Văn hóa – Di sản

Khuông Việt Ngô Chân Lưu – đại sư không phò nước Việt

Nguyễn Hữu Sơn 24/10/2023 10:42

Đại sư Khuông Việt (933 - 22.3.1011), còn có tên là Ngô Chân Lưu, người hương Cát Lợi, huyện Thường Lạc (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa). Thuở nhỏ học sách Nho, sau theo thiền sư Vân Phong học đạo Phật ở chùa Khai Quốc trong thành Đại La rồi trở thành môn đệ thế hệ thứ tư dòng thiền Vô Ngôn Thông. Theo sách Phả hệ họ Ngô Việt Nam, ông là con cả của Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập, anh của sứ quân Ngô Xương Xí. Sách Thiền uyển tập anh ghi chép khá chi tiết về cuộc đời ông. Đến năm 40 tuổi, Ngô Chân Lưu đã là người tinh thông Phật học, được vua Đinh Tiên Hoàng trao chức Tăng thống và ban hiệu Khuông Việt Đại sư. Dưới triều vua Lê Đại Hành, ông luôn được coi trọng, nhiều lần được mời vào cung bàn việc nước.

dai-su-khuong-chan-luu.jpg
Khuông Việt Ngô Chân Lưu.

Sách Thiền uyển tập anh chép:

“Dưới triều vua Lê Đại Hành, sư đặc biệt được vua kính trọng, phàm các việc quân quốc triều đình, sư đều được tham dự. Sư thường đi chơi ở núi Vệ Linh, quận Bình Lỗ, thích nơi đây cảnh trí đẹp, thanh u, muốn dựng am để ở. Ban đêm sư chiêm bao thấy thần nhân mặc áo giáp vàng, tay phải đỡ ngọn bảo tháp, theo sau có hơn chục tên quân hầu dáng mạo hung dữ. Vị thần bảo sư rằng: “Ta là Tì-sa-môn Thiên vương, quân hầu theo ta đây đều là bọn quỷ Dạ xoa. Thiên đế có sắc chỉ sai ta đến nước này giữ cương giới để cho Phật pháp được hưng thịnh. Ta có duyên với người nên đến đây để nhờ cậy”. Sư giật mình tỉnh dậy, nghe trong núi có tiếng gào thét thì lấy làm lạ. Khi trời sáng, sư vào núi thấy một cây cổ thụ cao chừng mười trượng, cành lá xum xuê tươi tốt, phía trên có đám mây lành che bóng. Sư nhân đó thuê thợ đốn cây ấy lấy gỗ tục tượng thần theo đúng như đã thấy trong mộng để thờ phụng,

Năm Thiên Phúc thứ nhất (980), quân Tống sang xâm lược nước ta. Trước đó, vua đã biết chuyện này, bèn sai sư đến đền cầu đảo xin thần phù hộ, Quân giặc kinh sợ lui về giữ sông Hữu Ninh. Đến đây, bọn chúng lại thấy sóng gió nổi lên ùn ùn, giao long nhảy tung trên mặt nước, quân giặc sợ hãi tan chạy" (Bản dịch, 1990)...

Vấn đề đặt ra ở đây là môtip nhân vật "thần nhân mặc áo giáp vùng” có nguồn gốc từ đâu mà lại xuất hiện được trong giấc mơ của Đại sư Khuông Việt? Điều gợi mở trước hết từ trong chính văn bản là vị "thần nhân mặc áo giáp vàng" này đã tự giới thiệu mình chính là Tì-sa-môn Thiên vương, Tóm tắt theo Từ điển Phật học Hán Việt thì Tì-sa-môn Thiên vương (Vaisravana) có nguồn gốc xa xưa từ Ấn giáo, thần thoại và Phật giáo Ấn Độ: “Đạo Bà-la-môn cổ gọi là Thần tài. Vị thần này trụ trì ở phía Bắc núi Tu-di, coi giữ mạn Bắc Diêm-phù-đề, cai quản về của cải tài sản, còn là vị thiện thần hộ trì Phật pháp”; “Còn gọi là Đa-văn-thiên, là một trong 4 vị Thiên vương hộ thế, là vị thiên thần hộ pháp kiêm bố thí phúc trong Phật giáo... Hình tượng có nhiều loại. Tượng của Thai tạng giới Mạn-đồ-la thì mặc áo giáp, đội mũ trụ, tay trái cầm cây tháp, tay phải cầm gậy báu. Thường là tượng ngồi và tương truyền còn có cả tượng đứng” (1994)...

Cho đến nay nhìn lại có thể khẳng định đã có cả một quá trình tìm hiểu về Tì-sa-môn Thiên vương trong bối cảnh văn hóa - văn học dân gian, cụ thể hơn là mối liên hệ với truyện Ông Dóng và hình ảnh giấc mơ của Khuông Việt. Trong công trình Người anh hùng làng Đông, Cao Huy Đỉnh đã lý giải khả năng trầm tích yếu tố folklore (cùng với nhân vật ông Hống ông Hát): “Trong Việt điện u linh (phần tục biên), sau khi nói đến truyện thần núi Vệ Linh là Tì-sa-môn, vì âm phù cho Lê Đại Hành đánh tan giặc Tống, nên được vua này phong cho là Sóc Thiên Vương (Chú ý: có truyền thuyết nói rằng vị thần phù âm đó là anh em ông Hống ông Hát cũng là hai anh em sinh đôi từ trong cùng một bọc đã theo Triệu Quang Phục sau này - xem Thiên Nam vân lục liệt truyện), tác giả kể lại một truyền thuyết dân gian về một em bé anh hùng giống như truyện Ông Dóng, nhưng trong đó không có một tên riêng nào khác ngoài Sóc Sơn và Sóc Thiên Vương. Có lẽ đây là tiền thân của truyện Ông Dóng” (1969)... Đồng thời, khi viết giáo trình văn học sử và tìm hiểu mối quan hệ Tì-sa-môn Thiên vương và Sóc Thiên vương - Thánh Dóng - Phù Đổng Thiên vương, Đinh Gia Khánh đã đi đến kết luận: “Ở đây có chi tiết liên quan đến Sóc Thiên vương, tức Thánh Dóng. Thánh Dóng hiện ra dưới hình thức Tì-sa-môn Thiên vương chỉ huy đạo quân Dạ-thoa. Rõ ràng là Thiền uyển tập anh đã phản ánh việc các thiền sư đem Phật giáo hóa truyền thuyết dân gian” (1978)... Như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, chỉ qua một dẫn chứng tiêu biểu này cũng thấy rõ khả năng tích hợp các yếu tố folklore ở truyện về Đại sư Khuông Việt trong tác phẩm Thiền uyển tập anh là một thực tế, biểu hiện chiều sâu văn hoá dân tộc và có tầm quan trọng đến như thế nào. Qua chiều dài thời gian, các thế hệ nhà nghiên cứu đã nỗ lực góp công kiếm tìm, giải mã câu chuyện “giấc mơ Khuông Việt”, giúp cho vấn đề ngày càng trở nên hấp dẫn và sáng tỏ hơn...

Năm 986, Khuông Việt được cử cùng sư Đỗ Pháp Thuận tiếp đón và bàn luận thi ca với Lý Giác, sứ giả nhà Tống. Khi Lý Giác ra về, Đại sư Khuông Việt có tặng Lý Giác một bài từ theo điệu Nguyễn lang qui (còn gọi Vương lang qui):

Tường quang phong hảo cẩm phàm trương,

Dao vọng thần tiên phục để hương.

Thiên trùng vạn lí thiệp thương lang,

Cửu thiên quy lộ trường.

Tình thảm thiết,

Đối li trường,

Phan luyến sứ tinh lang

Nguyện tương thâm ý vị Nam cương,

Phân minh báo ngã hoàng.

Bùi Duy Tân dịch thơ:

Gió xuân đầm ấm cánh buồm giương,

Xa ngóng thần tiên lại để hương.

Muôn dặm sóng xanh vượt trùng dương,

Trời xa về đường trường!

Tình thảm thiết,

Chén đưa đường,

Vin xe sứ giả vấn vương!

Xin đem thâm ý vì Nam cương,

Tâu rõ cùng thánh hoàng.

Bốn câu mở đầu bài từ thiên về phác họa cảnh sắc thiên nhiên, gợi tả không khí, hoàn cảnh cuộc chia ly. Đó là cuộc tiễn đưa của tác giả với sứ nhà Tống là Lý Giác vừa với tư cách tiễn biệt một nhà ngoại giao của thiên triều, vừa với tư cách chia tay một người bạn thông hiểu lẫn nhau. Không gian nơi đây được gợi tả mang đầy tính biểu tượng, lễ nghi trang trọng với nắng gió tốt lành, cánh buồm gấm, bể xanh, non nước muôn trùng. Đến những câu tiếp theo, tác giả sử dụng lối nói ngoa ngữ, khoa trương - một lối diễn đạt từ trương bóng bảy để nói về tình cảm lưu luyến nhớ thương: Tình thảm thiết – Chén đưa đường... Cho đến câu thơ Phan luyến sứ tinh lang thì đây là lần thứ hai tác giả đưa Lý Giác lên tới đỉnh cao của niềm hãnh diện, tự hào, thỏa mãn, coi Lý Giác như một sứ giả tài ba.

Đặt ý tứ chủ đạo vào đôi câu kết của bài từ, Đại sư Khuông Việt khéo léo thể hiện mọi ý đồ của mình trong có 12 chữ. Thứ nhất, tiếp tục đề cao vai trò cá nhân Lý Giác, tác giả nhấn mạnh sứ giả chính là sợi dây nối nước Nam với triều đình nhà Tống. Điều này vừa làm thỏa mãn tâm lý sứ giả thiên triều nhưng đồng thời lại chính là cái bẫy vô hình giăng chờ Lý Giác. Bởi lẽ, nếu sứ giả muốn xứng đáng với lời tôn xưng cao quí kia thì phải về tâu bày các vấn đề biên cương theo đúng những điều hai bên đã cam kết, thỏa thuận. Còn nếu làm khác đi thì chính Lý Giác đã tự phản lại mình, đã không còn xứng đáng với lời tung hô kia nữa. Rõ ràng Ngô Chân Lưu đã trải thảm đỏ buộc Lý Giác đi trên con đường độc đạo đó. Thứ hai, trước vấn đề ngoại giao đặc biệt hệ trọng, liên quan đến danh dự và vận mệnh đất nước, lập trường nhà chính trị - thiền sư Ngô Chân Lưu vừa tỏ ra mềm dẻo, vừa hết sức kiên quyết. Tác giả vừa có lời Nguyện xin bàn về vấn đề biện cương, vừa đòi hỏi một sự phân minh, không thể mập mờ, gian lận. Thái độ như thế là hết sức rõ ràng, quyết đoán. Điểm cuối cùng, dù mục tiêu ngoại giao đạt mức độ sắc sảo đến thế nào thì nó vẫn cần được “bao bọc” trong hình thức trang nhã, ân tình của một tác phẩm nghệ thuật viết về sự biệt ly. Tất cả những điều đó đã được Ngô Chân Lưu thực hiện thật uyển chuyển, sinh động.

Đánh giá ý nghĩa ngoại giao qua bài từ Vương lang qui của Ngô Chân Lưu nhất thiết cần phải đặt tác phẩm trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc bấy giờ và trong mối giao lưu văn hóa Việt - Tống. Chắc chắn bài từ của Đại sư Khuông Việt đã tác động mạnh mẽ tới tâm lý vị sứ giả nhà Tống, khiến Lý Giác vừa trân trọng vừa cảm phục tài năng người nước Nam. Đồng thời Đại sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu với trọng trách một nhà ngoại giao lịch lãm, học rộng biết nhiều đã góp phần tạo lập mối quan hệ hòa hảo giữa hai nước Việt - Tống, giữ gìn biên cương nước Việt được bình ổn trong suốt những năm cuối thế kỷ X, đầu thế kỷ XI. Bài từ Vương lang qui của ông xứng đáng là một trong những trang mở đầu cho dòng văn học bang giao đặc sắc của dân tộc.

Cuối đời, sư lấy cớ già yếu xin cáo việc quan về dựng chùa ở quê nhà. Học trò theo đến rất đông, trong số đó có thiền sư Đa Bảo là người có công khuông phò Lý Công Uẩn ở ngôi vua... Một hôm, đệ tử Đa Bảo hỏi: “Thế nào là chung thủy của đạo học?”. Sư đáp: “Thủy chung không vật thảy hư không/ Hiểu được chân hư thể ắt đồng”. Đa Bảo tiếp: “Lấy gì bảo chứng?”. Sư đáp: “Không có chỗ cho người hạ thử”. Đa Bảo thưa: “Hòa thượng nói rõ rồi”. Sư hỏi: “Ngươi hiểu thế nào?”. Đa Bảo bèn hét lên một tiếng.

Ngày 15 tháng 2 năm Thuận Thiên thứ 2 (1011). Trước lúc qui tịch, sư gọi Đa Bảo đến đọc lời kệ rằng:

Mộc trung nguyên hữu hoả,

Nguyên hoả phục hoàn sinh.

Nhược vị mộc vô hoả,

Toàn toại hà do manh?

(Lửa trong cây có sẵn,

Dù tắt lại bùng ngay.

Nếu bảo cây không lửa,

Xát mạnh sao cháy cây?)

Nói kệ xong, sư ngồi kiết già mà qua đời, thọ 79 tuổi...

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
  • Bánh cuốn Thanh Trì (phường Vĩnh Hưng - TP Hà Nội: Hương vị mộc mạc lưu giữ ký ức Hà thành
    Giữa sự thay đổi không ngừng của văn hoá ẩm thực Hà Nội, bánh cuốn Thanh Trì vẫn giữ được dấu ấn riêng bằng hương vị giản dị và kỹ thuật chế biến thủ công đặc trưng. Từ những gánh hàng rong xưa đến những cơ sở sản xuất ngày nay, món ăn làm từ hạt gạo quê này không chỉ phản ánh nét tinh tế trong văn hóa ẩm thực Thủ đô mà còn lưu giữ câu chuyện về một nghề truyền thống đã được duy trì qua nhiều thế hệ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Tản văn: Nơi gió được sinh ra
    Gió không về với nhân gian mà dạo chơi nữa. Trưa, nắng gắt gao nở một nụ cười bí hiểm. Yên gió, hàng cây đứng lặng ngả bóng vào nhau. Lá rơm rớm giọt sầu gục xuống. Phố thấp thoáng những bóng người chạy trốn, bịt kín khuôn mặt. Từng luồng bụi vẫn bay lơ lửng trên không trung, biến hình mờ ảo bám vào nóc nhà, khe cửa, vấn vít hàng quán, vỉa hè, lối người qua lại. Tôi chạy vội về với cánh đồng trong cơn mơ, gió yên lặng ngả xuống vai mình.
  • Nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà: “Kỷ nguyên số mở ra nhiều cơ hội cho hoạt hình Việt Nam”
    Mùa phim hè 2026 chứng kiến sự áp đảo của các bộ phim hoạt hình ngoại tại phòng vé Việt Nam, trong khi hoạt hình Việt tạm thời vắng bóng sau những tín hiệu khởi sắc của năm 2025. Phải chăng đây là một bước chững lại đáng lo ngại hay chỉ là khoảng lặng cần thiết để chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới? Phóng viên Tạp chí Người Hà Nội đã có cuộc trao đổi với nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà - Trường Phòng Kịch bản, Hãng phim hoạt hình Việt Nam về thực trạng, cơ hội cũng như nhưng triển vọng của hoạt hình Việt Nam trong kỷ nguyên số.
  • Xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong thời kỳ hội nhập
    Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và khát vọng phát triển đất nước ngày càng mạnh mẽ, việc xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội không chỉ là nhiệm vụ bảo tồn những giá trị truyền thống mà còn là quá trình nuôi dưỡng sức sáng tạo, nâng cao năng lực tiếp nhận văn hóa của cộng đồng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ. Để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển bền vững, cần đồng thời củng cố các chủ thể sáng tạo, hoàn thiện thiết chế văn hóa và tạo dựng môi trường thuận lợi cho các giá trị văn hóa lan tỏa trong đời sống đương đại.
  • Hà Nội chủ động phòng cháy, chữa cháy phòng nguy cơ hỏa hoạn từ cơ sở
    Vừa qua, Đội CC&CNCH Khu vực số 14 – Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH Công an TP Hà Nội phối hợp với Công an phường Tây Hồ tổ chức tuyên truyền PCCC&CNCH cho người dân tại các ngõ sâu trên địa bàn.
  • Phát huy sức mạnh văn hóa để bảo vệ chủ quyền trên không gian số
    Sáng 15/7, tại trụ sở Bộ VHTTDL đã diễn ra buổi họp báo thường kỳ quý II năm 2026, thông tin kết quả 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ trọng tâm cuối năm.
Đừng bỏ lỡ
  • Đánh thức bảo tàng bằng ứng dụng nghệ thuật liên ngành
    Hệ thống bảo tàng đang đứng trước những yêu cầu thay đổi theo hướng đa dạng, linh hoạt và hấp dẫn hơn trong cách tổ chức trưng bày nhằm thu hút du khách. Theo đó, bên cạnh các tư liệu, hiện vật, sự kết hợp giữa công nghệ, nghệ thuật sắp đặt và các yếu tố liên ngành đóng vai trò quan trọng, mang đến cho khách tham quan một hành trình thấu hiểu quá khứ theo nhiều cách khác nhau.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Xây dựng Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam thành tổ hợp du lịch đẳng cấp quốc tế
    Sau khi chính thức được chuyển giao về UBND thành phố Hà Nội quản lý vào tháng 6/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn. Từ một điểm đến phụ thuộc vào ngân sách, nơi đây được định hướng trở thành tổ hợp văn hóa, du lịch và giải trí mang tầm vóc quốc tế, đóng vai trò hạt nhân trong cực tăng trưởng phía Tây của Thủ đô. Chiều ngày 10/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã chủ trì buổi làm việc để định hình dòng chảy phát triển mới cho quần thể di sản này.
  • Ra mắt không gian nghệ thuật quy tụ 3 loại hình di sản xẩm, ca trù và múa rối nước
    Không gian văn hóa CADAO Collective chính thức ra mắt tại số 66 Tô Ngọc Vân (phường Tây Hồ, Hà Nội) với chương trình nghệ thuật đặc biệt quy tụ 3 loại hình di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội gồm xẩm, ca trù và múa rối nước.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII: Tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ
    Sáng 10/7, tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA) đã diễn ra Lễ khai mạc Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII - năm 2026. Sự kiện góp phần tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ, đồng thời phản ánh những xu hướng mới của mỹ thuật đương đại Việt Nam.
  • Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số
    Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 269/2026/NĐ-CP ngày 1/7/2026 quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Nghị định nhằm cụ thể hóa Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, Nghị định quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đã mở ra một hành lang pháp lý toàn diện.
  • Festival Thu Hà Nội năm 2026 :“Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc”
    Festival Thu Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc” được tổ chức để tôn vinh và lan tỏa những giá trị độc đáo của di sản văn hóa, danh thắng, làng nghề và tinh hoa ẩm thực ngàn năm văn hiến của Thủ đô. Sự kiện là đòn bẩy hiệu quả giúp kích cầu du lịch, thu hút du khách, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu, từ đó thúc đẩy ngành du lịch tăng trưởng mạnh mẽ...
  • Chủ tịch HĐND TP Hà Nội Phùng Thị Hồng Hà: Sớm hiện thực hóa cam kết tại nghị trường bằng kết quả cụ thể
    Phiên chất vấn tại kỳ họp thứ 5, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII diễn ra trong sáng 15/7, được truyền hình trực tiếp trên Báo, phát thanh và truyền hình Hà Nội. Phát biểu bế mạc phiên chất vấn, đồng chí Phùng Thị Hồng Hà - Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND Thành phố Hà Nội tin tưởng và nhấn mạnh những cam kết tại nghị trường sẽ sớm được hiện thực hóa bằng những kết quả cụ thể, góp phần xây dựng Thủ đô Hà Nội ngày càng văn minh, hiện đại và phát triển bền vững.
  • Tự hào tiếp bước cha anh - Tuổi trẻ phường Cửa Nam tri ân lực lượng TNXP việt nam
    Ngày 15/7, trong không khí vô cùng trang trọng, xúc động và đầy tự hào của những ngày tháng Bảy, Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường Cửa Nam đã vinh dự tham dự Lễ kỷ niệm 76 năm Ngày truyền thống Lực lượng Thanh niên xung phong (TNXP) Việt Nam (15/7/1950 - 15/7/2026). Chương trình do Hội Cựu TNXP phường Cửa Nam trang trọng tổ chức nhằm ôn lại chặng đường vẻ vang đầy oanh liệt của lực lượng TNXP qua các thời kỳ cách mạng, đồng thời giáo dục lòng yêu nước và truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" sâu sắc cho thế hệ trẻ hôm nay.
Khuông Việt Ngô Chân Lưu – đại sư không phò nước Việt
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO