Truyện

Hố băng

Truyện ngắn của Huỳnh Trọng Khang 07:44 14/04/2024

Tôi nghe kể có một làng miền Tây hơn năm trăm năm không có lấy một đền chùa, nhà thờ, miếu mạo nào, mà cũng hơn năm trăm năm không có giáo sư, tiến sĩ, kỹ sư, hay cử nhân đại học. Trái ngược hoàn toàn và cái làng sát bên hông nó, có một cái đình to vật vã với sắc phong mỗi mùa nắng ráo, ông từ phải đem ra phơi tràn cả lối đi, với các gia phả chi chít những tri huyện, thượng thư, thái úy.

img_3182gmgjmgym.jpg

“Kỳ cục thiệt!” Tiên sinh vừa nói vừa lúc lắc đầu như thể muốn trút cái kỳ cục đó ra khỏi trí nhớ.

Ông cũng chính là người kể cho tôi về cái làng không phất đường khoa bảng nọ, cái làng mà ông đã sinh vào đêm tiết cốc vũ trong nhà mụ bà mù chữ.

“Ông tôi thọ một trăm lẻ ba tuổi. Cả đời ông chẳng bao giờ ra khỏi cái làng từ lúc sinh ra đến lúc đem chôn. Cha tôi gần được như thế. Hồi trẻ ông từng một lần qua làng bên tán gái nhưng bị trai làng đó đánh bể đầu. Từ đó vừa sợ vừa giận, nửa đời không bước sang làng đó nữa. Vậy mà chú thấy đó, giờ tôi đi tít mù làng”. Tiên sinh kể.
Chốn ấy còn chẳng có nổi một cái đình làng. Trong ký ức của các bậc bô lão, chưa bao giờ họ nhớ làng của mình từng tồn tại một cái đình, cứ như làng đã bị thánh thần và triều đình bỏ rơi bên lề của một đời sống trần thế lơ lửng giữa có và không. Ngôi làng nhưng không văn tự, chiếu chỉ, kinh sách và không cả một bản dư địa chí chép sơ sài ghi lại nguồn gốc của làng, giải thích cho cái tên nửa Nôm nửa Hán mà người làng mặc sức muốn hiểu sao thì hiểu.
Vào ngày rằm tháng Giêng, dân làng chèo thuyền ra sông cái, họ thả một vò rượu thượng hạng đặc sản của làng kèm theo đồ tế lễ xuống nước. Có năm dân chúng khấm khá, mấy thằng ma cà bông núp trong bụi lau ven sông, đợi thuyền mọi người chèo về bờ thì hụp xuống đáy, vớt được cả con heo cúng trắng phau, đem lên đốt lửa nướng ăn như thường.

“Nhưng lạ là rượu cúng thì không bao giờ tìm thấy.” Tiên sinh kể. Có đứa lặn xuống, thấy ngồi thu lu dưới đáy nước một đứa trẻ mặt chà bá như cái mâm, da xanh xao nhợt nhạt, ôm khư khư vò rượu.
“Ở cái làng đó, đến hà bá cũng nghiện rượu!” Tiên sinh nói. Tôi biết, chính tiên sinh cũng uống rượu rất giỏi. Tôi mới gặp ông chừng hai tiếng trước nhưng trong khoảng hai tiếng đó ông đã tu ừng ực hết ba chai rượu mạnh.

Tiên sinh và tôi đang ở một cái làng ở Đức. Cái làng lúc tôi mới dọn đến đây, ông thị trưởng giới thiệu rằng, nó đã một ngàn năm tuổi, tên nó được đặt theo tên một anh hùng đã có công lãnh đạo nhân dân chống lại quân thù, nó có những kỳ quan kiến trúc gì, danh lam thắng cảnh nào hấp dẫn, người làng nào đã thành nhà triệu phú, văn hào bán triệu bản sách, nghệ sĩ vĩ cầm lừng danh thế giới, giáo sư vật lý, tiến sĩ toán học… Tóm lại là một cái làng hết sẩy. Hay có thể nói là cái làng đối nghịch với cái làng của tiên sinh.

Tiên sinh và tôi đang ở một cái làng ở Đức. Đúng hơn là đang ngồi trên con hồ đóng băng ở cái làng ấy. Xung quanh là cánh rừng trơ trụi phủ đầy giá tuyết bọc trong vòng tay của những ngọn núi mờ xa im tiếng. Như thể một sinh vật ma thuật nào rơi rớt từ những trang sách Grim ẩn núp và chờ đợi phóng ra vồ lấy hai con người đang bất chấp thời tiết mà ngồi câu cá giữa hồ băng hiu hắt xa cách quê hương vạn dặm.

Ánh mắt tôi lần mò theo sợi dây câu xuống hố băng. Như thả vào hư vô. Dưới kia mịt mùng không thấy gì hết ngoài một màu đen sẽ không thôi đặc lại thành dầu.

Tôi gặp tiên sinh lần đầu cách nay một tuần cũng tại hồ băng này. Ông cũng buôn lưỡi câu như thế, bên cạnh là cái xô rỗng không và kể từ dạo đó chưa bao giờ tôi thấy con cá nào trong xô. Rõ ràng tiên sinh không phải ngư phủ tài ba chi ráo. Tôi cũng không phải là ngư phủ ráo chi, suốt nhiều năm tôi đã thử vận mình bên bãi sông Hậu nhưng lần duy nhất tôi câu dính cá thì cái con thủy sinh tội nghiệp đó bé đến mức tôi chẳng buồn chụp ảnh lại làm kỷ niệm. Nhưng biết đâu được, ở nơi cách cố thổ nghìn trùng, rốt cục một ông phúc thần tây phương có thể vì cảm thương cho kẻ xa xứ lìa quê mà ban cho chút ân mưa móc. Vào một ngày mùa đông, khi mặt trời cuối cùng cũng chịu mọc, tôi xách khoan, xô, và cần ra tìm kiếm con cá định mệnh của mình. Vừa đến nơi, tôi đã gặp tiên sinh ở đó.

Tôi ngại ngùng chào nhỏ. Tiên sinh đang ngồi thu lu bên miệng hố băng như con gấu già đáng thương, quay phất lại nhìn tôi, mắt sáng lên, nói rổn rảng:

“Việt Nam hả?”
Tôi kinh ngạc vì tưởng mình đã qua đây hơn mười năm, thứ tiếng Đức mình nói ra hẳn là thứ tiếng Đức của Goethe.
“Có gì đâu thắc mắc. Nghe khẩu âm là biết liền.” Tiên sinh phá giải nghi ngại của tôi. Chẳng biết nói gì, tôi gãi gãi đầu, định khoan xuống mặt băng.

“Không cần!” Tiên sinh ngăn. “Lại đi, câu chung cho vui.”
Tôi bày ghế ra ngồi đối diện tiên sinh, nhẹ nhàng thả lưỡi câu, nước khẽ xao phát ra một âm trong. Bên rừng, có tiếng đập cánh của loài chim nào không rõ.

“Chẳng phải hồng nhạn đâu.” Tiên sinh nói. “Mùa này chúng bay về phương Nam trốn tuyết hết rồi. Bình thường chúng làm tổ quanh hồ này.” Ông ngập ngừng giây lát. “Có khi nào chúng bay đến tận quê hương ta không?” Đôi mắt tiên sinh nhìn xa xăm như thể quên đi sự hiện diện của tôi rồi như chợt thấy mình thất lễ, ông hỏi: “Về làng này khi nào?”
“Dạ, tuần trước.”
“Chú làm nghề chi?”
“Dạ, giáo viên toán.”
Tiên sinh gật gù: “Vậy là tôi biết chú dạy trường chi rồi. Chú thay vị trí của ông Herman mới mất tháng trước. Hồi còn sống ổng cũng là bạn câu của tôi.”
Có một khoảng lặng kéo dài, thời gian như hóa tượng cùng cái lạnh để tiên sinh phải xoa tay khẽ khàng hỏi tôi cho bớt giá băng:
“Tôi hỏi câu này mong chú đừng giận. Sao chú lại chọn làm giáo viên.”
“Tôi mê thơ Rilke nên mới tìm đến nước Đức này. Nhưng qua thời gian tôi nhận ra mình chẳng có tài. Từ ngữ là một thứ gạch dùng để xây tường đắp lũy. Tôi không nắm bắt được, tôi chỉ tạo ra nhiều hiểu lầm thêm bằng thứ từ ngữ vụng về. Tôi đã mơ thành thi sĩ, thành văn nhân, cuối cùng tôi nhận ra mình ngộ nhận nhiều thứ, về tài năng, về cuộc đời. Trong toán học, người ta nói cùng một ngôn ngữ. Không có sự ngộ nhận. Nhưng tôi cũng chẳng là nhà toán học có tài, nên thôi, tôi đi dạy vậy.”

Tiên sinh gật gù. Từ đó đến cuối buổi ông không hỏi tôi thêm câu nào nữa. Lúc chia tay, chúng tôi trao đổi số điện thoại. Ít lâu sau, tiên sinh gọi hẹn tôi đến nhà chơi.

Ông ở một nơi hẻo lánh, tách mình khỏi khu dân cư. Một căn nhà gỗ rộng lớn, treo đầy tranh vẽ. Bây giờ, tôi mới biết tiên sinh là một họa sĩ thành danh. Tôi đồ rằng, phần lớn tranh của ông được vẽ trong lúc say. Cái thần thái tửu đồ đã đi vào hội hoạ, xô lệch cả nét bút, màu sắc lững thững nối nhau không theo lớp lang, cũng không rõ ông muốn truyền tải thông điệp gì trong những họa phẩm.
“Rốt cuộc làng ấy cũng sản sinh ra một nhà nghệ thuật.” Tôi hỏi, sau khi nghe ông kể về cái làng thiếu vắng vĩ nhân của mình.
“Nhưng tôi chẳng thể nào đem cái làng ấy vào tranh của mình được. Tôi có thể vẽ chính xác từng chi tiết, tôi có thể vẽ bức tranh khổng lồ về mọi cảnh mọi người trong cái làng ấy. Nhưng tôi không diễn tả được cái không của nó. Sự thiếu vắng đến dị kỳ tôi nói với cậu nãy giờ, tôi chẳng làm sao dùng tranh vẽ để người khác hiểu được”.

Bây giờ đang là tiết đông chí, tôi cùng tiên sinh uống rượu nhưng không bàn về những cuộc chia ly như trong một bài thơ xưa. Tiên sinh đã đi khắp đông khắp tây, đã ngủ ở những khách sạn lộng lẫy nhất Nữu Ước đã đến thăm các lâu đài, cung điện ở vùng Địa Trung Hải. Nhưng lại bị ám ảnh bởi cái làng nghèo chịu không ai nhớ nổi tên ở miền Tây.

Tôi muốn nói với tiên sinh rằng cái làng của ông chẳng cần tranh vẽ hay bất kỳ thứ văn tự nào để lưu danh nó. Nó đã tồn tại hàng trăm năm trước khi ông ra đời và sẽ tồn tại hàng trăm năm nữa sau khi ông chết đi. Bản thân sự tồn tại dài lâu như thế đã chứng tỏ mọi điều hẳn hữu lý. Nếu trong toàn cái xứ ấy ai cũng trọng học hành, chữ nghĩa, ai cũng muốn vươn lên thành ông nọ ông kia, thì cái làng của tiên sinh đã bị xoá bỏ, sát nhập, hay vẫn là cái làng nhưng không là cái làng ám ảnh ông nữa.

Cái làng không ai nhớ nổi tên ấy, cái làng mà tiên sinh đã lục hết thư tịch chỉ tìm được đúng một dòng là Gia Long lúc bôn tẩu từng qua đấy ngủ một đêm dưới gốc đa (giờ đã bị đốn hạ, làng tiên sinh không còn gốc đa nào), vốn dĩ nó không cần làm việc kinh thiên động địa gì để cần lưu danh muôn thuở. Nó đã chấp nhận đời này kiếp này không sinh ra được vĩ nhân nào. Thậm chí rằng tôi nghĩ cái làng ấy đã cố kháng cự lại toàn thể xứ sở như một thách thức, rằng nó không cần thứ hư vinh mà ai cũng muốn, nó chứng minh không cần những hão huyền đó nó vẫn tồn tại và buộc những đứa con như tiên sinh phải nhớ về nó.

Tiên sinh ngủ gục, có lẽ nãy giờ, không từ nào trong mấy lời an ủi của tôi lọt vào tai ông. Phía sau ông, bức tranh treo ở phòng bếp, một bức tranh có màu xanh lục chủ đạo, một màu xanh lục vô cùng chói gắt không thể cắt nghĩa được. Nó có thể là một cánh đồng đang vào mùa. Những nông dân khom lưng giấu mình dưới ruộng, không ai thấy mặt và cũng không cần ai nhớ mặt. Tôi biết bức tranh này, đây là bức vẽ trong giai đoạn đầu của tiên sinh, lúc ông rời làng và quyết định chu du khắp chốn để hoàn thiện nghệ thuật của mình. Bức tranh khác hoàn toàn so với những bức về sau, nghĩa là… tôi vẫn còn nhìn ra tiên sinh vẽ gì, chứ không như những vệt màu túy lúy.

Mà thật ra thắc mắc lớn nhất của tôi, tại sao tiên sinh không hồi hương cho khuây khoả? Có lẽ cái tiên sinh đối diện, không phải cái không của ngôi làng mà là sự đầy ắp của nó trong ông. Nhiều năm xa xứ khiến ông sợ hãi nếu trở về ngôi làng và thấy nó không còn giống ký ức. Ông luôn miệng bảo rằng làng mình cái gì cũng không có, nhưng ông luôn nói với vẻ thích thú, đôi khi, không giấu chút tự hào. Mỗi người chúng tôi đều có một cái làng, ta đem theo cái làng đó trong mình, lang thang khắp chốn. Một ngày giật mình nhớ lại, nhận ra rốt cục mình chỉ như đứa trẻ, loanh quanh chơi trên đường làng.

Đến cuối mùa đông, tôi nghe tin tiên sinh bước hụt chân xuống hố băng. Chẳng rõ người dạn dày kinh nghiệm như ông vì sao lại không ý thức được rằng lớp băng trên hồ đã tan mỏng đi nhiều lắm.
Tôi vẫn thường nghĩ về cái hố tiên sinh rơi xuống, nó cứ rộng ra mãi trong tâm tri tôi cho đến lúc thành một thứ hư vô, và đi đến tận cùng hư vô ấy một ngôi làng hiện ra. Không ngủ được, tôi ra khỏi phòng, trên bàn bếp của một người nhà quê Việt Nam sống ở thôn làng của nước Đức, tôi bắt đầu gõ chầm chậm:
Ngày xửa… ngày xưa… [Không, mở đầu vậy thì hơi rập khuôn. Xoá, xoá]… Tôi nghe kể có một cái làng ở miền Tây…

Bài liên quan
  • Dưới bóng cây mận già
    Năm ấy, một ngày đầu mùa hè, con ngựa bạch xuất hiện ở cổng nhà tôi với hai cái sọt to tướng đầy măng rừng trên lưng. Chở nặng, và bị cột vào gốc cây, con ngựa đứng im, đầu hơi cúi xuống trầm tư. Cái đuôi dài xác xơ thi thoảng vẩy lên đuổi một con ruồi vô ý.
(0) Bình luận
  • Nhà phố
    Mắt nhắm mắt mở, Thao còn nằm trên giường đã nghe tiếng cãi vã nhau oang oang. Rõ ràng Thao đóng cửa kính mà âm thanh chát chúa từ dãy nhà phía sau vẫn giội vào rát cả tai. Cái xóm phố toàn nhà bốn tầng, ô tô hạng sang vây kín khoảng đất trống, ấy thế lời tuôn ra chả kém cạnh mấy kẻ côn đồ khi xô xát. Tiếng đồ đạc vung ra sân loảng xoảng.
  • Tiếng hát trong vỏ ốc
    Đêm. Run rủi thế nào hai người phụ nữ ấy lại gặp nhau ngay trên bãi cát. Biển về khuya vắng lặng. Những cặp tình nhân thậm chí cũng đã rời đi vì gió trời bắt đầu trở lạnh. Cô đang giẫm lên dấu chân xiêu vẹo của người phụ nữ đi trước mình. Người đàn bà ấy chậm rãi từng bước, dáng đi có phần nghiêng ngả như một kẻ say.
  • Quà trung thu của ba
    Khoa đang rất vui vì lần đầu tiên được cùng ba tự tay làm đồ chơi Trung thu. Những năm trước, cậu cũng có đèn lồng, đầu lân nhưng đều là quà mẹ mua sẵn vì ba phải đi công tác. Năm nay, ba được nghỉ phép, liền rủ Khoa cùng làm đầu lân bằng tre và giấy báo cũ.
  • Đôi mắt xuyên bão
    Buổi sáng đầu thu, gió vương chút lạnh và lá trên hàng sấu trước cửa văn phòng Hương bắt đầu úa vàng. Hương pha một ấm trà sen. Thói quen ấy cô đã giữ suốt bao năm cho dù cô chẳng nghiện.
  • Chuyện người đàn bà
    Chín năm về trước, vào khoảng chiều tối, anh phó công tố viên Py-ốt-tơ-rơ Xia-rơ-dếch và tôi ngồi xe ngựa băng qua đồng cỏ đang mùa phơi để đưa mấy lá thư từ trạm về.
  • Sau bão
    Tiếng ấm đun sôi ùng ục. Chị toan mở nắp, chợt nghe có tiếng bước chân. Lại thế. Bà Thịnh giật lấy quả trứng khỏi tay chị. Bà miết ngón trỏ lên vỏ trứng nhẵn bóng như muốn truyền vào đó một thứ nôn nóng khó tả, rồi đập vỡ bằng cái bực dọc đang hừng hực dâng lên. Chẳng ai được ăn quá hai quả trong tuần. “Mì còn dư, lại muốn trương ra rồi húp?” - bà liếc sắc lẹm, ánh nhìn như lưỡi móc câu thọc thẳng vào miệng cá.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Trung tâm Hội nghị Quốc gia sẵn sàng cho Đại hội XIV của Đảng
    Hướng về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, nhiều tuyến phố và không gian công cộng tại Hà Nội được trang hoàng rực rỡ cờ hoa, pano, áp phích, thể hiện niềm tin, kỳ vọng và tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
  • Dấu ấn Việt Nam trên bản đồ di sản thế giới
    Với cách tiếp cận toàn diện và hệ thống, cuốn sách “Dấu ấn Việt Nam trên bản đồ di sản thế giới” (NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2026) đã khắc họa rõ nét bức tranh toàn cảnh về 50 di sản tiêu biểu của Việt Nam, phản ánh sinh động sự phong phú, đa dạng và chiều sâu giá trị của kho tàng di sản quốc gia.
  • Thêm hiểu, thêm yêu Hà Nội qua những hồi ức dung dị một thời
    Tiếp nối thành công của ba tập sách "Chuyện người Hà Nội", Công ty TNHH Sách và Truyền thông Việt Nam (Tri Thức Trẻ Books) liên kết với Nhà xuất bản Hà Nội vừa ra mắt bạn đọc cuốn “Chuyện người Hà Nội” - tập 4. Ấn phẩm dày gần 300 trang, tuyển chọn những câu chuyện, kỷ niệm bình dị mà thân thương, khơi dậy nỗi nhớ, tình yêu Hà Nội.
  • Phường Cửa Nam rực rỡ cờ hoa chào mừng Đại hội XIV của Đảng
    Hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, nhiều địa phương trên địa bàn Hà Nội, trong đó phường Cửa Nam những ngày này đã rực rỡ cờ hoa để chào mừng sự kiện trọng đại của đất nước.
  • Gắn biển công trình Trường THCS Hoàng Mai chào mừng Đại hội XIV của Đảng
    Chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, ngày 17/1, phường Hoàng Mai tổ chức gắn biển công trình cấp Thành phố đối với dự án xây dựng Trường THCS Hoàng Mai.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội trang hoàng rực rỡ chào mừng Đại hội XIV của Đảng
    Hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra từ ngày 19 đến 25/1, không khí chào mừng thể hiện rõ qua hệ thống cờ, băng rôn, panô, áp phích... được bố trí đồng bộ trên các tuyến phố và khu dân cư.
  • Khai mạc chương trình "Tết Việt - Tết Phố" 2026
    Sáng 17/1, tại Trung tâm Văn hóa nghệ thuật (số 22 Hàng Buồm, Hà Nội), hoạt động văn hóa mừng Đảng, mừng xuân Bính Ngọ 2026 với chủ đề “Tết Việt - Tết Phố” đã chính thức khai mạc, đưa công chúng và du khách trở lại không gian Tết truyền thống trong lòng khu phố cổ và khu vực hồ Hoàn Kiếm.
  • Đưa các loại hình nghệ thuật chất lượng, giàu giá trị thẩm mỹ đến gần hơn với đông đảo công chúng
    Tiếp nối thành công và sức lan tỏa tích cực từ chương trình "Âm nhạc cuối tuần", Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội tiếp tục giới thiệu tới công chúng Thủ đô chương trình "Tạp kỹ cuối tuần", diễn ra vào lúc 19h30 ngày 18/1, hứa hẹn mang đến một không gian nghệ thuật đa sắc, gần gũi và giàu tính trải nghiệm.
  • Điểm đến tiếp cận di sản văn chương của nhà văn Tô Hoài giữa lòng Hà Nội
    Với hàng trăm hiện vật, tư liệu, hình ảnh và tác phẩm gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp cầm bút của nhà văn Tô Hoài (1920 – 2014), Nhà lưu niệm nhà văn Tô Hoài (số 21B ngõ Đoàn Nhữ Hài, phường Cửa Nam, TP. Hà Nội) hứa hẹn là điểm đến văn hóa dành cho công chúng tiếp cận di sản văn chương của nhà văn Tô Hoài.
  • Hòa nhịp với "Ngẫu hứng Tây nguyên" cùng "Âm nhạc cuối tuần" chiều ngày 18/1
    Chiều Chủ nhật ngày 18/1, "Âm nhạc cuối tuần" tiếp tục mở ra một cuộc hẹn âm nhạc mới, nơi jazz trở thành ngôn ngữ chung kết nối con người với không gian đô thị. Bên cạnh các tác phẩm quốc tế, điểm nhấn của buổi biểu diễn là những sáng tác và ca khúc gắn với Việt Nam như "Hà Nội mùa vắng những cơn mưa" với phần solo saxophone và "Ngẫu hứng Tây Nguyên", cho thấy khả năng kết hợp giữa jazz với âm hưởng truyền thống.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Tiếng “tút tút” cuối cùng (Kỳ 2)
    Xóm Tìm nằm nép mình bên dòng sông Trà Lý, nơi bầu trời dường như sà xuống thấp hơn, và mùi bùn non cứ thế quyện vào hơi thở, vào máu thịt của những người dân lam lũ. Ở cái xóm nhỏ ven đê này, mỗi buổi sáng, vào lúc sáu giờ, một chuỗi âm thanh quen thuộc “tút tút…” lại vang lên từ chiếc loa truyền thanh của xã đặt trên đỉnh cột làm từ một cây xoan già.
  • Ra mắt Không gian văn hóa Trấn Vũ quán
    Phường Ba Đình đã ra mắt Không gian văn hóa - Trấn Vũ quán tại di tích đền Quán Thánh, sự kiện càng có ý nghĩa hơn khi Thủ đô đang tràn ngập không khí vui tươi của những ngày đầu năm mới, chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và chuẩn bị đón Tết cổ truyền của dân tộc
  • Độc đáo Lễ hội A Riêu Ngọi Đung của người Pa Cô
    Người dân Pa Cô vùng cao A Lưới phụng dựng và tái hiện lại Lễ hội A Riêu Ngọi Đung - Lễ mừng nhà mới tại Làng Văn hóa các dân tộc xã A Lưới 3 (TP Huế).
  • Ga Hà Nội - điểm hẹn của hội họa và mùa xuân
    Từ ngày 14/1/2026 đến ngày 12/2/2026 tại Sảnh tầng 2, Ga Hà Nội (số 120 Lê Duẩn) diễn ra Triển lãm “Mừng Đảng - mừng Xuân Bính Ngọ” do Câu lạc bộ Sáng tác đề tài Xây dựng Tổ quốc - Hội Mỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng công ty Đường sắt Việt Nam tổ chức. Triển lãm mang đến một không gian nghệ thuật đặc biệt ngay giữa nhịp chuyển động của đời sống đô thị, nơi hội họa hòa quyện cùng hơi thở mùa xuân.
  • Khai quật khảo cổ Nền nhà Pháo binh tại Hoàng thành Thăng Long
    Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Đạo Cương đã ký Quyết định số 51/QĐ-BVHTTDL ngày 10/1/2025 về việc cho phép khai quật khảo cổ Nền nhà Pháo binh tại Hoàng thành Thăng Long.
Hố băng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO