhau khi mô tả thành này có dạng xoắn như hình con ốc. Từ năm 1943 đến nay, di tích Cổ Loa ở Đông Anh (Hà Nội) đã thu hút quan tâm nghiên cứu của giới khoa học. Đặc biệt, là từ năm 1975 trở lại, tòa thành cổ này đã được tiến hành nghiên cứu khảo cổ học bởi nhiều đơn vị chuyên môn trong nước và quốc tế nhằm giải quyết những vấn đề nổi bật đặt ra là: thành Cổ Loa hiện tại với 3 vòng đất kỳ vĩ kia có phải là đã được đắp vào thời kỳ vua An Dương Vương hay không? Và tòa thành ấy đã được xây dựng như thế nào?

so-do-mat-cat-tuong-thanh-va-nien-dai-cac-lop-tram-tich-van-hoa-di-tich-co-loa.-trong-do-lop-1-3-la-giai-doan-giua-lop-4-la-giai-doan-muon.jpg
Sơ đồ mặt cắt tường thành và niên đại các lớp trầm tích văn hóa di tích Cổ Loa. Trong đó Lớp 1-3 là giai đoạn giữa; Lớp 4 là giai đoạn muộn. Nguồn: Phỏng theo Nam C.Kim 2005.

Kết quả hợp tác nghiên cứu nhiều năm (2005-2008) giữa trường Đại học Wisconsin - Madison (Mỹ) và Viện Khảo cổ học Việt Nam đã cho một hệ thống những số liệu đo tuổi bằng đồng vị carbon phóng xạ ở các vòng thành, từ đó cho lời giải thuyết phục là tòa thành trên đã được xây dựng vào khoảng thế kỷ III TCN - thế kỷ II TCN (Nam C.Kim 2010). Nghĩa là hầu như trùng khớp với thời kỳ nhà nước Âu Lạc và vua An Dương Vương, định đô xây thành như các thư tịch cổ đã ghi chép.

so-do-danh-gia-hien-trang-khu-di-tich-thanh-co-loa-nam-2011.-nguoi-lap-nguyen-quang-mien-lai-van-toi-nguyen-dang-cuong-.jpg
Sơ đồ đánh giá hiện trạng khu di tích thành Cổ Loa năm 2011. (Người lập: Nguyễn Quang Miên, Lại Văn Tới, Nguyễn Đăng Cường).

Năm 2011, để phục vụ công tác xây dựng hồ sơ đánh giá giá trị và quy hoạch bảo tồn khu di tích, giới khảo cổ học đã tiến hành khảo sát, xác định vị trí và lập sơ đồ đánh giá hiện trạng di tích thành Cổ Loa.

Theo đó, ở phía đông nam của thành là sông Hoàng Giang với vai trò quan trọng vừa là hào ngăn vừa là tuyến giao thông đường thủy dẫn ra với sông Hồng. Hiện nay, khu vực này là tuyến đường chính dẫn vào thành và rất có thể cũng là cổng chính của thành Cổ Loa xưa kia. Tòa thành có cấu tạo 3 vòng tường đất, các vòng thành bao bọc nhau, thứ tự từ ngoài vào trong.

Vòng thành Ngoài, còn gọi là thành Ngoại là một đa giác kín tự nhiên do được làm bằng cách đào và đắp nối hệ thống các gò, đống, doi đất cao sẵn có trước đó. Vòng thành này có chu vi dài khoảng 8.000m, cao khoảng 3-4m và rộng trên mặt khoảng 6m, rộng chân khoảng 12-20m. Lượng đất đào đắp ước khoảng 368.000m3.

Vòng thành Giữa, còn gọi là thành Trung cũng là một đa giác kín tự nhiên và được làm tương tự như ở vòng thành Ngoại. Vòng thành này có chu vi dài khoảng 6.500m, cao khoảng 5m và lượng đất đào đắp ước khoảng 510.900m3.

Vòng thành Trong, còn gọi là thành Nội, là vòng thành trong cùng, có kiểu dáng hình chữ nhật có chu vi khoảng 1.850m, cao khoảng 5m, rộng trên mặt khoảng 6-12m, rộng chân 20-30m. Lượng đất đào đắp ước khoảng 178.200m3.

Theo đó, tổng cộng lượng đất đã đào đắp cho cả ba vòng thành là 1.057.100m3. Ngoài ra, cùng với các vòng thành đắp bằng đất, trên mặt thành còn có các ụ phòng vệ (có người gọi là hỏa hồi), chẳng hạn ở thành Trong còn có 12 ụ phòng vệ. Thành Ngoài phía bắc và thành Giữa còn có một số gò đống, ụ phòng vệ khác như gò Cột Cờ, Ngự Xạ Đài, gò Vua, gò Đống Chuông… mà tương truyền là tất cả có khoảng 72 ụ.

Phía ngoài của các vòng thành đều có hào nước kết nối nhau tới Đầm Cả và nối thông ra sông Hoàng Giang thuận lợi cho di chuyển và giao thương giữa các khu trong thành cũng như xa hơn tới sông Hồng. Kết quả đào cắt đường hào ở khu thành Giữa cho thấy hào cách chân thành 6,5m, mặt hào rộng 10m, đáy hào rộng 1,0m và sâu 4,5m.

huhu.jpg
Một số hiện vật khảo cổ tiêu biểu phát hiện ở Cổ Loa (Trống đồng, lưỡi cày đồng, mũi tên đồng). Nguồn: Tống Trung Tín 2020.

Cùng với nghiên cứu theo chu vi, công tác khảo sát tường thành theo các mặt cắt ngang cũng được thực hiện và đều cho kết quả gần giống nhau. Đó là, những tường thành ở Cổ Loa đã được đắp theo 3 giai đoạn khác nhau. Giai đoạn 1 thuộc thời kỳ nhà nước Văn Lang, giai đoạn 2 thuộc thời kỳ An Dương Vương và giai đoạn 3 thuộc thời kỳ sau Cổ Loa (Nam C. Kim 2005).

Như vậy, với khoảng một triệu mét khối đất đã được đào đắp cho cả 3 vòng thành và giả thiết rằng mỗi lao động làm một ngày đắp được 1m3 - và nếu huy động 1.000 người làm thì sẽ phải cần khoảng 1.000 ngày, nếu có 5.000 người thì sẽ cần khoảng 200 ngày để hoàn thành. Thêm nữa, để có thể nuôi được một nhân công đắp thành thì cần có khoảng 10 người khác làm việc để cung cấp lương thực và các đồ thiết yếu. Đúng như ý kiến đánh giá của học giả Nam Kim: Trong thời kỳ An Dương Vương, khu vực Cổ Loa đã là một trung tâm tập trung dân cư lớn bậc nhất ở Đông Nam Á, có trình độ sản xuất khá cao, cuộc sống của người dân khá dư dả và những người quản lý quốc gia Âu Lạc và ở Cổ Loa đã có trình độ tổ chức cao đủ mạnh để có thể huy động một số lượng lớn người tập trung đông đúc cùng lao động đắp thành trong một thời gian khá dài (Nam C. Kim 2005). Bằng chứng về đời sống văn hóa vật chất và tinh thần thời kỳ này trên đất Cổ Loa có thể được hình dung qua những hiện vật khảo cổ phát hiện được ở đây như: Trống đồng, lưỡi cày đồng, mũi tên đồng…

Điều này chứng tỏ, vào thế kỷ III TCN, Âu Lạc đã là một quốc gia phát triển có trình độ tổ chức xã hội đạt mức cao, có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh mẽ. Theo đó, chúng ta có thể hình dung, cùng với câu chuyện về thần Kim Quy đã giúp nhà vua diệt trừ tà ma quấy nhiễu trong khi xây thành Cổ Loa, đó chính là thành công của những giải pháp củng cố và xây dựng sự đoàn kết, đồng lòng giữa các bộ lạc, các tộc người Việt ở vùng đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ dựng nước sơ khai.

Rõ ràng là suốt trong quãng thời gian của thời đại kim khí Việt Nam, khu vực Cổ Loa (Đông Anh) đã luôn là một trung tâm văn hóa lớn ở đồng bằng châu thổ sông Hồng và cũng là một trung tâm kinh tế - xã hội quan trọng vào loại bậc nhất của nhà nước Âu Lạc thời vua An Dương Vương. Nghiên cứu ở Cổ Loa đã cho chúng ta hình dung rõ ràng hơn về quy mô, mức độ và cấu trúc xã hội của một vùng dân cư nông nghiệp tập trung đông đúc trong thời kỳ An Dương Vương ở đồng bằng châu thổ sông Hồng. Trong khu vực Cổ Loa - Đông Anh đã thấy rõ nhiều dấu vết về nền văn minh sông Hồng trong sự đan xen giữa những bằng chứng vật chất khảo cổ học và huyền thoại truyền thuyết dân gian. Có thể nói, những kết quả nghiên cứu và khảo cổ đã cho thấy, Cổ Loa là một trong những kinh đô cổ nhất trong khu vực Đông Nam Á, được xây dựng bắt đầu vào khoảng thế kỷ III TCN với kỹ thuật truyền thống là tận dụng triệt để những ưu thế của địa hình tự nhiên để tạo nên những cấu trúc vòng thành và hào sâu bao bọc nhau. Các gò, đống, doi đất cao trong khu vực cũng đã được dùng để tạo thành một bộ phận hữu cơ trong chiến lược phòng thủ chống quân xâm lược của tòa thành. Hệ thống sông, hồ trong khu vực cũng đã được tận dụng hết sức linh hoạt để giải quyết nhu cầu về nước ăn, nước tưới, tuyến hào phòng thủ, tuyến giao thông và thương mại qua lại giữa các bộ phận trong kinh thành cũng như giữa kinh thành với các vùng cư dân lân cận. Thành Cổ Loa là sự thể hiện sáng tạo độc đáo, đỉnh cao của người Việt cổ trong công cuộc giữ nước và chống ngoại xâm; xứng đáng trở thành di sản văn hóa nhân loại với tầm ảnh hưởng không chỉ ở Việt Nam mà còn cả khu vực Đông Nam Á ./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Triển lãm “Cửu Đỉnh triều Nguyễn: Di sản tư liệu qua hình ảnh và tài liệu lưu trữ – Hướng tiếp cận giáo dục di sản bằng trải nghiệm số”
    Qua ứng dụng công nghệ số, triển lãm “Cửu Đỉnh triều Nguyễn: Di sản tư liệu qua hình ảnh và tài liệu lưu trữ – Hướng tiếp cận giáo dục di sản bằng trải nghiệm số” đã mang đến cho công chúng một cách tiếp cận di sản trực quan, sinh động và gần gũi hơn.
  • Hà Nội đón Bằng công nhận Bảo vật quốc gia chuông chùa An Xá
    Chùa Bắc Biên (Phúc Xá tự), còn gọi là chùa An Xá, là di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu của vùng đất Bồ Đề. Trong hệ thống di vật của chùa, chuông chùa An Xá là hiện vật nổi bật, được đúc vào tháng 11 năm 1690 dưới thời Lê Trung hưng bằng phương pháp thủ công truyền thống, mang tính độc bản.
  • Lễ hội Bình Đà 2026: Trang nghiêm nghi lễ Quốc Tổ, lan tỏa hào khí cội nguồn dân tộc
    Sáng 22/4 (tức ngày mùng 6 tháng 3 năm Bính Ngọ), tại Đền Nội, Bình Đà, xã Bình Minh, thành phố Hà Nội, Lễ rước, tế và dâng hương Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân đã được tổ chức trang nghiêm trong khuôn khổ Lễ hội Bình Đà 2026, thu hút đông đảo nhân dân địa phương, du khách thập phương cùng cộng đồng người Việt hướng về cội nguồn.
  • Bình Đà rộn ràng mùa hội Quốc Tổ
    Những ngày tháng Tư, khi tiết trời Hà Nội bước vào thời khắc đẹp nhất của mùa xuân muộn, vùng đất Bình Đà lại rộn ràng cờ hội, đón người dân và du khách thập phương về dự Lễ hội Bình Đà 2026. Diễn ra từ ngày 19 đến 22/4 tại xã Bình Minh, đây là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của Thủ đô, gắn với tín ngưỡng thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân - vị thủy tổ trong huyền sử dân tộc Việt Nam.
  • Hai Bàn thờ Phật bằng đá ở xã Dương Hòa được công nhận Bảo vật Quốc gia
    Lễ công bố Quyết định và đón Bằng công nhận Bảo vật Quốc gia đối với Bàn thờ Phật bằng đá tại chùa Hương Trai và chùa Đại Bi diễn ra tại sân Ải Cả, xã Dương Hòa (Hà Nội) vào ngày 17/4/2026. Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Thu Hà đã tới dự.
  • Văn hóa dân gian cần được xem như một nguồn lực phát triển đất nước
    Từ thực tế di sản văn hóa truyền thống của dân tộc, GS.TS Lê Hồng Lý – Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam cho rằng, chúng ta cần xem xét văn hóa dân gian như một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc, đúng với định hướng phát triển văn hóa Việt Nam mà Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Dấu son trang sử hào hùng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
    Trong hai năm 1970 – 1971, những thắng lợi của chiến tranh cách mạng ba nước Đông Dương gồm Việt Nam – Lào – Campuchia đã tạo thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống đế quốc, cứu nước của Nhân dân ta đi đến ngày toàn thắng: miền Nam được giải phóng, non sông nối liền một dải.
  • Hà Nội đẹp dịu dàng mùa hoa giáng hương
    Khi những chùm hoa bằng lăng tím bắt đầu nhuộm sắc phố phường, khi nắng đầu hạ trở nên vàng hơn và ve khe khẽ gọi mùa, Hà Nội lại bước vào thời khắc chuyển mình quen thuộc. Giữa bản giao hưởng của muôn loài hoa báo hiệu mùa hè tới, giáng hương nở rộ mang theo hương thơm dịu dàng, khiến người đi đường không khỏi vấn vương.
  • Nghề nặn tò he làng Xuân La qua trang viết của nhà giáo Cao Xuân Quế
    Sau nhiều năm ấp ủ, nghiên cứu và tìm tòi, nhà giáo Cao Xuân Quế (hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội) đã cho ra mắt cuốn sách “Độc đáo nghề nặn tò he làng Xuân La” (NXB Lao động, 2026). Với dung lượng 152 trang, cuốn sách phác họa tương đối đầy đủ diện mạo nghề nặn tò he của làng Xuân La, từ nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển, qua đó góp phần lưu giữ những giá trị đặc sắc của một nghề truyền thống trên mảnh đất Kinh kỳ.
  • Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, vận động trong quy hoạch, thu hồi đất và tái định cư, góp phần triển khai hiệu quả các dự án trọng điểm của Thủ đô
    Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Hướng dẫn số 30-HD/BTGDVTU ngày 28/4/2026 về một số nội dung tuyên truyền, vận động trong thực hiện quy hoạch; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố. Hướng dẫn nhấn mạnh yêu cầu phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị trong tạo đồng thuận xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân khi triển khai các dự án phát triển Thủ đô.
  • “Bệ phóng” cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
    Sau 51 năm giành độc lập và thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, qua đó khẳng định “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Điều này được chứng minh qua những thành tựu nổi bật của Việt Nam trong năm 2025 vừa qua.
Đừng bỏ lỡ
  • Lan tỏa niềm tự hào, kết nối giá trị văn hóa và khát vọng Việt Nam
    Tối 28/4, tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình, chương trình nghệ thuật đặc biệt “Âm vang Tổ quốc” đã diễn ra quy mô lớn, thu hút khoảng 40.000 khán giả trực tiếp cùng hàng triệu người theo dõi qua truyền hình và các nền tảng số.
  • Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 24/4/2026 về tổ chức các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026). Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu tuyên truyền sâu rộng ý nghĩa lịch sử trọng đại của sự kiện, giáo dục truyền thống yêu nước, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực xây dựng và phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Hà Nội rực rỡ cờ hoa vào những ngày tháng Tư lịch sử
    Những ngày cuối tháng 4, Hà Nội khoác lên mình diện mạo mới với cờ hoa, pano, áp phích khổ lớn, chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026). Các tuyến phố trung tâm như Tràng Tiền, Lê Duẩn, Hai Bà Trưng, đặc biệt khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm, đã được trang trí nổi bật với các biểu tượng lịch sử, khẩu hiệu lớn, mang thông điệp về một mốc son quan trọng trong lịch sử dân tộc.
  • Hà Nội phê duyệt Phương án Tái cấu trúc thủ tục hành chính lĩnh vực Văn hóa và Nghệ thuật
    UBND Thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định 530/QĐ-TTPVHCC phê duyệt phương án tái cấu trúc thủ tục hành chính trong lĩnh vực Mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm và Nghệ thuật biểu diễn thuộc phạm vi quản lý của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội. Quyết định này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc số hóa và cải thiện hiệu quả hoạt động của các thủ tục hành chính trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật tại Hà Nội.
  • Chương trình nghệ thuật “Âm vang Tổ quốc” thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa
    Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Thành phố Hà Nội trở thành điểm hẹn của những chương trình nghệ thuật đặc sắc, được đầu tư công phu, bài bản và sáng tạo bám sát tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
  • Những bài thơ bất yên
    Đi qua ba tập thơ trong thời gian ngắn, nhà thơ Đinh Minh Thiện như không bằng lòng với những gì đã có, để phải cất lên một tập thơ mới. Ở đó, tác giả gửi gắm nhiều suy niệm về cuộc sống, mơ vọng về nơi an trú, ngẫm ngợi những tỉnh thức, hoài niệm với quê nhà, với mẹ và những niềm thân thiết thôn dã, mùa màng…
  • Cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa từ không gian cộng đồng
    Chiều 26/4, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục diễn ra, thu hút đông đảo người dân và du khách dừng chân thưởng thức trong suốt hơn một giờ đồng hồ với chất lượng nghệ thuật cao mà vẫn gần gũi.
  • Việt Nam - Hàn Quốc hợp tác làm phim lịch sử về Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn
    Bộ phim tái hiện cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, vị danh tướng kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, người đã ba lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại quân Nguyên Mông.
  • Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thời đại kỹ thuật số
    Theo GS.TS. Nguyễn Chí Bền - nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị trong bối cảnh của thời đại kỹ thuật số thông minh, cần sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý. Việt Nam đang đứng trước thời cơ và thách thức, song có thể tạo ra sức mạnh mềm có ảnh hưởng sâu rộng bằng văn hóa, nếu sử dụng tốt mặt ưu thế các thành tố của thời đại kỹ thuật số thông minh.
  • Nghệ nhân ba miền “Cung tiến Kỳ hoa Dị thảo” vào Hoàng cung Huế
    Các câu lạc bộ, hội nhóm và nghệ nhân tự nguyện dâng tiến nhiều tác phẩm phong lan, cây kiểng tiêu biểu vào Hoàng cung Huế.
Di tích thành Cổ Loa: Huyền thoại và lịch sử
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO