Góc nhìn

Đổi mới thi ca cũng không được xa lạ với con người

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến 29/10/2024 07:36

Cuộc đối thoại của nhà thơ với thời đại trong thơ ca mang lại hy vọng, nâng cao giá trị con người ngay cả trong thời điểm bi tráng nhất của lịch sử hoặc thời khắc đau khổ nhất của mỗi một số phận. Một nhà thơ đích thực phải biết dùng ngôn ngữ của thơ để chạm vào tâm hồn con người. Không chỉ bằng sự phá vỡ sắc cạnh của lý trí, ngôn ngữ đó cần có thêm cảm xúc của trái tim - những cảm xúc được tái hiện từ chất liệu đời thường.

anh-3-tuyen-tap-tho-va-truong-ca-cua-nha-tho-nguyen-viet-chien..jpg

Tài năng và bản lĩnh thi ca phải được thử thách qua thời gian

Sự thật khắc nghiệt, những day dứt đời thường mà nhà thơ phải nếm trải đã dội đập vào trái tim họ đến tức ngực - làm thơ họ bừng tỉnh. Ngòi bút thơ của họ chủ động hơn, tìm tòi vươn tới bề sâu của những vỉa tầng còn ẩn khuất trong đời sống tâm trạng và tinh thần con người, từ đó khai thác và hướng tới những hiệu quả nghệ thuật mới. Khi khắc họa được những nỗi đau, mất mát, thơ đương đại thấm thía và lay động lòng người hơn.

Có thể nói, để có thể thành công trên con đường đầy khó khăn, gian truân của thi ca đích thực, một nhà thơ không thể thiếu tài năng và bản lĩnh. Hai phẩm chất đặc biệt này chưa dễ dàng có ngay được mà phải được mài giũa, trui rèn qua thời gian. Ở góc nhìn sâu hơn, tài năng, bản lĩnh của người viết còn phụ thuộc vào vốn sống và năng lượng sáng tạo nghệ thuật của họ.

Với tôi, để có được tài năng, bản lĩnh thơ là cả một chặng đường sống, viết và trải nghiệm khá dài qua hai mươi năm cầm bút. Các bài thơ đầu tiên tôi in trên báo từ những năm 1969 - 1970 khi đang là học sinh cấp III trường Chu Văn An, Hà Nội rồi vào bộ đội. Nhưng thời gian dài sau đó, tôi chỉ lặng lẽ viết, lặng lẽ thể nghiệm thi ca mà không in ấn. Đến năm 1989 - 1990, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, trong cuộc thi thơ của báo Văn nghệ, tôi mới lặng lẽ gửi “mấy ki-lô-gam thơ” (gần 100 bài thơ và trường ca tôi viết từ hồi chiến tranh trong hai chục năm).

Và sau 2 chùm thơ 6 bài in trên báo Văn nghệ, tôi đã được trao giải Nhì của cuộc thi thơ này. Trong cuộc thi thơ ấy, khi đọc thơ và trường ca của tôi nhà thơ Bế Kiến Quốc đã nhận xét “đến cuộc thi thơ này Nguyễn Việt Chiến mới công bố các “vỉa quặng thơ” còn khuất chìm trong nhiều năm”.

Trước đây, thơ tôi khắc họa nỗi đau chiến tranh với cái nhìn của một nhà thơ yêu nước muốn được sẻ chia với những mất mát, đau thương của dân tộc mình. Sau này, thơ tôi nghiêng về phía khắc họa nỗi buồn của con người thời hậu chiến trong đời sống đô thị công nghiệp hóa đang làm tổn hại thiên nhiên và nghiền vụn thời gian - văn hóa của con người. Nói tóm lại, số phận con người cùng với những khát khao, dằn vặt, yêu thương, đau đớn và mơ ước, hy vọng của họ chính là mối quan tâm lớn nhất của thơ tôi.

Từ thơ siêu thực đến thơ… “siêu” vẹo

Tôi muốn nhắc đến một tài năng thơ, một bản lĩnh thơ rất đặc biệt, đó là nhà thơ Phạm Tiến Duật. Đây là một tài năng thi ca độc đáo, thông minh và rất giàu kiến văn mà tôi đã có một số lần được trò chuyện với ông.

Bàn về giá trị của vần trong thơ ca, nhà thơ Phạm Tiến Duật cho rằng: “Đã từ lâu rồi trên phạm vi toàn cầu, người ta chẳng coi vần là gì cả. Những câu định nghĩa theo kiểu “Thơ là một loại hình văn học sử dụng hình ảnh, vần điệu, nhịp điệu để biểu đạt một tư tưởng, tình cảm nào đó” xem ra quá lạc hậu rồi. Tuyển tập thơ tình Pháp thế kỷ XX có một bài rất ngắn, chẳng những không có vần mà hình ảnh cũng không: “Cao hơn sự đói là sự rét/ Cao hơn sự rét là sự ốm/ Cao hơn sự ốm là sự chết/ Cao hơn sự chết là sự bị bỏ quên”. Đa số người làm thơ không vần ngày một đông lên nhưng không vì thể mà thơ vần điệu ở ta và ở “Tây” nữa mất đi”.

Phạm Tiến Duật cũng đặt ra câu hỏi rất thú vị: “Vần là một hiện tượng ngôn ngữ kỳ diệu. Vần là quầng sáng chói lọi của tiếng nói và trong sự cuốn đi của dòng âm thanh, vần đọng lại trong trí nhớ con người một cách mạnh mẽ. Về mặt ý nghĩa, vần không chỉ tham gia vào thơ như một yếu tố hình thức và còn tham gia trực tiếp vào tôn vinh nội dung nữa. Vần tồn tại trong điệu và do vậy vần tạo nên nhạc. Có lẽ, đến một ngày nào đó, nhân loại tuyên bố sẽ tiêu diệt hoàn toàn câu thơ có vần thì người ngồi ngẩn ngơ buồn trước nhất là ông nhạc sĩ viết ca khúc. Có phải thế không?”.

Sau khi tôi được trao giải Nhì trong cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1989 - 1990, nhà thơ Phạm Tiến Duật (Ban chung khảo) thân mật chia vui với tôi: “Bài thơ Mưa phố vào tranh của chú được chấm điểm rất cao, mấy đoạn thơ có chút màu sắc siêu thực như: “Mưa bay chéo mặt tranh mờ xóa/ Cả vòm trời loang chảy màu sơn/ Những ngôi nhà như đang trượt ngã/ Gọi dìu nhau ở phía bên đường”.

Tôi thú thật: “Dạ, lúc viết bài này, em không nghĩ tới thi pháp siêu thực đâu ạ!”. Phạm Tiến Duật cười, chơi chữ: “Chú không nghĩ tới thì thơ mới thành siêu thực, còn nếu chú mà chủ ý thì nó thành “siêu” vẹo ngay! Vì siêu thực tồn tại khách quan bên cạnh hiện thực như cái say tồn tại khách quan bên cạnh cái tỉnh. Về bút pháp siêu thực thì thời nào cũng có, câu ca dao: “Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu đời đắng cay” là câu có màu sắc siêu thực đấy! Phải truy tìm cái mới. Thơ gì cũng được, thơ siêu đẳng, thơ siêu việt, thơ siêu thực… cốt đừng thành thơ “siêu” vẹo là được”.

Bàn tiếp về tính siêu thực trong thơ, Phạm Tiến Duật phân tích hóm hỉnh: “Thơ của nhóm Xuân thu nhã tập thường được bảo rằng đó là thơ siêu thực nhưng lại rất ít chất siêu thực. Câu “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà” là câu chuyện kể hết mùa ổi đến mùa táo, có gì mà siêu thực? Câu “Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm” là câu văn tả thực, đẹp, nõn. Thế thôi! Tuy không phải siêu thực mà nó cũng không sa vào “siêu” vẹo. Cứ như Chế Lan Viên lại là người có nhiều câu siêu thực kỳ lạ. Mười sáu tuổi ông đã viết “Ý của ai trú ẩn ở đầu ta” và câu này ở chặng đường sau: “Anh nhớ em như đông về nhớ rét”. Không thể sâu sắc hơn được mà cũng không thể giản dị hơn được”.

Trao đổi về công cuộc đổi mới thơ ngày hôm nay khi không ít nhà thơ đã cho ra đời một số công trình có tính thử nghiệm nhưng chưa đạt hiệu quả, nhà thơ Phạm Tiến Duật thận trọng khi đưa ra quan điểm. Ông cho rằng: “Nếu suy ngẫm kỹ, thấy đòi hỏi thơ cần “lột xác” nhanh chóng là đòi hỏi quá đáng. Chỉ vì một lẽ giản dị: văn học là bộ phận trừu tượng nhất trong tất cả các bộ môn văn nghệ. Hội họa còn là vật chất của hình học và hạt proton của ánh sáng. Âm nhạc còn là vật chất của các bước sóng âm thanh. Tiếng nói và chữ viết là đỉnh cao của khả năng trừu tượng. Vậy nên các nhà thơ cần đổi mới nhưng đừng quá nôn nóng kẻo tự làm hỏng sản phẩm tinh túy của chính mình”.

Theo tôi, với bản lĩnh của người làm thơ, viết về Tổ quốc, về đất nước là đề tài muôn thuở có tính văn hóa - lịch sử và luôn gợi lên cho các nhà thơ rất nhiều nguồn cảm hứng. Ở mỗi thời đại, thời điểm khác nhau, mỗi một thế hệ nhà văn (hoặc mỗi một người sáng tạo) đều tìm đến sự khái quát và tiếng nói riêng của mình trong những sáng tác về đề tài lớn lao, thiêng liêng này. Chính vì vậy, thi ca luôn phải đổi mới cách viết, phải luôn cách tân ngay cả với dạng đề tài có tính lịch sử - chính trị thì mới làm nên bản sắc đa dạng, đa diện và sâu sắc của thi ca Việt Nam qua mấy ngàn năm trường tồn cùng non sông này.

Ngay trong 2 bài thơ về đề tài lớn là “Thời đất nước gian lao” và “Tổ quốc nhìn từ biển”, tôi cũng đã cố gắng đưa ít, nhiều vào trong đó cái nhìn mới có hướng sáng tạo cho những hình tượng thơ được xây dựng xung quanh trục lịch sử - đất nước - con người.

Điều quan trọng nhất: Tuy phải đổi mới nhưng thi ca không được phép xa lạ với con người./.

Bài liên quan
  • Lý luận, phê bình sân khấu: Thực trạng và giải pháp
    Lý luận, phê bình sân khấu là một chuyên ngành khoa học mang trong mình cả lý luận lẫn phê bình. Tức là, phê bình bằng lý luận và lý luận để phê bình. Lý luận là kết quả của quá trình mà con người đúc kết ra kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật sân khấu, mang tri thức khách quan về những quy luật vận động, phát triển của hiện thực nghệ thuật sân khấu.
(0) Bình luận
  • Nhà văn Hoàng Quốc Hải: “Một nhà văn đúng nghĩa phải đồng thời là một nhà văn hóa”
    Nhà văn Hoàng Quốc Hải sinh năm 1938 tại Hải Dương là một trong những cây bút tên tuổi của văn học Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực tiểu thuyết lịch sử. Trước khi chuyên tâm sáng tác, ông từng là phóng viên báo Vùng mỏ (nay là báo Quảng Ninh), rồi làm biên tập viên tập Sáng tác Hà Nội - tiền thân của tạp chí Người Hà Nội. Với sự nghiệp trải dài hơn nửa thế kỷ, ông đã để lại dấu ấn sâu đậm qua hai bộ tiểu thuyết đồ sộ “Tám triều vua Lý” và “Bão táp triều Trần”. Những tác phẩm này không chỉ tái hiện chân thực lịch sử dân tộc mà còn thể hiện tình yêu sâu sắc của ông đối với Hà Nội - mảnh đất nghìn năm văn hiến. Hãy cùng lắng nghe nhà văn chia sẻ về hành trình sáng tác, những trăn trở về đề tài lịch sử và lời nhắn gửi tâm huyết đến thế hệ trẻ yêu nghề viết.
  • Nhà văn Tô Hoài: Người “thuyền trưởng” tâm huyết và bản lĩnh
    Trong chặng đường 40 năm của Tạp chí Người Hà Nội, dấu ấn của nhà văn Tô Hoài - Tổng Biên tập đầu tiên vẫn luôn hiện hữu sâu đậm. Không chỉ là người đặt nền móng, định hướng phát triển cho tờ báo, ông còn là người truyền cảm hứng về một cách làm báo cẩn trọng, tinh tế, nhân văn và tràn đầy trách nhiệm.
  • Người Hà Nội trong tôi
    Suốt hành trình 40 năm xây dựng và phát triển, Người Hà Nội luôn nhận được sự đồng hành, đóng góp các cây bút thuộc nhiều thế hệ, trong và ngoài nước, từ chuyên nghiệp đến không chuyên. Qua mỗi bài viết, họ đã mang đến những góc nhìn, cảm xúc mới mẻ góp phần gìn giữ bản sắc riêng của tạp chí. Dưới đây là những chia sẻ chân thành của một số cộng tác viên về kỷ niệm và sự gắn bó sâu sắc mà họ dành cho tạp chí Người Hà Nội trong suốt những năm qua.
  • Vài kỉ niệm với tập “Sáng tác Hà Nội”
    Chi hội Văn nghệ Hà Nội (sau là Hội Văn nghệ Hà Nội - tiền thân của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội) được thành lập vào tháng 10 năm 1966.
  • Người Hà Nội - 40 năm đồng hành với văn nghệ sĩ Thủ đô
    Tạp chí Người Hà Nội tiền thân là ấn phẩm Sáng tác Hà Nội do Chi hội Văn nghệ Hà Nội (nay là Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội) phát hành từ năm 1967. Ngay từ thuở ban đầu, ấn phẩm là một diễn đàn nhỏ nhưng có sức sống mạnh mẽ, nhanh chóng trở thành nơi quy tụ các sáng tác của văn nghệ sĩ Hà Nội.
  • "Người Hà Nội" đã và đang làm tốt sứ mệnh lan tỏa văn hóa Thủ đô ngàn năm văn hiến
    "Người Hà Nội" sẽ mừng "sinh nhật" tuổi 40 vào ngày 8/5/2025. Chặng đường 40 năm xây dựng và phát triển, Người Hà Nội đã có được một “hệ thống” cộng tác viên là văn nghệ sỹ ở nhiều lĩnh vực: văn học, mỹ thuật, nhiếp ảnh, điện ảnh, lý luận phê bình;… các nhà báo, nhà nghiên cứu, nhà khoa học hàng đầu Thủ đô và cả nước.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
  • Phường Ô Chợ Dừa mở không gian “Xuân an khang” cùng chợ hoa Xuân đón Tết Bính Ngọ 2026
    Thông tin UBND phường Ô Chợ Dừa (TP. Hà Nội) vừa cho biết, địa phương sẽ tổ chức không gian quảng bá “Xuân an khang” kết hợp chợ hoa xuân Tết Bính Ngọ 2026 tại sân vận động Hoàng Cầu (phường Ô Chợ Dừa), để phục vụ nhu cầu mua sắm, vui xuân, đón Tết của nhân dân và du khách.
  • Trưng bày chuyên đề "Long Mã khai văn" chào xuân Bính Ngọ 2026
    Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026) và mừng thành công của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, mừng năm mới Bính Ngọ 2026, sáng ngày 03/02, Bảo tàng Hà Nội tổ chức khai mạc chuyên đề "Long Mã khai văn" và nội dung trưng bày thường xuyên.
  • "Xuân quê hương" tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
    Từ ngày 1 đến 28/2/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra các hoạt động tháng 2 với chủ đề "Xuân quê hương", giới thiệu các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ (2026).
  • Lễ mở cửa Ô - Khởi đầu mùa Xuân Thăng Long - Hà Nội
    Theo thông tin từ Ban Quản lý hồ Hoàn Kiếm và Phố cổ Hà Nội, sáng 8/2 (tức 21 tháng Chạp năm Ất Tỵ), tại khu vực hồ Hoàn Kiếm và Phố cổ Hà Nội, diễn ra hoạt động dâng lễ trong khuôn khổ chương trình “Tết Việt - Tết Phố” Xuân Bính Ngọ 2026.
  • Chuỗi sự kiện, lễ hội đẩy mạnh các trải nghiệm “Tết của người Hà Nội”
    Nhằm thu hút và đón khách du lịch đến Thủ đô Hà Nội dịp Tết Nguyên đán, Sở Du lịch Hà Nội đẩy mạnh quảng bá, kích cầu du lịch thông qua chuỗi các hoạt động, sự kiện, lễ hội, không gian văn hoá, nghệ thuật Tết mang bản sắc Hà Nội. Các trải nghiệm “Tết của người Hà Nội” gắn với gia đình, làng nghề, sản phẩm đặc trưng của Thủ đô; các chương trình du lịch di sản, ẩm thực, cộng đồng…
  • Hà Nội lọt top 2 điểm đến được yêu thích nhất châu Á 2026
    Trong bảng xếp hạng năm nay, Hà Nội chỉ đứng sau Bali (Indonesia) – điểm đến dẫn đầu châu Á, Bangkok (Thái Lan) xếp ở vị trí thứ ba. Các điểm đến nổi tiếng khác như Siem Reap (Campuchia) và Tokyo (Nhật Bản) cũng góp mặt trong top 5.
  • Tiếp nối dòng chảy jazz trong không gian cộng đồng chiều ngày 1/2
    Từ 15h30 đến 17h ngày 01/02, tại Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục diễn ra với một buổi biểu diễn jazz được xây dựng theo hướng mở, kết nối những giai điệu quen thuộc của thế giới với các sáng tác Việt Nam giàu cảm xúc.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Dưới bóng cây mận già
    Năm ấy, một ngày đầu mùa hè, con ngựa bạch xuất hiện ở cổng nhà tôi với hai cái sọt to tướng đầy măng rừng trên lưng. Chở nặng, và bị cột vào gốc cây, con ngựa đứng im, đầu hơi cúi xuống trầm tư. Cái đuôi dài xác xơ thi thoảng vẩy lên đuổi một con ruồi vô ý.
  • Phát động Cuộc thi ảnh mùa Xuân Bính Ngọ 2026
    Cuộc thi ảnh Mùa xuân Bính Ngọ 2026 của Hội Nhiếp ảnh TP Hồ Chí Minh khuyến khích các tác phẩm giàu tính khoảnh khắc, nhân văn, có góc nhìn mới.
  • UNESCO gửi thông điệp chúc mừng Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam
    UNESCO cho rằng, đây là một văn kiện đặc biệt quan trọng, thể hiện sự chuyển đổi tư duy phát triển, theo đó văn hóa không chỉ là một lĩnh vực bổ trợ, mà là một trong bốn trụ cột đồng đẳng của phát triển bền vững, bên cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.
Đổi mới thi ca cũng không được xa lạ với con người
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO